Luận văn: Định giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp - Pdf 11


Luận văn
Định giá doanh nghiệp
NN trong quá trình CPH tại
VN: Thực trạng và giải pháp
Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU: 1
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT CỦA CỔ PHẦN HOÁ VÀ LÝ LUẬN
CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
I.1. Quá trình hình thành phát triển của DNNN ở Việt Nam 4
I.2. Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN hiện nay 6
I.3. Sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hoá DNNN 9
I.3.1. Mục tiêu cổ phần hoá 9
I.3.2. Quy trình cổ phần hoá 10
I.3.3. Nội dung cổ phần hoá 10
I.4. Doanh nghiệp và giá trò doanh nghiệp 13
I.4.1. Doanh nghiệp và các giá trò đặc trưng của doanh nghiệp 13
I.4.2. Khái niệm giá trò doanh nghiệp 15
I.4.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trò DN 15
I.4.4. Xác đònh giá trò doanh nghiệp 24
I.5. Phương pháp xác đònh giá trò doanh nghiệp trong cơ chế thò trường 26
I.5.1. Phương pháp xác đònh giá trò DN theo giá trò tài sản thuần 27
I.5.2. Phương pháp hiện tại hoá các nguồn tài chính tương lai 31 SVTH: Lê Trần Phương Linh

II.2.15. Giai đoạn từ cuối năm 2004 đến nay 59
II.2.2. Những hạn chế về khâu đònh giá Doanh nghiệp hiện nay 61
II.2.2.1. Phương pháp xác đònh giá trò DN còn nhiều hạn chế 62
II.2.2.2. Khó khăn trong việc tính giá trò quyền sử dụng
đất khi đònh giá 63
II.2.2.3. Không thể tính chính xác giá trò tài sản vô hình 64
II.2.2.4. Vướng mắc xung quanh việc xử lý tài chính; ưu đãi người lao
động 65
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐẨY NHANH TỐC ĐỘ CPH VÀ HOÀN
THIỆN PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP
III.1. Quan điểm về Cổ phần hoá và đònh giá DNNN tại Việt Nam hiện
nay 68
III.2. Giải pháp đẩy nhanh tốc độ CPH 69
III.2.1. Quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách và giải pháp
đổi mới DN 70
III.2.2. Xác đònh tiêu chí lựa chọn DNNN thực hiện CPH 70
III.2.3. Giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm 71
III.2.4. Tích cực giải quyết các khoản nợ của DN 71
III.2.5. Hoàn thiện chính sách CPH 73
III.2.6. Tăng cường tổ chức, chỉ đạo đối với công tác CPH 74
III.2.7. Kết hợp giữa TTCK và CPH DNNN 75
III.2.8. Chính sách đối với cán bộ lãnh đạo DN khi CPH 76
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 3

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
III.2.9. Tăng cường hoạt động kiểm toán đối với DNNN thuộc CPH 77
III.2.10. Hoàn thiện chính sách bán cổ phần cho đối tác nước ngoài 77
III.3. Những biện pháp hoàn thiện đònh giá doanh nghiệp 78

