Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
1
LỜI NÓI ĐẦU
Điểm xuất phát là, bất kể ai dù là nam hay nữ, những người lãnh đạo đất
nước và mọi người dân, những người sống trên trái đất này không thể sống tách
biệt khỏi thế giới loài người. Hơn nữa, vào thời điểm cuối thế kỉ này mọi người
VIệt Nam, nam cũng như nữ, đang cố gắng hết sức để đạt một vị trí thuận lợ
i
trong thời đại sau. Đây sẽ là cuộc chiến đấu khó khăn nhất trong lịch sử nước
Việt Nam: cuộc đấu tranh vì hoà bình và thịnh vượng.
Mặc dù quá trình “đổi mới” của Việt Nam là chậm chạp nhưng không thể
đảo ngược.
Đúng như vậy, Việt Nam đang thực sự hội nhập với thế giới. Đặc biệt, từ
sau khi bức tường Berlin bị phá bỏ thì thế gi
ới đang chuyển biến một cách
nhanh chóng.
Vậy thì thế giới ngày nay như thế nào? Và thế giới đã trải qua những biến
đổi gì?
Trước khi bức tường Berlin bị phá bỏ, nền kinh tế toàn cầu bao gồm các
lĩnh vực khác nhau và phát triển trên cơ sở các hệ thống kinh tế và xã hội khác
nhau, thậm chí đối kháng và xung đột với nhau.
Từ nay thời kì ấy đã chấm dứt.
Sự chuyển h
ướng sang nền kinh tế thị trường là điều không thể đảo lộn
được trên toàn thế giới này. Đây là sự khởi đầu của quá trình toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá ở những mức độ khác nhau, của các nền kinh tế quốc gia
ận, nhất là các
thị trường tài chính, quyết định cuộc sống của mọi người không? Có thể nào
chúng ta lại chịu đựng hay tìm ra một cơ cấu kinh tế toàn cầu mới để thay thế
cho cơ cấu đã tồn tại suốt 50 năm sau các cuộc thế chiến, một cơ cấu được gọi là
cơ cấu sống còn nhưng lại không thể vượt qua được những khó khăn và thách
th
ức của toàn cầu hoá hơn nữa.
Do vậy, trên con đường tới thời đại mới, các tổ chức quốc tế với khả
năng chuyên sâu phải cùng nhau xây dựng một cơ cấu kinh tế toàn cầu chung
để thúc đẩy và quản lí mối liên hệ sống còn của các thành phần khác nhau của
đời sống kinh tế toàn cầu, trong đó có mối liên hệ thương mại quốc tế ( xuất
nhập khẩu) và môi trường.
Việt Nam còn đang chậm chạp trên con đường từ liên kết quốc gia đến
liên kết quốc tế. Tuy nhiên, với luồng sinh khí của công cuộc đổi mới bắt đầu từ
cuối những năm thập kỉ tám mươi, Việt Nam đã tiến một bước dài theo hướng
hiện đại hoá nền kinh tế và đang sánh cùng các nước trong khu vực. Sự phát
triển này đã nảy sinh những thách thức mới, mà nó khác với nh
ững khó khăn
chúng ta đã vượt qua trong 30 năm qua. Sự phát triển của thương mại nói chung
và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng làm cho nền kinh tế chịu một sức căng
mới, như cạn kiệt nguồn tài nguyên và giảm sự che phủ của rừng, môi trường
sinh thái bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hơn bao giờ hết, việc nghiên cứu tác động
tiêu cực của hoạt động xuất nhập khẩu t
ới môi trường tự nhiên là điều hết sức
cần thiết và cấp bách.
Xuất phát từ yêu cầu trên, em đã chọn đề tài: “Tác động của hoạt động
xuất nhập khẩu đến môi trường ở Việt Nam ”. Mục đích của khóa luận là
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
Vụ KHCN- BTM. Đặc biệt, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
Thầy giáo, TS. Vũ S
ĩ Tuấn, Người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn
thành khoá luận này.
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT NHẬP KHẨU VÀ
MÔI TRƯỜNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1. Khái niệm môi trường
Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi
trường. Trong tiếng Anh môi trường “Environment” có nghĩa là cái bao quanh,
trong tiếng Trung Quốc gọi môi trường là “hoàn cảnh”. Nói đến môi trường là
nói đến môi trường của mộ
t vật thể hoặc một sự kiện nhất định.
Môi trường là khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau,
+Môi trường tự nhiên
: Bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,
sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động
của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động vật,
thực vật, đất, nước….Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây
dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên
khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ
và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất
thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống của con người thêm
phong phú.
