Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường
LỜI NÓI ĐẦU
Điểm xuất phát là, bất kể ai dù là nam hay nữ, những người lãnh đạo đất
nước và mọi người dân, những người sống trên trái đất này không thể sống tách
biệt khỏi thế giới loài người. Hơn nữa, vào thời điểm cuối thế kỉ này mọi người
VIệt Nam, nam cũng như nữ, đang cố gắng hết sức để đạt một vị trí thuận lợi
trong thời đại sau. Đây sẽ là cuộc chiến đấu khó khăn nhất trong lịch sử nước
Việt Nam: cuộc đấu tranh vì hoà bình và thịnh vượng.
Mặc dù quá trình “đổi mới” của Việt Nam là chậm chạp nhưng không thể
đảo ngược.
Đúng như vậy, Việt Nam đang thực sự hội nhập với thế giới. Đặc biệt, từ
sau khi bức tường Berlin bị phá bỏ thì thế giới đang chuyển biến một cách
nhanh chóng.
Vậy thì thế giới ngày nay như thế nào? Và thế giới đã trải qua những biến
đổi gì?
Trước khi bức tường Berlin bị phá bỏ, nền kinh tế toàn cầu bao gồm các
lĩnh vực khác nhau và phát triển trên cơ sở các hệ thống kinh tế và xã hội khác
nhau, thậm chí đối kháng và xung đột với nhau.
Từ nay thời kì ấy đã chấm dứt.
Sự chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường là điều không thể đảo lộn
được trên toàn thế giới này. Đây là sự khởi đầu của quá trình toàn cầu hoá.
Toàn cầu hoá ở những mức độ khác nhau, của các nền kinh tế quốc gia
khác nhau và của mọi mặt trong đời sống kinh tế ( từ các thị trường tiền tệ đến
vấn đề sức khoẻ xuyên qua thương mại, môi trường, bảo trợ xã hội, lao động
v.v…) là không thể trốn tránh và không thể đảo ngược được.
Từ thuở xa xưa, con người sinh sống trên trái đất và duy trì cuộc sống
của mình bằng việc tiêu thụ, sản xuất và trao đổi. Khi dân số trên địa cầu ngày
càng tăng, khi các cư dân ngày càng thịnh vượng thì các nhu cầu ngày càng trở
nên quan trọng, đa dạng, cầu kì. Những mất cân đối giữa tiêu thụ, sản xuất, trao
đổi đang tạo ra những tác động có hại đối với trái đất- nơi che chở cho con
người. Như vậy, dù muốn hay không việc bảo vệ trái đất là một trong những ưu
chúng ta đã vượt qua trong 30 năm qua. Sự phát triển của thương mại nói chung
và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng làm cho nền kinh tế chịu một sức căng
mới, như cạn kiệt nguồn tài nguyên và giảm sự che phủ của rừng, môi trường
sinh thái bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hơn bao giờ hết, việc nghiên cứu tác động
tiêu cực của hoạt động xuất nhập khẩu tới môi trường tự nhiên là điều hết sức
cần thiết và cấp bách.
Xuất phát từ yêu cầu trên, em đã chọn đề tài: “Tác động của hoạt động
xuất nhập khẩu đến môi trường ở Việt Nam ”. Mục đích của khóa luận là thông
qua việc nghiên cứu bản chất, các quy định pháp lí và thực trạng mối quan hệ
giữa xuất nhập khẩu và môi trường để thấy được ảnh hưởng của các hoạt
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương - -
2
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường
động xuất nhập khẩu đến môi trường tự nhiên, trong đó em chỉ xin tập trung vào
nghiên cứu các tác động tiêu cực, từ đó đưa ra những giải pháp , kiến nghị
nhằm làm hài hoà mối quan hệ này.
Để thực hiện mục đích như em trình bày ở trên, khoá luận được chia
thành ba phần như sau:
Chương I: Tổng quan về mối quan hệ giữa xuất nhập khẩu và môi
trường
Chương II: Thực trạng tác động tiêu cực của hoạt động xuất nhập
khẩu đến môi trường tự nhiên.