giữa các doanh nghiệp càng sâu sắc, đòi hỏi sự cơ cấu lại theo hướng hợp nhất,
mua bán diễn ra thường xuyên đòi hỏi phải xác đònh giá trò của doanh nghiệp
làm cơ sở cho những hoạt động đó.
Tuy nhiên do đặc tính doanh nghiệp là một hàng hoá đặc biệt bao gồm
nhiều bộ phận cấu thành, cả những bộ phận hữu hình như tài sản vật tư, nhà
xưởng, cả những bộ phận vô hình như danh tiếng, mối quan hệ các khâu trong
doanh nghiệp, cũng như giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài, năng lực
của lãnh đạo và nhân viên và tính đơn chiếc của doanh nghiệp nên việc xác đònh
giá trò doanh nghiệp là một việc phức tạp.
Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới theo hướng phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thò trường có đIều tiết của nhà nước, thì
sự chia tách, sáp nhập, liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm tăng sức
mạnh trên thò trường diễn ra khá phổ biến. Trong khu vực kinh tế quốc doanh,
chủ trương của nhà nước là: đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng
cao hiệu quả các doanh nghiệp theo hướng chỉ giữ 100% vốn nhà nước đối với
những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành kinh tế quan trọng đem lại số
thu lớn cho ngân sách nhà nước, đảm bảo cân đối lớn cho nhà nước còn lại tiến
hành chuyển hình thức kinh doanh, hình thức sở hữu hoặc giải thể. Tất cả những
sự kiện đó làm cho vấn đề xác đònh giá trò doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết.
Tuy nhiên việc xác đònh giá trò doanh nghiệp ở nước ta hiện nay vẫn mang
tính áp đặt vì chủ yếu việc xác đònh giá trò doanh nghiệp hiện nay gắn với cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước nên nếu không phải là nhà nước được lợi thì
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 5

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
cũng là người lao động được hưởng. Do đó vấn đề xác đònh giá trò doanh nghiệp
không chỉ cần thiết cho công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước mà trong
sự phát triển của kinh tế thò trường, đặc bòêt là khi có thò trường chứng khoán,

NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM.
Các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam được hình thành từ năm 1954 (ở
miền Bắc) và từ năm 1975 (ở miền Nam). Do hình thành từ nhiều nguồn gốc
khác nhau và được xây dựng trên cơ sở của nhiều quan điểm nên các doanh
nghiệp nhà nước ở Việt Nam có nhiều đặc trưng khác biệt so với nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới, biểu hiện ở chỗ :
• Quy mô doanh nghiệp phần lớn nhỏ bé, cơ cấu phân tán. Năm 1992 cả
nước có trên 2/3 tổng số doanh nghiệp nhà nước có số lượng lao động dưới
100 người, chỉ có 4% doanh nghiệp có số lượng lao động trên 100 người. Số
lượng lao động trong khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm tỉ trọng khá nhỏ
trong tổng số lao động xã hội khoảng 5-6%.
• Trình độ kó thuật, công nghệ lạc hậu, trừ một số rất ít (18%) số doanh
nghiệp nhà nước được đầu tư mới đây, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước
đã được sử dụng khá lâu, có trình độ kó thuật, công nghệ thấp kém so với các
nước từ 3 đến 4 thế hệ. Có doanh nghiệp còn trang bò các thiết bò kó thuật từ
năm 1939 và trước đó được xây dựng bằng kó thuật của nhiều nước khác nhau
nên tính đồng bộ của doanh nghiệp thấp. Khi chuyển sang nền kinh tế thò
trường, các doanh nghiệp khó có khả năng cạnh tranh cả trong nước và trên
thế giới.
• Việc phân bố còn bất hợp lý về ngành, vùng. Khi chuyển sang nền
kinh tế thò trường, các doanh nghiệp nhà nước không còn được bao cấp mọi
mặt như trước nữa, đã thế lại bò các thành phần kinh tế khác cạnh tranh quyết
liệt, nên nhiều doanh nghiệp không thể trụ nổi buộc phải phá sản, giải thể.
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 7

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
Đặc biệt trong những năm gần đây chúng ta đã tiến hành cải cách doanh
nghiệp nhà nước. Do đó mặc dù số lượng các doanh nghiệp đã giảm từ