+Môi trường xã hội:
Là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định …..ở các cấp khác nhau như
Liên hiệp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ
tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể…Môi trường kinh
tế xã hội định hướng các hoạt động của con người theo m
ột khuôn khổ nhất
định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống
của con người khác với sinh vật khác.
+Ngoài ra ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo
, bao gồm tất cả
các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống
như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo.
+Môi trường theo nghĩa rộng
là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết
cho sự sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất,
nước, ánh sáng cảnh quan, quan hệ xã hội.
+Môi trường theo nghĩa hẹp
không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao
gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống
các tài nguyên khoáng sản nằm trong lòng đất.
3. Tính chất môi trường
Với sự phát triển mạnh mẽ của n
ền kinh tế thị trường, môi trường ngày càng
mang đậm tính chất của một dạng hàng hoá công cộng đa dụng, với các đặc
trưng cơ bản là không cạnh tranh và không loại trừ. Nghĩa là với hàng hoá môi
trường thì, một mặt sự tiêu dùng của người này không loại trừ sự tiêu dùng của
người khác ( trừ khi họ phải trả giá rất đắt), và mặt khác, môi trường, với tất cả
những tiện ích của mình, ngày càng tr
ở thành sản phẩm và tài sản chung của
cộng đồng, vì cộng đồng và do cộng đồng cả ở cấp vùng, quốc gia, khu vực và
toàn cầu.
4. Một số khái niệm liên quan đến sự biến đổi môi trường.
+Ô nhiễm môi trường: Nếu nhìn dưới góc độ vật lí thuần tuý thì khái niệm ô
nhiễm môi trường chỉ trình độ của môi trường trong đó những chỉ số hoá lí của
nó bị thay đổi theo chiều h
ướng xấu đi. Theo Luật Bảo vệ môi trường ( khoản 2,
điều 6) thì ô nhiễm môi trường “ là sự làm thay đổi tính chất môi trường, vi
phạm tiêu chuẩn môi trường”.
Như vậy, nếu nhìn môi trường theo góc độ pháp lí thì một hành vi tác động
đến môi trường được coi là gây ô nhiễm môi trường nó phải đạt hai tiêu chí:
- Thay đổi tính chất môi trường
- Vi phạm tiêu chuẩn môi trường
Như vậy, có thể thấy rằng, nếu mộ
t khu vực nhất định nào đó chưa được pháp
luật quy định tiêu chuẩn môi trường thì một hành vi làm thay đổi môi trường
theo hướng xấu đi ở khu vực đó có thể bị coi là hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
như trong tương lai.
Tuy nhiên, việc xác định tiêu chuẩn môi trường cũng cần xuất phát từ thực
tiễn của từng nước, chủ yếu là trình độ phát triển kinh tế, trình độ KH và CN để
sao cho các tiêu chuẩn môi trường vừa phả
i đảm bảo chất lượng môi trường, vừa
không vì vậy mà gây trở ngại cho quá trình phát triển kinh tế.
+Chất thải : Là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong sản xuất hay trong các
hoạt động khác. Chất thải có thể ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc các dạng khác.
+Chất gây ô nhiễm môi trường: Là những nhân tố làm cho môi trường trở
thành độc hại.
+Suy thoái môi trường: Là sự làm thay đổi chất lượng, số lượ
ng của thành
phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới đời sống của con người và thiên nhiên.
+Sự cố môi trường: Là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
8
động của con người hoặc thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng.
II.MỐI QUAN HỆ GIỮA THƯƠNG MẠI QUỐCTẾ VÀ MÔI TRƯỜNG
Mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và môi trường là một trong những nội
dung cơ bản của mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường. Phần lớn thiệt hại môi
trường có nguyên nhân từ sự gia tăng của các hoạt động kinh tế. Thương mại
quốc t
ế đóng một vai trò ngày càng lớn trong sự gia tăng các hoạt động kinh tế
và vì thế là một trong những tác nhân quan trọng của những biến đổi môi
trường.
1. Tính tất yếu khách quan của việc phát triển thương mại quốc tế trên cơ
tâm công nghiệp khai khoáng, ở các đô thị, ở các vùng thu hút đầu tư nước
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
9
ngoài, sẽ trở thành hiện thực.
Như vậy, vấn đề đặt ra là: không được phép vì mục đích tăng trưởng kinh tế
mà huỷ hoại, tàn phá môi trường, không thể vì lợi ích trước mắt mà để lại gánh
nặng và hậu quả cho những thế hệ mai sau.