Chương III: Các giải pháp phát triển xuất nhập khẩu gắn với công tác
bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Trong một thời gian ngắn với phạm vi đề tài tương đối rộng, do kiến thức
còn hạn chế, thực tế kinh nghiệm chưa nhiều nên bài viết không tránh khỏi
những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy giáo,
các Cô giáo và các bạn.
Cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn và tình cảm kính trọng đối với tất
cả các Thầy Cô giáo, các cán bộ công tác tại trường Đại học Ngoại thương. Em
đến mức mà sự phân biệt giữa cá thể con người với môi trường bị xoá nhoà đi.
+Trong tuyên ngôn UNESCO năm 1981: Môi trường là toàn bộ hệ thống tự
nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người
sinh sống và bằng lao động cuả mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên
hoặc nhân tạo nhằm làm thoả mãn các nhu cầu của con người
+R.G Sharma1988: Môi trường là tất cả những gì xung quanh con người.
+Trong Luật bảo vệ môi trường của nước CHXHCN Việt Nam (thông qua
ngày 27/12/1993) môi trường được định nghĩa như sau: “ Môi trường bao gồm
các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao
quanh con người, có ảnh hưởng đến đờí sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của
con người và thiên nhiên”.
Môi trường sống của con người theo chức năng được phân thành các loại:
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương - -
4
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường
+M ôi trường tự nhiên : Bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,
sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động
của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động vật,
thực vật, đất, nước….Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây
dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên
khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất
thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống của con người thêm
phong phú.
+M ôi trư ờng xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định …..ở các cấp khác nhau như
Liên hiệp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ
tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể…Môi trường kinh
tế xã hội định hướng các hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất
định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống
của con người khác với sinh vật khác.
- Thuỷ quyển bao gồm các tầng nước khác nhau trong các đại
dương, sông ngòi, ao hồ, nước ngầm trong lòng đất, kể cả sự sống
trong các đại dương, sông ngòi đó.
- Địa quyển là lớp vỏ trái đất, bao gồm bề mặt trái đất, cùng với sự
sống và các tài nguyên khoáng sản nằm trong lòng đất.
3. Tính chất môi trường
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, môi trường ngày càng
mang đậm tính chất của một dạng hàng hoá công cộng đa dụng, với các đặc
trưng cơ bản là không cạnh tranh và không loại trừ. Nghĩa là với hàng hoá môi
trường thì, một mặt sự tiêu dùng của người này không loại trừ sự tiêu dùng của
người khác ( trừ khi họ phải trả giá rất đắt), và mặt khác, môi trường, với tất cả
những tiện ích của mình, ngày càng trở thành sản phẩm và tài sản chung của
cộng đồng, vì cộng đồng và do cộng đồng cả ở cấp vùng, quốc gia, khu vực và
toàn cầu.
4. Một số khái niệm liên quan đến sự biến đổi môi trường.
+Ô nhiễm môi trường: Nếu nhìn dưới góc độ vật lí thuần tuý thì khái niệm ô
nhiễm môi trường chỉ trình độ của môi trường trong đó những chỉ số hoá lí của
nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi. Theo Luật Bảo vệ môi trường ( khoản 2,
điều 6) thì ô nhiễm môi trường “ là sự làm thay đổi tính chất môi trường, vi
phạm tiêu chuẩn môi trường”.
Như vậy, nếu nhìn môi trường theo góc độ pháp lí thì một hành vi tác động
đến môi trường được coi là gây ô nhiễm môi trường nó phải đạt hai tiêu chí:
- Thay đổi tính chất môi trường
- Vi phạm tiêu chuẩn môi trường
Như vậy, có thể thấy rằng, nếu một khu vực nhất định nào đó chưa được pháp
luật quy định tiêu chuẩn môi trường thì một hành vi làm thay đổi môi trường
theo hướng xấu đi ở khu vực đó có thể bị coi là hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Điều này chỉ là nhìn nhận về mặt pháp lí để quy trách nhiệm. Song trên thực tế
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương - -
6
+Chất gây ô nhiễm môi trường: Là những nhân tố làm cho môi trường trở
thành độc hại.