Trang 8

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
nghiệp nên doanh nghiệp nhà nước chưa thể tập trung toàn lực cho yêu cầu phát
triển ở những ngành, lónh vực then chốt.
Những đặc điểm trên luôn chi phối phương hướng, bước đi, và biện pháp
trong quá trình đổi mới ở nước ta. Sau 10 năm đổi nới, các doanh nghiệp nhà
nước đã và đang chuyển hướng khá căn bản, đã sắp xếp lại một bước quan
trọng, giảm được gần một nửa số doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp đòa
phương nhỏ bé, hoạt động không hiệu quả. Số lớn doanh nghiệp còn lại được tổ
chức và từng bước phát huy quyền tự chủ trong kinh doanh làm ăn năng động và
hiệu quả. Nhưng nhìn chung các doanh nghiệp nhà nước vẫn rất còn khó khăn,
hướng kinh doanh còn thấp, nhiều doanh nghiệp vẫn làm ăn thua lỗ triền miên,
hoạt động cầm chừng. Sự đóng góp của doanh nghiệp nhà nước cho ngân sách
nhà nước chưa tương xứng với phần đầu tư của nhà nước cho nó, cũng nhưvới
tiềm lực của doanh nghiệp nhà nước tình trạng mất, thất thoát lớn về vốn đang
diễn ra hết sức nghiêm trọng, việc quản lý đối với các doanh nghiệp còn quá
yếu kém, đặc biệt là tình trạng buông lỏng quản lý tài chính làm nhà nước mất
vai trò thực sự là người chủ sở hữu, tình trạng phân hoá, chênh lệch trong thu
nhập ngày càng tăng ( có nhiều doanh nghiệp thu nhập bình quân trên 1 triệu
đồng/1 người/1 tháng, trong khi có doanh nghiệp lương công nhân không đảm
bảo nhu cầu tối thiểu ).
I.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC HIỆN NAY.
Sự ảnh hưởng nặng nề của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ
trong điều kiện cạnh tranh kéo dài sự tư duy không đúng trong một mô hình xã
hội trước đây. Tư duy đó đã chi phối đường lối xây dựng nền Kinh tế xã hội chủ
nghóa với cơ cấu chỉ có hai thành phần ( quốc doanh và tập thể ). Tư tưởng muốn
xoá bỏ nền kinh tế tư nhân và nền kinh tế cá thể, đồng nhất với mục tiêu phương
hướng xây dựng Chủ nghóa xã hội. Trước đây người ta thường xem nhẹ các quy

nghiệp còn quá thấp, lãi suất tiền vay còn cao. Trong khi khả năng cạnh tranh
của sản phẩm và kinh nghiệm kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam trên thò
trường thế giới còn quá yếu kém.
Trình độ quản lý vó mô đối với nền kinh tế nói chung, đối với doanh
nghiệp nói riêng nhìn chung còn nhiều thiếu sót, hệ thống pháp luật, chính sách
quản lý chưa hoàn chỉnh, phần lớn các văn bản pháp quy, dưới luật có nhiều quy
đònh mâu thuẫn với nhau, hệ thống toà án kinh tế chưa tổ chức kòp thời nhằm
đảm bảo nghiêm chỉnh pháp luật kinh tế. Trong hoạt động quản lý nhà nước, tệ
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 10

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
cửa quyền quan liêu, thủ tục hành chính quá phiền hà đối với doanh nghiệp và
công dân còn khá phổ biến.
Trong quá trình chuyển cơ chế quản lý, nhiều văn bản quản lý cũ đã lỗi
thời, song chưa được huỷ bỏ, những văn bản mới có nhiều sơ hở, nhưng không
kòp thời sửa đổi nên đã bò lợi dụng phục vụ lợi ích trước mắt, cục bộ của cơ sở,
ngành gây nhiều tiêu cực, vô hiệu hoá những quy đònh mới đúng đắn của nhà
nước.
Một số công tác đặc biệt quan trọng về quản lý đối với doanh nghiệp như
quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán, thanh tra, giám sát thi hành pháp luật chưa
chuyển biến kòp thời trong môi trường kinh doanh mới có lúc buông lỏng, nếu
nhà nước không nắm được thực trạng tài chính, hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp . Ngược lại có lúc, có nơi lại có nhiều thanh tra kiểm soát hoạt động của
doanh nghiệp một cách tuỳ tiện.
Trong quá trình chuyển sang cơ chế thò trường, Đảng và nhà nước chậm
và không cương quyết trong việc cải cách chế độ sở hữu trong các doanh nghiệp
nhà nước. Về mặt pháp ly, tài sản, tiền vốn trong các doanh nghiệp nhà nước
thuộc sở hữu toàn dân, nhưng trên thực té tính chất toàn dân của sở hữu bò bào