Thương mại quốc tế tạo điều kiện cho các quốc gia tăng trưởng kinh tế,
nhưng tăng trưởng kinh tế lại có thể
gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái
trên các khía cạnh sau: một là khai thác quá mức dự trữ tài nguyên làm mất cân
bằng sinh thái; hai là, do tăng trưởng kinh tế, các chất thải công nghiệp làm huỷ
hoại môi trường ngày càng cao ( chất thải phóng xạ, chất thải công nghiệp hoá
dầu…); ba là, việc nhập máy móc, trang thiết bị cũ từ nước ngoài vào biến các
nước nhập khẩu trở thành bãi thải công nghiệp của các nước phát triển, thương
mại thì thu
được lợi nhuận, song nền kinh tế thì suy tàn do công nghiệp lạc hậu,
môi trường sinh thái bị ô nhiễm.
Tuy nhiên, thương mại quốc tế không phải là lý do duy nhất làm suy thoái
môi trường sinh thái, mà còn có nhiều nguyên nhân khác nằm trong chính sách
phát triển kinh tế các nước khi lựa chọn cơ cấu kinh tế. Điều này có thể thấy rõ ở
các nước chậm phát triển như các nước châu Phi, với nền kinh tế lạc hậu, thương
mại không phát triển, nạn nghèo đ
ói đã và đang trở thành kinh niên mà môi
trường vẫn bị phá hoại ở mức báo động. Điều này có thể giải thích nguyên nhân
gây ra sự huỷ hoại môi trường sinh thái ở những nước này là để đáp ứng nhu cầu
môi trường sinh thái. Vì vậy, bảo vệ môi trường sinh thái và việc thực thi chiến
lược con người có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Trong mối quan hệ đó, một
mặt con người được sinh tồn trên các điều kiện của môi trường như không khí,
nước, thức ăn…, mặt khác do việc sử dụng, khai thác (nhiề
u khi là khai thác quá
mức) nguồn tài nguyên thiên nhiên, con người đã phá vỡ sự cân bằng sinh thái,
làm suy giảm, cạn kiệt các nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường. Như vậy,
để duy trì và phát triển sự sống của chính mình, con người không thể không thực
thi các biện pháp giữ gìn và bảo vệ môi trường.
Bảo vệ môi trường sinh thái là một tất yếu khách quan trong quá trình tự do
hoá thương mại nhằm thực thi chiến lược con người và phát triển đất nước một
cách bền v
ững.
Khi con người là một yếu tố cấu thành của hệ môi trường sinh thái cần được
chăm lo, phát triển một cách hài hoà với các nguồn dự trữ tài nguyên như quỹ
đất đai ( đất ở và đất sản xuất lương thực, thực phẩm), nguồn nước ( nước sinh
hoạt, nước tưới tiêu…) thậm chí ngay cả các chất thải do con người thải vào môi
trường trong quá trình sản xuất, tiêu dùng của mình cũng cầ
n phải hài hoà với
sức chứa có thể chấp nhận của môi trường.
Hiện nay, chúng ta đang đứng trước tình hình là nhu cầu của con người tăng
lên nhưng nguồn tài nguyên có giới hạn. Sự quá tải của hành tinh sẽ không chịu
đựng được nhịp điệu tăng dân số, thêm 90 triệu người mỗi năm và trong 50 năm
nữa sẽ tăng gấp đôi số lượng người hiện nay, 12 tỷ ng
ười. Cuộc khủng hoảng
sinh thái không chỉ làm suy thoái môi trường tự nhiên mà còn đẩy mạnh suy sụp
kinh tế, phá vỡ hoà hợp xã hội. Cơn stress sinh thái gây ra các cuộc ở Xômali,
Haity hay Ruanđa là một chứng cứ. Bệnh dịch sinh thái sẽ xuất hiện với những
bệnh ung thư mới, với những suy thoái hệ thống, suy thoái khu vực, với một số
khu vực rộng lớn trên trái đất không thể sống được, hoang mạc rộng ra, v
triển tới mức không một quốc gia nào dù thuộc hệ thống kinh tế xã hội nào có
thể vẫn tồn tại hoặc phát triển mà không chịu sự tác động qua lại của các mối
quan hệ này.
Về phương diện kinh tế, thế giới hôm nay đang tiến tới khuôn khổ toàn cầu.