+Suy thoái môi trường: Là sự làm thay đổi chất lượng, số lượng của thành
phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới đời sống của con người và thiên nhiên.
+Sự cố môi trường: Là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt
động của con người hoặc thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng.
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương - -
7
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường
II.MỐI QUAN HỆ GIỮA THƯƠNG MẠI QUỐCTẾ VÀ MÔI
TRƯỜNG
Mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và môi trường là một trong những nội
dung cơ bản của mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường. Phần lớn thiệt hại môi
trường có nguyên nhân từ sự gia tăng của các hoạt động kinh tế. Thương mại
quốc tế đóng một vai trò ngày càng lớn trong sự gia tăng các hoạt động kinh tế
và vì thế là một trong những tác nhân quan trọng của những biến đổi môi
trường.
1. Tính tất yếu khách quan của việc phát triển thương mại quốc tế trên cơ
sở bảo vệ môi trường sinh thái
Tự do hoá thương mại và vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái đang trở thành
những vấn đề mang tính toàn cầu. Ngay trong lời nói đầu của hiệp định WTO đã
ghi nhận vấn đề bảo vệ môi trường và thúc đẩy sự phát triển bền vững. Sự quan
tâm về môi trường cũng được nhắc lại trong nhiều hiệp định mà WTO giám sát,
như các hiệp định về hàng rào kĩ thuật trong thương mại, nông nghiệp, trợ cấp,
các quyền sở hữu trí tuệ và dịch vụ.
Việc phát triển thương mại tự do trên cơ sở bảo vệ môi trường không còn là
vấn đề của một quốc gia mà là vấn đề của cả thế giới, là xu thế, kết quả tất yếu
của quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước, khi mà các yếu tố, các nguồn dự
trữ cho phát triển kinh tế đang ngày càng cạn kiệt, bị lãng phí vì ô nhiễm trầm
trọng, cũng như trước sức ép về sự gia tăng dân số trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, thương mại quốc tế không phải là lý do duy nhất làm suy thoái
môi trường sinh thái, mà còn có nhiều nguyên nhân khác nằm trong chính sách
phát triển kinh tế các nước khi lựa chọn cơ cấu kinh tế. Điều này có thể thấy rõ ở
các nước chậm phát triển như các nước châu Phi, với nền kinh tế lạc hậu, thương
mại không phát triển, nạn nghèo đói đã và đang trở thành kinh niên mà môi
trường vẫn bị phá hoại ở mức báo động. Điều này có thể giải thích nguyên nhân
gây ra sự huỷ hoại môi trường sinh thái ở những nước này là để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng cá nhân chứ không phải cho đầu tư phát triển kinh tế, giải quyết lợi ích
trước mắt mà ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài.
Tóm lại, môi trường sinh thái là giá đỡ của sự sống, bao hàm các yếu tố về
tiềm năng phát triển kinh tế mà xét cho đến cùng, tất cả mọi hoạt động kinh tế
đều phụ thuộc vào đó. Vì vậy, bảo vệ môi trường sinh thái cũng tức là bảo vệ
các yếu tố tiềm năng cho phát triển, phân phối một cách có hiệu quả nguồn dự
trữ tài nguyên cho các ngành kinh tế, cho giai đoạn trước mắt và giai đoạn lâu
dài theo hướng phát triển bền vững. Trong mối quan hệ giữa thương mại quốc tế
và bảo vệ môi trường thì chúng vừa là định chế vừa có sự tương tác hỗ trợ lẫn
nhau.