hệ sản xuất và vật liệu sản xuất. cổ phần hóa góp phần thực hiện chủ trương
đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Trước đây chúng ta xây dựng một cách
cứng nhắc chế độ công hữu, thể hiện ở một số lượng quá lớn các doanh
nghiệp nhà nước mà không nhận thấy quan hệ sản xuất này không phù hợp
với lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém, lạc hậu. Vì vậy cổ phần hóa sẽ
giải quyết được mâu thuẫn này, giúp lực lượng sản xuất phát triển.
• Thứ hai : Thực hiện cổ phần hóa nhằm xã hội hoá lực lượng sản xuất,
thu hút thêm nguồn lực sản xuất. Khi thực hiện cổ phần hóa, người lao động
sẽ gắn bó, có trách nhiệm với công việc hơn, họ trở thành người chủ thực sự
của doanh nghiệp. Ngoài ra, phương thức quản lý được thay đổi, doanh
nghiệp sẽ trở nên năng động, tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh nâng cao
hiệu quả sản xuất.
• Thứ ba : Bên cạnh đó, cổ phần hóa là một yếu tố thúc đẩy sự hình
thành và phát triển thò trường chứng khoán, đưa nền kinh tế hội nhập với kinh
tế khu vực và trên thế giới.
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 12

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
• Thứ tư : Thực hiện cổ phần hóa là một trong những giải pháp quan
trọng nhằm huy động các nguồn lực, các công ty cổ phần có điều kiện sản
xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao được khả năng cạnh
tranh trên thò trường, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
• Thứ năm : cổ phần hóa tác động tích cực đến đổi mới quản lý ở cả tầm
vó mô và vi mô. Chuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần
không những chỉ là sự thay đổi về sở hữu, mà còn là sự thay đổi căn bản
trong công tác quản lý ở cả phạm vi doanh nghiệp và ở cả phạm vi nền kinh
tế quốc dân.
• Thứ sáu : cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một giải pháp quan

xác đònh giá trò doanh nghiệp, đối tượng mua cổ phần và phân tích đánh giá thực
trạng doanh nghiệp.
I.3.3.1. Về đối tượng cổ phần hóa.
Xuất phát từ thể chế chính trò, lòch sử, để phù hợp với hoàn cảnh và điều
kiện kinh tế nước ta, đối tượng thực hiện cổ phần hóa là những doanh nghiệp
nhà nước hội tụ đủ ba điều kiện: có quy mô vừa và nhỏ ; không thuộc diện Nhà
nước giữ 100% vốn đầu tư; có phương án kinh doanh có hiệu quả hoặc tuy trước
mắt có khó khăn nhưng triển vọng tốt.
Trong ba điều kiện này, điều kiện thứ hai (doanh nghiệp không thuộc
diện nhà nước giữ 100% vốn đầu tư) được coi là quan trọng nhất bởi những
doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn đầu tư là công cụ điều tiết vó mô của Nhà
nước, là đòn bẩy kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn đònh theo đúng
hướng chủ nghóa xã hội.
I.3.3.2. Về lựa chọn hình thức tiến hành.
Theo nghò đònh này thì có 4 hình thức cổ phần hóa, ban cổ phần hoá sẽ lựa
chọn một hình thức phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và người lao
động. Các hình thức đó là:
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 14