Do sự phát triển khoa học công nghệ và lực lượng sản xuất trên quy mô thế giới,
toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy hầu hết các
quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở bằng cách giảm bớt, thậm chí xoá bỏ
hàng rào thuế quan và phi quan thuế; chuyển dịch một cách thông thoáng hàng
hoá, v
ốn đầu tư, tiền tệ, dịch vụ lao động giữa các quốc gia với quy mô ngày
càng lớn, hình thành các tổ chức kinh tế – tài chính mang tính toàn cầu và khu
vực, kí kết hàng loạt các hiệp định song phương và đa phương, công ước kinh tế
quốc tế, phát triển củng cố các tập đoàn xuyên quốc gia. Muốn tận dụng được
công nghệ, tiền vốn và thị trường để phát triển kinh tế, các nước phải tích cự
c và
chủ động mở cửa. Tuy nhiên, để giữ vững chủ quyền bảo đảm sự phát triển
nhanh của mỗi quốc gia phải có những đối sách hợp lí trong việc hợp tác song
phương và đa phương trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, trong đó bao hàm
cả các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái.
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
12
2. Bản chất của mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và môi trường
Thương mại quốc tế và môi trường có mối quan hệ nhân quả. Trước hết, môi
trường phải là giá đỡ của cuộc sống, chính vì vậy mọi hoạt động kinh tế , thương
mại đều phải dựa trên nền tảng của môi trường. Môi trường cung cấp mọi thứ
nguyên liệu đầu vào như kim lo
Một khía cạnh tác động khác của thương mại quốc tế đối với môi trường là
tính chất cơ cấu của nó. Thương mại quốc tế có thể tạo ra thay đổi cơ cấu sản
xuất của một nước theo nguyên tắc lợi thế so sánh , tức là , tập trung sản xuất
những mặt hàng có lợi thế để trao đổi lấy những hàng hoá khác. Nếu cơ cấu s
ản
xuất chuyển sang những hàng hoá ít tổn hại đến môi trường hơn, khi đó thương
mại quốc tế có tác dụng tốt đối với môi trường. Tuy nhiên, nếu một nước có khả
năng cạnh tranh tốt đối với những sản phẩm dựa trên các nguồn tài
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
13
nguyên thiên nhiên hoặc những hàng hoá mà khi sản xuất chúng có khả năng ô
nhiễm cao thì thương mại quốc tế lại làm cho nước đó bị gia tăng ô nhiễm môi
trường, gây cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Tóm lại, thương mại quốc tế và môi trường có môí quan hệ chặt chẽ với nhau.
Phát triển thương mại quốc tế sẽ tạo ra động lực để phát triển kinh tế, nâng cao
đời sống và nhận thức của m
ỗi người về môi trường cũng như làm tăng chi phí
bảo vệ môi trường. Ngược lại, môi trường với vai trò là giá đỡ của cuộc sống,
bảo vệ môi trường, hạn chế khai thác quá mức, bảo tồn và phát triển các nguồn
tài nguyên không tái tạo là cơ sở để phát triển kinh tế, thương mại và thương
mại quốc tế một cách bền vững. Mặt khác, thương mại quốc tế có thể
làm tổn
hại đến môi trường, làm lây lan ô nhiễm, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên, tăng chất thải độc hại. Các biện pháp và công cụ môi trường
cũng có thể tạo ra rào cản hạn chế thương mại , bóp méo giá cả, tạo bất bình
đẳng trong thương mại quốc tế. Để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa thương
Năm 1972, Hội nghị Stockholm 1972 về môi trường và nhân loại được tổ chức.
Trong thời gian chuẩn bị hội nghị , Tổng thư kí của GATT đã đưa ra một bản
nghiên cứu với tựa đề Kiểm soát ô nhiễm công nghiệp và thương mại quốc tế.
Mãi đến năm 1991, tổ chức EMIT mới có cuộc họp đầu tiên, đưa ra một bản
dự thảo để phục vụ H
ội nghị LHQ 1992 về môi trường và phát triển. Năm 1992,
UNCED đã tổ chức một cuộc hội nghị lớn hay còn được biết đến bởi tên ‘ đỉnh
cao của thế giới’, thông qua ‘ chương trình nghị sự 21’, chỉ ra tầm quan trọng
của việc thúc đẩy sự phát triển bền vững , thông qua một số biện pháp trong đó
có thương mại quốc tế.
Tháng 4 năm 1994, khi kết thúc vòng đàm phán Urguay, một quyết
định cấp
bộ trưởng về thương mại và môi trường đã được thông qua. Một Uỷ ban về
thương mại và môi trường (CTE) thuộc khuôn khổ WTO đã được thành lập.
CTE tiếp quản công việc từ nhóm EMIT.