Thứ hai, thực hiện chiến lược con người và phát huy yếu tố con người trong
mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và môi trường
Thương mại quốc tế tạo điều kiện cho các quốc gia mở rộng thị trường, kinh
doanh có hiệu quả, phát triển mối quan hệ hợp tác và cạnh tranh trên thị trường
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương - -
9
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường
quốc tế, giúp cho con người mở rộng tầm nhìn ra bên ngoài, nâng cao tri thức.
Đồng thời thương mại quốc tế cũng có nghĩa là thị trường hoá các mối quan hệ
kinh tế lẫn các mối quan hệ phi kinh tế cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Trong
hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động thương mại quốc tế nói riêng, con
người bao giờ cũng là chủ thể, là người tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh, cũng là người ban hành các luật lệ, chính sách và lại là người thực hiện
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương - -
10
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường
Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá là do con người thực hiện. Như
vậy, cần phải có chính sách và chiến lược con người đúng đắn. Con người khi
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần tuân thủ luật pháp( trong đó có luật
bảo vệ môi trường). Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lí nền kinh tế, khi ban
hành chính sách, luật pháp phải đảm bảo quyền tự do kinh doanh của mỗi người,
đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế, và giữ gìn môi trường sinh thái. Con
người phải được bồi dưỡng và nâng cao trình độ toàn diện về mọi mặt để tiến
hành sản xuất, kinh doanh trong điều kiện tự do cạnh tranh.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Sự nghiệp cải cách kinh tế theo
hướng thị trường cũng là sự nghiệp của con người. Cải cách thành công nhanh
hay chậm tuỳ thuộc rất nhiều vào khả năng cải tạo con người, bao gồm con
người với tư cách là chủ thể quản lí. Ngược lại, sự tăng năng suất lao động sẽ
làm cho các nhà đầu tư quan tâm đến chiến lược phát triển dài hạn nhằm đạt
được phần lợi nhuận lớn hơn trong thương mại quốc tế.
Thứ ba, hoà nhập nền kinh tế của mỗi nước vào khu vực và trên thế giới
thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư liên doanh, liên kết kinh tế
thương mại và hợp tác quốc tế
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà các quan hệ kinh tế quốc tế đã phát
triển tới mức không một quốc gia nào dù thuộc hệ thống kinh tế xã hội nào có
thể vẫn tồn tại hoặc phát triển mà không chịu sự tác động qua lại của các mối
quan hệ này.
Về phương diện kinh tế, thế giới hôm nay đang tiến tới khuôn khổ toàn cầu.
Do sự phát triển khoa học công nghệ và lực lượng sản xuất trên quy mô thế giới,
toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy hầu hết các
quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở bằng cách giảm bớt, thậm chí xoá bỏ
hàng rào thuế quan và phi quan thuế; chuyển dịch một cách thông thoáng hàng
hoá, vốn đầu tư, tiền tệ, dịch vụ lao động giữa các quốc gia với quy mô ngày
hơn trên cùng một đơn vị lao động , tài nguyên và công nghệ. Như vậy, thương
mại quốc tế góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả
tài nguyên thiên nhiên. Tăng quy mô thương mại cũng làm tăng nhu cầu bảo vệ
môi trường sống của con người. Tuy nhiên , sự gia tăng quy mô sản xuất do tác
động của thương mại quốc tế cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Một mặt, hoạt động này làm tăng các yếu tố đầu vào, khuyến khích khai thác và
sử dụng ngày càng nhiều các nguồn tài nguyên, đặc biệt là ở các nước đang phát
triển. Mặt khác, quy mô thương mại và sản xuất gia tăng sẽ làm tăng chất thải ô
nhiễm từ hoạt động sản xuất và tiêu dùng. Điều này có thể thấy rất rõ về tình
trạng rác thải và chất phát thải gây hiệu ứng nhà kính ở các nước phát triển.