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
- Giữ nguyên giá trò thuộc vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát
hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp.
- Bán một phần giá trò thuộc vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.
- Tách một bộ phận của doanh nghiệp để cổ phần hoá.
- Bán toàn bộ giá trò hiện có thuộc vốn nhà nước tại doanh nghiệp để
chuyển thành công ty cổ phần.
I.3.3.3. Khâu xác đònh giá trò doanh nghiệp
Đây là một khâu quan trọng và thường chiếm nhiều thời gian, công sức

Các đối tượng được mua cổ phần đó là: các tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội, công dân Việt Nam, người nước ngoài đònh cư ở Việt Nam trong đó cán bộ
công nhân viên tại các doanh nghiệp nhà nước là đối tượng được ưu tiên mua cổ
phần.
Về số lượng mua cổ phần được mua có quy đònh như sau:
• Loại doanh nghiệp mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc
biệt: Một pháp nhân được mua không quá 10%, một cá nhân được mua không
quá 5% tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
• Loại doanh nghiệp mà Nhà nước không nắm cổ phần chi phối, cổ phần
đặc biệt: Một pháp nhân được mua không quá 20%, một cá nhân được mua
không quá 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
• Loại doanh nghiệp nhà nước không tham gia cổ phần: không hạn chế
cổ phần lần đầu mỗi pháp nhân và cá nhân được mua nhưng phải đảm bảo
số cổ đông tối thiểu theo đúng quy đònh của Luật doanh nghiệp.
Trên đây là mức quy đònh cụ thể về đối tượng mua cũng như mức mua cổ
phần, tuy nhiên nghò đònh 44/1998/NĐ-CP đã có sự điều chỉnh nhằm khuyến
khích việc mua cổ phần. Cụ thể là mọi người mua cổ phần sẽ được vay một cổ
phiếu khi mua một cổ phiếu bằng tiền mặt. Với người lao động, họ sẽ được nhà
nước bán cổ phần với mức giá thấp hơn 30% so với giá bán cho các đối tượng
khác, mỗi năm làm việc tại doanh nghiệp được mua tối đa 10 cổ phần. Đối với
người lao động nghèo trong doanh nghiệp cổ phần hoá, ngoài việc được mua cổ
phần ưu đãi họ còn được hoàn trả tiền mua cổ phần trong 3 năm đầu mà vẫn
được cổ tức, số tiền này sẽ được trả trong 10 năm không phải trả lãi.
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 16

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
I.4. DOANH NGHIỆP VÀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP.
I.4.1. Doanh nghiệp và các giá trò đặc trưng của doanh nghiệp .

mà nhà đầu tư thu được. Vì thế lợi nhuận trở thành mục tiêu hàng đầu của
doanh nghiệp, là sự mong đợi của chủ sở hữu nó.
• Mục tiêu cung ứng: Sản xuất hành hoá không phải nhằm thoả mãn
tiêu dùng cho chính người sản xuất mà là để cung ứng cho khách hàng. Đó
cũng là một mục tiêu của doanh nghiệp, nó thể hiện nghóa vụ của doanh
nghiệp với xã hội và nhờ thực hiện mục tiêu này mà doanh nghiệp mới thực
hiện được mục tiêu lợi nhuận.
• Mục tiêu phát triển: Sự mong đợi của người đầu tư không chỉ dừng lại
ở chỗ lợi nhuận mà là lợi nhuận phải càng nhiều hơn . Do vậy doanh nghiệp
phải hướng tới sự phát triển xem xét đánh giá một doanh nghiệp không phải
chỉ ở quá khứ hiện tại mà phải xem xét cả ở triển vọng tương lai.
I.4.2. Khái niệm giá trò doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là một loại hành hóa đặc biệt. Đối với người đầu tư mua
doanh nghiệp thì giá trò sử dụng của hành hoá này là ở chỗ nó có khả năng cung
ứng một lượng hàng hoá cho xã hội và thông qua đó người thu được khoản lợi
nhuận nhất đònh. Do vậy khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương
lai là mối quan tâm hàng đầu của người mua và cũng là căn cứ chủ yếu để người
mua lượng đònh giá trò của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một hàng hoá đơn chiếc. Doanh nghiệp là tế bào của
nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên mỗi doanh nghiệp có đặc điểm riêng về cơ sở
vật chất kỹ thuật, về điều kiện và vò thế kinh doanh. Do vậy, mỗi doanh nghiệp
đưa ra xác đònh giá trò là một hàng hoá đơn chiếc, cá biệt, không giống nhau
giữa các doanh nghiệp. Do đó, đòi hỏi trong việc xác đònh giá trò doanh nghiệp
cần xem xét thận trọng và lựa chọn phương pháp phù hợp.
Kết quả đònh giá doanh nghiệp không phải là giá cả của doanh nghiệp.
Cũng giống như các loại hàng hoá khác, giá trò thò trường của doanh nghiệp chòu
sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trò, quy luật
cung cầu,…nên kết quả xác đònh giá trò doanh nghiệp chỉ là một căn cứ cơ sở để
xem xét thương lượng mà thôi.
SVTH: Lê Trần Phương Linh