WTO không phải là một tổ chức bảo vệ môi trường, phạm vi thẩm quyền của
tổ chức này chỉ liên quan đến các chính sách về môi trường được giới hạn bởi
chính sách về thươ
ng mại và có thể dẫn đến những ảnh hưởng quan trọng đối
với thương mại. Các thoả thuận GATT/ WTO đã tạo cơ hội cho những chính
sách về bảo vệ môi trường quốc gia nhưng với điều kiện là không được phân
biệt đối xử; những cơ hội tiếp cận thị trường là yếu tố cần thiết để bảo đảm giúp
các nước
đang phát triển phát triển bền vững. Về tăng cường sự hợp tác giữa các
quốc gia như là sự hợp tác đa phương cần thiết để đưa ra những vấn đề về gắn
thương mại với môi trường một cách tương xứng.
Một số điều khoản của GATT có liên quan trực tiếp tới các vấn đề gắn thương
mại với môi trườ
ng bao gồm điều I và III của GATT về sự không phân biệt đối
vơí môi trường, quy tắc này đảm bảo rằng những chính sách bảo vệ môi trường
quốc gia sẽ không được thông qua với ý định phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện
giữa hàng ngoại và hàng nội, hoặc giữa những hàng hoá nhập khẩu từ các đối
tác kinh doanh khác nhau. Do đó, điều này có thể ngăn ngừa sự lạm dụng bởi
những chính sách về môi trườ
ng ngăn ngừa cách sử dụng sự che đậy các hạn chế
về thương mại quốc tế.
(2) Điều XX về các ngoại lệ chung:
Trong cuộc đàm phán đầu năm 1947, điều XX của GATT đã đưa ra một số
trường hợp đặc biệt của các bên tham gia GATT, hoặc những thành viên hiện
hành WTO. Bao gồm hai trường hợp về bảo vệ môi trường có thể loại trừ từ
những quy định của GATT. Điều luật này nêu rõ:
‘ Yêu cầu các giải pháp này không được áp dụng theo kiểu sẽ tạo đà cho việc
phân biệt đối x
ử không rõ ràng giữa những nước có cùng điều kiện tốt như nhau,
hoặc trong thoả thuận này sẽ được diễn giải để ngăn chặn sự ép buộc của những
giải pháp của các bên tham gia:
….(b) cần thiết để bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật;
….(g) liên quan đến việc bảo tồn những nguồn tài nguyên đang bị cạn kiệt,
nếu những gi
ải pháp này được thiết lập có hiệu quả, kết hợp với các hạn chế về
sản xuất và tiêu dùng trong nước.’
Điều XX(b) và (g) cho phép các hội viên WTO có quyền áp dụng – các giải
pháp chính sách nếu điều này “ cần thiết” để bảo vệ con người, động thực vật,
hoặc nếu các giải pháp liên quan đến việc bảo tồn những nguồn tài nguyên đang
cạn kiệt. Tuy nhiên, nội dung của điề
u XX nhằm để đảm bảo rằng GATT
không bao gồm các giải pháp mà gây ra sự phân biệt đối xử, sự thiết lập những
hạn chế về thương mại quốc tế. Có nghĩa rằng, các giải pháp đó chỉ nhằm các
định, tiêu chuẩn về kĩ thuật, các thủ tục để đánh giá là một trong những quy tắc
chính của thoả thuận này. Sự rõ ràng của những giải pháp này được trình bày
qua sự thông báo của họ với ban thư kí WTO và sự thiết lập những điều khoản
chính thức của quốc gia, là những nét nổi bật của thoả thuận.
Tho
ả thuận cho phép một nước thông qua các quy định, tiêu chuẩn về kĩ thuật
và các thủ tục để đánh giá nhằm bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, thoả thuận này
gắn những biện pháp với những yêu cầu đa dạng, trong số đó bao gồm tính rõ
ràng và sự không phân biệt đối xử.
(5) Thoả thuận về những biện pháp bảo vệ sức khoẻ và kiểm dịch thực vật
(SPS):
Trong thoả thuận về SPS tại vòng đàm phán Urguay đã đưa ra ứng dụng về sự
an toàn của thực phẩm, những quy định về y tế của động thực vật. Công nhận
những quyền của một thành viên được thông qua các giải pháp SPS, nhưng họ
phải dựa vào cơ sở khoa học, chỉ được áp dụng trong phạm vi cần thiết để bảo
vệ sức khoẻ con ngườ
i, động thực vật và không được phân biệt giữa các thành
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
17
viên có cùng điều kiện thuận lợi như nhau. Thoả thuận này bổ sung cho thoả
thuận TBT. Về vấn đề môi trường, thoả thuận này cho phép các thành viên
thông qua các biện pháp SPS, nhưng phải đưa ra những yêu cầu, bao gồm các
vấn đề về đánh giá rủi ro, sự không phân biệt đối xử, sự rõ ràng và các vấn đề
khác.