Một khía cạnh tác động khác của thương mại quốc tế đối với môi trường là
tính chất cơ cấu của nó. Thương mại quốc tế có thể tạo ra thay đổi cơ cấu sản
xuất của một nước theo nguyên tắc lợi thế so sánh , tức là , tập trung sản xuất
những mặt hàng có lợi thế để trao đổi lấy những hàng hoá khác. Nếu cơ cấu sản
xuất chuyển sang những hàng hoá ít tổn hại đến môi trường hơn, khi đó thương
mại quốc tế có tác dụng tốt đối với môi trường. Tuy nhiên, nếu một nước có khả
năng cạnh tranh tốt đối với những sản phẩm dựa trên các nguồn tài nguyên thiên
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương - -
12
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường
nhiên hoặc những hàng hoá mà khi sản xuất chúng có khả năng ô nhiễm cao thì
thương mại quốc tế lại làm cho nước đó bị gia tăng ô nhiễm môi trường, gây cạn
kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Tóm lại, thương mại quốc tế và môi trường có môí quan hệ chặt chẽ với nhau.
Phát triển thương mại quốc tế sẽ tạo ra động lực để phát triển kinh tế, nâng cao
đời sống và nhận thức của mỗi người về môi trường cũng như làm tăng chi phí
bảo vệ môi trường. Ngược lại, môi trường với vai trò là giá đỡ của cuộc sống,
bảo vệ môi trường, hạn chế khai thác quá mức, bảo tồn và phát triển các nguồn
tài nguyên không tái tạo là cơ sở để phát triển kinh tế, thương mại và thương
mại quốc tế một cách bền vững. Mặt khác, thương mại quốc tế có thể làm tổn
nghiên cứu với tựa đề Kiểm soát ô nhiễm công nghiệp và thương mại quốc tế.
Mãi đến năm 1991, tổ chức EMIT mới có cuộc họp đầu tiên, đưa ra một bản
dự thảo để phục vụ Hội nghị LHQ 1992 về môi trường và phát triển. Năm 1992,
UNCED đã tổ chức một cuộc hội nghị lớn hay còn được biết đến bởi tên ‘ đỉnh
cao của thế giới’, thông qua ‘ chương trình nghị sự 21’, chỉ ra tầm quan trọng
của việc thúc đẩy sự phát triển bền vững , thông qua một số biện pháp trong đó
có thương mại quốc tế.
Tháng 4 năm 1994, khi kết thúc vòng đàm phán Urguay, một quyết định cấp
bộ trưởng về thương mại và môi trường đã được thông qua. Một Uỷ ban về
thương mại và môi trường (CTE) thuộc khuôn khổ WTO đã được thành lập.
CTE tiếp quản công việc từ nhóm EMIT.
WTO không phải là một tổ chức bảo vệ môi trường, phạm vi thẩm quyền của
tổ chức này chỉ liên quan đến các chính sách về môi trường được giới hạn bởi
chính sách về thương mại và có thể dẫn đến những ảnh hưởng quan trọng đối
với thương mại. Các thoả thuận GATT/ WTO đã tạo cơ hội cho những chính
sách về bảo vệ môi trường quốc gia nhưng với điều kiện là không được phân
biệt đối xử; những cơ hội tiếp cận thị trường là yếu tố cần thiết để bảo đảm giúp
các nước đang phát triển phát triển bền vững. Về tăng cường sự hợp tác giữa các
quốc gia như là sự hợp tác đa phương cần thiết để đưa ra những vấn đề về gắn
thương mại với môi trường một cách tương xứng.
Một số điều khoản của GATT có liên quan trực tiếp tới các vấn đề gắn thương
mại với môi trường bao gồm điều I và III của GATT về sự không phân biệt đối
xử, cũng như các mục cụ thể của điều XX (GATT) về những ngoại lệ chung.