nhân tố này. Nói cách khác, những nhân tố thuộc nội tại doanh nghiệp là những
nhân tố quan trọng tạo thành giá trò doanh nghiệp.
I.4.3.1.Các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh.
I.4.3.1.1.Môi trường kinh doanh tổng quát.
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 19

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
Môi trường kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế mức độ ổn đònh của đồng
tiền, của tỷ giá ngoại tệ, của tỷ xuất đầu tư các chỉ số trên thò trường chứng
khoán… đều có tác động trực tiếp đến giá trò doanh nghiệp. Ngược lại sự suy
thoái kinh tế lạm phát phi mã là biểu hiện môi trường tồn tại doanh nghiệp đang
bò lung lay, mọi sự đánh giá về doanh nghiệp trong lúc này kể cả đánh giá về
giá trò doanh nghiệp đều bò đảo lộn hoàn toàn.
Môi trường chính trò: sự phát triển kinh tế chỉ có thể ổn đònh trong một
môi trường ổn đònh về chính trò, các yếu tố của môi trường chính trò có sự gắn bó
chặt chẽ tác động trực tiếp đến sản xuất kinh doanh bao gồm:
- Tính đầy đủ, đồng bộ, rõ ràng và chi tiết của hệ thống luật pháp.
- Quan điểm tư tưởng của nhà nước đối với sản xuất kinh doanh thông
qua các hệ thống, các văn bản pháp quy.
- Quan điểm bảo vệ sản xuất, bảo vệ các nhà đầu tư, bảo vệ người tiêu
dùng.
- Quan điểm khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài.
- Quan điểm phân biệt đối xử thể hiện qua luật thuế, luật cạnh tranh,
luật sở hữu trí tuệ.
- Năng lực hành pháp của chính phủ và ý thức chấp hành pháp luật của
các công dân các tổ chức sản xuất.
- Xu hướng quan điểm trong quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế của
chính phủ với các quốc gia khác; quan điểm cá nhân của người đứng đầu

làm cho các nguồn cung cấp của doanh nghiệp không ổn đònh. Khi đánh giá
doanh nghiệp ta phải xét đến sự phong phú của các nguồn cung cấp, số lượng
chủng loại các loại nguyên liệu có thể thay thế được cho nhau, khả năng đáp
ứng lâu dài cho doanh nghiệp rồi mới kể đến tính kòp thời, chất lượng, giá cả của
sản phẩm cung cấp.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các hãng cạnh tranh: ngày nay được sự
ủng hộ từ phía nhà nước, trong hầu hết các lónh vực kinh tế mức độ cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp trên thò trường trong nước và quốc tế ngày càng trở lên
quyết liệt, điều này vừa là cơ hội song là thách thức đối với doanh nghiệp.Do
vậy đánh giá năng lực cạnh tranh chúng ta phải xem xét trên các mặt về giá
cả,chất lượng về dòch vụ bảo hành sữa chữa.Ngoài ra cần xem xét được số lượng
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 21