(6) Thoả thuận về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến
thương mại (TRIPS):
trạng bên ngoài về môi trường khi có phát sinh.
(8) Thoả thuận về nông nghiệp
Được thông qua tại vòng đàm phán Urguay, thoả thuận về nông nghiệp đã cố
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
18
gắng cải cách lại việc kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp và đưa ra những cơ
sở chính sách định hướng thị trường. Trong phần mở đầu các thoả thuận này, đã
khẳng định sự cam kết của các thành viên trong việc cải cách nông nghiệp theo
hướng bảo vệ môi trường. Theo thoả thuận này, các biện pháp trợ giúp trong
nước với tác động tối thiểu với thương mại ( được biết như các chính sách ‘ h
ộp
xanh’ ) được loại bỏ từ sự rút gọn những cam kết ( trong phụ lục 2 của thoả
thuận). Các biện pháp này áp dụng theo các chương trình về môi trường , miễn
là phải đáp ứng được những điều kiện cụ thể. Sự cắt giảm này tạo điều kiện cho
các thành viên có thể kiểm soát được tình trạng bên ngoài của môi trường.
(9) Các quyết định có liên quan:
Hai quyết định về các vấn đề môi trường đã được thông qua tại vòng đàm
phán Urguay. Theo công bố trước đây, quyết định cấp Bộ trưởng về vấn đề
thương mại và môi trường, được thiết lập bởi CTE với mục đích đưa ra các
chính sách để tương trợ lẫn nhau về thương mại và môi trường quốc tế. Đây là
những quyết định có trong chương trình hành độ
ng của CTE. Quyết định về
kinh doanh các dịch vụ và môi trường cũng được các Bộ trưởng thông qua.
Quyết định này đã chỉ thị cho CTE kiểm tra và báo cáo vì mối quan hệ giữa các
kết giữa nhiều bên với nhau ( nhiều hơn hai nước trở lên) và đa phương ở đây có
hàm nghĩa là mang tính toàn cầu.
Trong số hơn 200 hiệp định môi trường đa phương hiệ
n chỉ có khoảng 20
hiệp định là có những biện pháp thương mại. Tuy nhiên, nhiều hiệp định môi
trường đa phương (MEAs) như công ước Basel về những chất thải nguy hiểm,
Nghị định thư Montreal về những chất huỷ diệt tầng ôzôn hoặc Công ước buôn
bán quốc tế về những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng ( CITEs) là những hạn chế
đáng kể trong buôn bán quốc tế.
Mộ
t số hiệp định môi trường đa phương có các biện pháp thương mại:
Công ước về buôn bán quốc tế các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng (CITEs)-
1975 : có mục tiêu bảo vệ những động vật có nguy cơ bị diệt chủng. Công ước
này hạn chế việc buôn bán những loài theo mức độ về sự đe doạ diệt chủng.
Nghị định thư Montreal – 1987: cấm xuất khẩu những ch
ất đã được kiểm soát
sang các nước không tham gia công ước và ngăn cản việc chuyển nhượng kĩ
thuật để sản xuất những chất đó.
Công ứơc Basel – 1992: cấm các nước xuất khẩu rác thải nguy hiểm mà
không được khẳng định bằng văn bản của nước nhập khẩu.
Công ước về đa dạng sinh học- 1993 : nhằm đảm bảo việc sử dụ
ng một cách
công bằng các nguồn lợi từ gen
Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học- 2000: cho phép các nước có thể
hạn chế việc nhập khẩu các sinh vật sống đã bị thay đổi gen như là một hình
thức kiểm soát các mối nguy hiểm đã xác định.
Những hiệp định môi trường đa phương không bao gồm những biện pháp bắt
buộc mà chủ yếu là dựa vào nguyên tắc tự nguyệ
n, cho nên việc thực thi thường
kém hiệu quả, còn trong hoạt động thương mại biện pháp để thực hiện nội dung
ập đến các vấn đề môi
trường qua biên giới hay toàn cầu hay phải dựa trên cơ sở đồng nhất quốc tế.
Hơn thế nữa, bản tuyên bố nói rằng phải tránh những biện pháp thương mại đơn
phương nhằm đạt được những mục tiêu môi trường nằm ngoài phạm vi quyền
hạn của nước đó. Người ta lo ngại là phương sách đối với những biện pháp đơ
n
phương trong văn bản này dẫn đến nguy cơ có sự phân biệt đối xử giả tạo và bảo
hộ trá hình làm ảnh hưởng đến hệ thống thương mại và có thể đe doạ chương
trình môi trường quốc tế.