Tất cả các điều khoản GATT/ WTO liên quan đến các vấn đề gắn thương mại và
môi trường được trình bày dưới đây:
(1) S ự không phân biệt đối xử:
Quy tắc về sự phân biệt đối xử có hai phần: Quy chế tối huệ quốc( MFN) có
trong điều I và chính sách đãi ngộ quốc gia(NT) có ở trong điều III của GATT.
Theo điều I của GATT, các thành viên WTO nhất định phải dành các ưu đãi như
nhau đối với các sản phẩm như nhau được sản xuất từ các nước khác. Do đó,
….(b) cần thiết để bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật;
….(g) liên quan đến việc bảo tồn những nguồn tài nguyên đang bị cạn kiệt,
nếu những giải pháp này được thiết lập có hiệu quả, kết hợp với các hạn chế về
sản xuất và tiêu dùng trong nước.’
Điều XX(b) và (g) cho phép các hội viên WTO có quyền áp dụng – các giải
pháp chính sách nếu điều này “ cần thiết” để bảo vệ con người, động thực vật,
hoặc nếu các giải pháp liên quan đến việc bảo tồn những nguồn tài nguyên đang
cạn kiệt. Tuy nhiên, nội dung của điều XX nhằm để đảm bảo rằng GATT
không bao gồm các giải pháp mà gây ra sự phân biệt đối xử, sự thiết lập những
hạn chế về thương mại quốc tế. Có nghĩa rằng, các giải pháp đó chỉ nhằm các
mục đích môi trường chứ không phải vì mục đích bảo hộ mậu dịch.
(3) Đ iều khoản ngoại lệ chung trong hiệp định thương mại dịch vụ (GATS):
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương - -
15
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường
Tại vòng đàm phán Urguay, GATS có một điều khoản về những ngoại lệ
chung trong điều XIV, tương tự như ở điều XX của GATT, khi giải quyết các
vấn đề về môi trường. Điều này của GATS cho phép các thành viên của WTO
được thông qua GATT- cũng được áp dụng những giải pháp chính sách nếu
điều này ‘cần thiết cho việc bảo vệ con người, động thực vật hay sức khoẻ’ (và
cũng giống như điều XX(b) của GATT). Tuy nhiên, điều này phải không gây ra
sự phân biệt, và không tạo ra những hạn chế về thương mại quốc tế.
(4) Nh ững thoả thuận về hàng rào kĩ thuật trong thương mại quốc tế (TBT):
Trong thoả thuận tại vòng đàm phán Urguay về TBT, các thành viên đã đưa ra
những cố gắng để đảm bảo rằng các tiêu chuẩn và quy định về kĩ thuật cũng như
các thủ tục chứng nhận và kiểm tra, mà không gây cản trở với thương mại.
Trong phần mở đầu của thoả thuận đã thừa nhận những quyền của các nước để
thông qua các giải pháp này, với phạm vi họ cho là thích hợp- ví dụ về việc bảo
vệ sức khoẻ con người, động thực vật, hoặc về bảo vệ môi trường. Hơn nữa, các
thành viên được cho phép áp dụng các giải pháp để đảm bảo rằng họ đã đáp ứng
mại thế giới được tiếp tục không công nhận sáng chế cho một số đối
tượng như:
+ Động vật thực vật và những quy trình sinh học cần thiết nhưng với điều
kiện chúng phải phục vụ cho quá trình tạo ra những cấu trúc vi sinh vật mới và
những quy trình vi sinh vật.
+ Điều khoản này quy định các Quốc gia thành viên phải bảo vệ đa dạng sinh
học thông qua Quyền sáng chế hay hệ thống sui generis hoặc cả hai.
+ Hơn nữa, các quốc gia thành viên của tổ chức thương mại thế giới không
công nhận sáng chế cho một số đối tượng khi việc ngăn chặn sự thương mại hoá
của các đối tượng này là “cần thiết” để duy trì ổn định xã hội, giữ gìn đạo đức xã
hội, bảo vệ cuộc sống của con người, động thực vật và tránh những ảnh hưởng
xấu đến môi trường.’