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
doanh nghiệp tham gia cạnh tranh,năng lực thực sự và thế mạnh của họ là gì chỉ
ra các yếu tố mầm mống có thể làm xuất hiện các đối thủ mới.Có như vậy mới
kết luận đúng vò thế và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp .
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước: Trong cơ chế thò
trường doanh nghiệp nói chung được quyền chủ động hoàn toàn trong SXKD,tuy
nhiên sự hoạt động của doanh nghiệp luôn được đặt với sự kiểm tra của cơ quan
nhà nước.Các tổ chức này giám sát doanh nghiệp đảm bảo làm sao không vượt
quá những quy ước xã hội.Tức là thực hiện đảm bảo đúng chính sách.Những
doanh nghiệp có tiềm lực tài chính vững chắc,kinh doanh bằng thực lực.Vì vậy
khi thực hiện doanh nghiệp chúng ta cần phải xem xét yếu tố này.
I.4.3.2 Các nhân tố thuộc nội tại doanh nghiệp .
I.4.3.2.1.Hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp.
Tài sản trong một doanh nghiệp bao gồm tài sản cố đònh và tài sản lưu
động. Tuỳ thuộc vào loại hình sản xuất hay kinh doanh mà cơ cấu tài sản trong

trang thiết bò thêm đảm bảo cho sự đồng bộ cho dây chuyền sản xuất.Vì vậy,giá
trò và tình trạng hiện thời của tài sản cố đònh luôn là nhân tố quan trọng ảnh
hưởng tới giá trò doanh nghiệp.
I.4.3.2.2.Trình độ quản lý.
Một yếu tố khác cũng khá quan trọng ảnh hưởng đến kết quả hoạt động
của doanh nghiệp là bộ máy quản lý. Một doanh nghiệp với đội ngũ cán bộ quản
lý giỏi, được sự hỗ trợ tích cực của bộ máy điều hành năng động chắc chắn sẽ
mang lại hiệu quả kinh tế cao và ngược lại. ở các nước phát triển, khi nhà đầu tư
dự đònh tài trợ hoặc đầu tư vào một doanh nghiệp nào đó họ rất quan tâm đến
vấn đề này. Khi đã tin tưởng vào đội ngũ quản lý giỏi đặt dưới sự điều hành của
một giám đốc năng động, có trình độ, họ sẵn sàng đầu tư và có thể chấp nhận trả
giá cao.
Một bộ máy quản lý tốt, đồng bộ sẽ tạo điều kiện sử dụng tốt nhất, có
hiệu quả nhất tài sản tiền vốn của doanh nghiệp, từ đó sẽ gia tăng thu nhập từ
kết quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Không những vậy, trình độ
quản lý tốt của lãnh đạo doanh nghiệp, còn tạo điều kiện ổn đònh và không
ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện nghiêm chỉnh và đúng thời hạn
thoả thuận, các hợp đồng kinh tế với khách hàng. Đây chính là một trong những
SVTH: Lê Trần Phương Linh

Trang 23

Đònh giá doanh nghiệp NN trong quá trình CPH tại VN: Thực trạng và giải pháp
nhân tố quan trọng góp phần nâng cao uy tín doanh nghiệp và mở rộng thò
trường kinh doanh tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. Chính vì vậy, có thể khẳng đònh
một điều chắc chắn rằng: Giá trò doanh nghiệp chòu tác động rất lớn bởi trình độ
quản lý của bản thân doanh nghiệp.
I.4.3.2.3 Vò trí ngành nghề kinh doanh.
Trong nền kinh tế thò trường vò trí ngành nghề kinh doanh có ảnh hưởng
quan trọng đến giá trò doanh nghiệp. Một ngành nghề kinh doanh có tỷ suất lợi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status