3. Quy định về môi trường trong ISO 14000
Rõ ràng, thương mại cần phải được củng cố và phát triển hơn nữa để nhằm
đảm bảo nhu cầu ngày càng tăng củ
a cuộc sống con người. Bên cạnh đó, như đã
trình bày ở trên, môi trường cũng cần phải được bảo vệ và xem như là nền tảng
hay giá đỡ cho sự phát triển của xã hội loài người. Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc
tế ISO (International Stand Organisation) với bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là công
cụ hữu hiệu, một cuộc cách mạng trong việc giải quyết vấn đề về môi trường.
Trước khi bộ tiêu chuẩ
n quốc tế ISO 14000 được tiểu ban kĩ thuật TC 207 của
tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế biên soạn, một số nước và doanh nghiệp đã tiến
hành việc quản lí môi trường theo hệ thống. Còn hầu hết các nước và doanh
nghiệp khác đều áp dụng mô hình ‘ mệnh lệnh và kiểm soát’ nhằm đối phó với
tình hình thực tế và theo yêu cầu của luật pháp. Theo phương pháp cũ, để phù
hợp với các yêu cầu về
môi trường, doanh nghiệp chỉ cần tập trung vào kiểm
soát chất thải cuối đường ống dẫn là có thể đáp ứng với các yêu cầu
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
ảnh hưởng đến khi xây dựng bộ
tiêu chuẩn này.
Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 được dự kiến ban hành gồm 21 tiêu chuẩn và
hướng dẫn kĩ thuật, đề cập đến các vấn đề sau:
1. Hệ thống quản lí môi trường
2. Kiểm tra đánh giá môi trường
3. Nhãn môi trường
4. Đánh giá kết quả hoạt động môi trường
5. Đánh giá chu trình sống của hoạt động
6. Các khía cạnh môi trường trong các tiêu chuẩn về sản ph
ẩm
7. Thuật ngữ và định nghĩa trong lĩnh vực quản lí môi trường
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
22
Trong số các tiêu chuẩn nêu trên về hệ thống tiêu chuẩn áp dụng cho việc
quản lí môi trường thì tiêu chuẩn ISO 14001 về Hệ thống quản lí môi trường là
quan trọng nhất. Đây là tiêu chuẩn có thể sử dụng để bên thứ ba độc lập có thể
đánh giá một cách khách quan sự phù hợp giữa cam kết của tổ chức, doanh
nghiệp với các quy định của pháp luật về các vấn đề môi trường, cũng như đ
ánh
giá các tác động lên môi trường của các hoạt động, sản phẩm hoặc dịch vụ của
tổ chức doanh nghiệp. Và tất nhiên, nó được dùng để xây dựng hoặc cải thiện
HTQLMT của họ.
Đây là tiêu chuẩn duy nhất của bộ tiêu chuẩn ISO 14000 quy định các yêu cầu
đối với Hệ thống quản lí môi trường bao gồm các yếu tố của HTQLMT mà các
tổ chức, doanh nghiệp muốn được chứng nhận ph
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi
trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương
- -
23
mới như là các rào cản thường được gọi là “rào cản xanh” hay không? Nội dung
về nhãn môi trường được thực hiện trong khuôn khổ ISO/TC 207 nhằm thống
nhất và hướng dẫn các khái niệm , tiêu chí cơ bản đối với việc quy định thực
hiện nhãn môi trường nhằm dỡ bỏ hàng rào trên. Điều đó có thể hiểu rằng khi
tất cả các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đều có nhãn môi trường thì sự lưu
thông của chúng trên thị trường sẽ không vấp phải một rào cản nào khác. Và
như vậy hàng rào TBT sẽ được dỡ bỏ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
của thương mại quốc tế. Mặt khác, cùng với sự phát triển của thương mại quốc
tế các hàng hoá và dịch vụ đều đáp ứng những tiêu chuẩn quản lí môi trường
theo ISO 14000 nên đó là các sản phẩm s
ạch, các sản phẩm thân thiện với môi
trường kể từ trước và sau quá trình sản xuất. Điều đó đã đáp ứng được yêu cầu
của sự phát triển bền vững mà hiện nay chúng ta vẫn thường nói tới.