(7) Tho ả thuận về những biện pháp để bù đắp và trợ cấp:
Thoả thuận về trợ cấp được áp dụng với những sản phẩm không thuộc nông
nghiệp tại vòng đàm phán Urguay nhằm để quy định việc trợ cấp. Theo thoả
thuận này, các biện pháp trợ cấp cụ thể được đề cập đến như biện pháp ‘ không
thể khiếu nại’. Nói chung, những biện pháp đều được thông qua trong thoả thuận
này. Theo điều 8 trong thoả thuận về các biện pháp trợ cấp trực tiếp đề cập đến
vấn đề môi trường, trong số các biện pháp về trợ cấp được đề cập đến, là các
biện pháp để thúc đẩy những điều kiện thuận lợi hiện có, thích ứng với những
yêu cầu của môi trường mới. Thông thường các quy định của luật pháp gây ra
những gánh nặng về tài chính cho các công ty (điều 8 (c)). Tuy nhiên, các biện
pháp trợ cấp này nhằm tạo điều kiện cho các thành viên kiểm soát được tình
trạng bên ngoài về môi trường khi có phát sinh.
(8) Th oả thuận về nông nghiệp
Được thông qua tại vòng đàm phán Urguay, thoả thuận về nông nghiệp đã cố
gắng cải cách lại việc kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp và đưa ra những cơ
sở chính sách định hướng thị trường. Trong phần mở đầu các thoả thuận này, đã
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương - -
17
gia nhập tổ chức này(WTO) để tìm kiếm các cơ hội thuận lợi trong việc phát
triển kinh tế của đất nước và coi đó là một mục tiêu cần phải đạt được. Vai trò
của WTO không chỉ quan trọng trong việc phát triển thương mại mà còn quan
trọng trong việc giải quyết các vấn đề môi trường.
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương - -
18
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường
2. Những điều khoản về thương mại trong các hiệp định môi trường đa
biên MEAs
MEAs (Multilateral Environmental Agreements) – những hiệp định môi
trường đa phương- là thuật ngữ dùng để chỉ các hiệp định môi trường được kí
kết giữa nhiều bên với nhau ( nhiều hơn hai nước trở lên) và đa phương ở đây có
hàm nghĩa là mang tính toàn cầu.
Trong số hơn 200 hiệp định môi trường đa phương hiện chỉ có khoảng 20
hiệp định là có những biện pháp thương mại. Tuy nhiên, nhiều hiệp định môi
trường đa phương (MEAs) như công ước Basel về những chất thải nguy hiểm,
Nghị định thư Montreal về những chất huỷ diệt tầng ôzôn hoặc Công ước buôn
bán quốc tế về những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng ( CITEs) là những hạn chế
đáng kể trong buôn bán quốc tế.
Một số hiệp định môi trường đa phương có các biện pháp thương mại:
Công ước về buôn bán quốc tế các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng (CITEs)-
1975 : có mục tiêu bảo vệ những động vật có nguy cơ bị diệt chủng. Công ước
này hạn chế việc buôn bán những loài theo mức độ về sự đe doạ diệt chủng.
Nghị định thư Montreal – 1987: cấm xuất khẩu những chất đã được kiểm soát
sang các nước không tham gia công ước và ngăn cản việc chuyển nhượng kĩ
thuật để sản xuất những chất đó.
Công ứơc Basel – 1992: cấm các nước xuất khẩu rác thải nguy hiểm mà
không được khẳng định bằng văn bản của nước nhập khẩu.
Công ước về đa dạng sinh học- 1993 : nhằm đảm bảo việc sử dụng một cách
công bằng các nguồn lợi từ gen
trường qua biên giới hay toàn cầu hay phải dựa trên cơ sở đồng nhất quốc tế.