4. Quy định về môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu của Việt
Nam
4.1 Khái quát về các chính sách thương mại và chính sách môi trường
trong các văn bản pháp luật quan trọng của Vi
ệt nam.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, cũng như
yêu cầu phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế trong bối cảnh tự do hoá thương
mại, mở cửa hội nhập, trong những năm gần đây Đảng và Chính Phủ Việt Nam
đã triển khai nhiều hoạt động để đảm bảo phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi
trườ
ng. Các chủ trương về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường được thể hiện
vững trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Luật bảo vệ môi trường (1994) đã đề cập tới những vấn đề cơ bản trong việc
phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễ
m môi trường hợp tác quốc
tế về bảo vệ môi trường, khen thưởng cũng như xử lý vi phạm những quy định
về bảo vệ môi trường. Nhiều điều khoản của luật cũng đã đề cập đến những vấn
đề môi trường liên quan đến hoạt động thương mại. đặc biệt là trong lĩnh vực
khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đ
a dạng sinh học, hạn chế hoặc
cấm sản xuất và trao đổi thương mại những hàng hoá có nguy hại đối với môi
trường. Chẳng hạn, điều 12 của Luật bảo vệ môi trường quy định: “tổ chức, cá
nhân có trách nhiệm bảo vệ các giống loài thực vật, động vật hoang dã, bảo vệ
tính đa dạng sinh học, bảo vệ rừng, biển và các hệ sinh thái. Việ
c khai thác
phải theo đúng quy hoạch và các quy định của luật bảo vệ và phát triển rừng.
Nhà nước có kế hoạch tổ chức cho các tổ chức, các nhân trồng rừng, phủ xanh
đất trống, đồi núi trọc để mở rộng, nhân diện tích của rừng, bảo vệ các vùng
đầu nguồn sông suối”. Điều 16 quy định quy định “Tổ chức, các nhân trong sản
xuất kinh doanh và các hoạt động khai thác thực hiện các biệ
n pháp vệ sinh môi
trường, phải có thiết bị kỹ thuật để xử lý chất thải, đảm bảo tiêu chuẩn môi
trường, phòng chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi
trường”. Điều 19 quy định “Việc nhập, xuất khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị,
các chế phẩm sinh học hoặc hoá học, các chất độc hại, chất phóng xạ, các loài
động vật, thực vật, ngu
ồn gen, vi sinh vật có liên quan đến bảo vệ môi trường
phải được phép của cơ quan quản lý ngành hữu quan và cơ quan quản lý Nhà
nước về bảo vệ môi trường”. Điều 23 quy định “Tổ chức, cá nhân sản xuất, vận
chuyển, buôn bán, sử dụng, cất giữ, huỷ bỏ các chất độc hại, chất dễ gây cháy,
nổ, phải tuân theo quy định về an toàn cho người, sinh vật, không gây suy thoái
Để hoà nhập các vấn đề môi trường vào trong các chính sách thương mại cần
phải có sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp, trong đó Chính phủ phải có
chương trình định hướng cho hoạt động này. Ngoài Luật bảo vệ môi trường nói
trên, trong những năm qua đã có nhiều văn bản pháp lý điều tiết vấn đề phát
triển kinh tế và bảo vệ môi trường như
Luật đất đai (1993), Luật bảo tồn và phát
triển tài nguyên rừng (1991), Luật khoáng sản (1996) Pháp lệnh về nguồn thuỷ
sản (1989), Pháp lệnh thuế tài nguyên (1990)… Song song với các văn vản Luật
nêu trên, Chính phủ cũng đã ban hành chiến lược về cải tiến công tác quản lý
môi trường, bao gồm việc thực hiện Chương trình nghị sự 21, chương trình kiểm
soát ô nhiễm công nghiệp và đô thị, chương trình quốc gia về
bảo vệ rừng, loại
bỏ các chất làm thủng tầng ôzôn, hành động quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh
học.
Đồng thời, Việt Nam cũng đã tham gia ngày càng nhiều các điều ước quốc tế
về môi trường có liên quan đến thương mại như : Công ước quốc tế về buôn bán
các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (1994); Công ước Viên về bảo vệ tầng
ozon(1994); Nghị
định thư Montreal về biến đổi khí hậu (1994) Công ước khung
về biến đổi khí hậu (1994)
Luật Thương mại được Quốc hội ban hành ngày 10/5/1997 cũng đã đề cập
đến nhiều khía cạnh môi trường trong hoạt động thương mại, nghiêm cấm các
hành vi thương mại gây ảnh hưởng đến môi trường. Chẳng hạn, Điều 15 của
Luật quy định “Cấm lưu thông hàng hoá, cung ứng dị
ch vụ gây