Hơn thế nữa, bản tuyên bố nói rằng phải tránh những biện pháp thương mại đơn
phương nhằm đạt được những mục tiêu môi trường nằm ngoài phạm vi quyền
hạn của nước đó. Người ta lo ngại là phương sách đối với những biện pháp đơn
phương trong văn bản này dẫn đến nguy cơ có sự phân biệt đối xử giả tạo và bảo
hộ trá hình làm ảnh hưởng đến hệ thống thương mại và có thể đe doạ chương
trình môi trường quốc tế.
3. Quy định về môi trường trong ISO 14000
Rõ ràng, thương mại cần phải được củng cố và phát triển hơn nữa để nhằm
đảm bảo nhu cầu ngày càng tăng của cuộc sống con người. Bên cạnh đó, như đã
trình bày ở trên, môi trường cũng cần phải được bảo vệ và xem như là nền tảng
hay giá đỡ cho sự phát triển của xã hội loài người. Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc
tế ISO (International Stand Organisation) với bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là công
cụ hữu hiệu, một cuộc cách mạng trong việc giải quyết vấn đề về môi trường.
Trước khi bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000 được tiểu ban kĩ thuật TC 207 của
tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế biên soạn, một số nước và doanh nghiệp đã tiến
hành việc quản lí môi trường theo hệ thống. Còn hầu hết các nước và doanh
nghiệp khác đều áp dụng mô hình ‘ mệnh lệnh và kiểm soát’ nhằm đối phó với
tình hình thực tế và theo yêu cầu của luật pháp. Theo phương pháp cũ, để phù
hợp với các yêu cầu về môi trường, doanh nghiệp chỉ cần tập trung vào kiểm
soát chất thải cuối đường ống dẫn là có thể đáp ứng với các yêu cầu đặt ra. Việc
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương - -
20
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường
xử lí môi trường theo phương pháp cuối đường ống dẫn (end- of- pipe polution
control) vừa không hiệu quả lại vừa tốn kém. Các nhà môi trường đã chỉ ra rằng,
cách giải quyết vấn đề môi trường như vậy là thụ động, rời rạc, không tổng thể.
Đó chính là phương pháp hạn chế chứ không phải là phòng ngừa và chưa giải
quyết vấn đề một cách triệt để bởi vì nó mới chỉ tập trung vào dập chữa cháy
nhiều hơn là phòng cháy để cho đám cháy không xảy ra. Tuy nhiên, dù áp dụng
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường
Trong số các tiêu chuẩn nêu trên về hệ thống tiêu chuẩn áp dụng cho việc
quản lí môi trường thì tiêu chuẩn ISO 14001 về Hệ thống quản lí môi trường là
quan trọng nhất. Đây là tiêu chuẩn có thể sử dụng để bên thứ ba độc lập có thể
đánh giá một cách khách quan sự phù hợp giữa cam kết của tổ chức, doanh
nghiệp với các quy định của pháp luật về các vấn đề môi trường, cũng như đánh
giá các tác động lên môi trường của các hoạt động, sản phẩm hoặc dịch vụ của
tổ chức doanh nghiệp. Và tất nhiên, nó được dùng để xây dựng hoặc cải thiện
HTQLMT của họ.
Đây là tiêu chuẩn duy nhất của bộ tiêu chuẩn ISO 14000 quy định các yêu cầu
đối với Hệ thống quản lí môi trường bao gồm các yếu tố của HTQLMT mà các
tổ chức, doanh nghiệp muốn được chứng nhận phải thoả mãn. Các tiêu chuẩn
còn lại là các tiêu chuẩn mang tính chất hướng dẫn giúp cho việc xây dựng và
thực hiện HTQLMT có hiệu quả.
Tiêu chuẩn ISO 14001 được xây dựng trên cơ sở kế thừa các kinh nghiệm của
ISO 9000 ( về quản lí chất lượng sản phẩm theo hệ thống) và được thực hiện
theo mô hình quản lí P-D-C-A tương tự như ISO 9000. Các yếu tố của hệ thống
quản lí môi trường được chi tiết hoá trong ISO 14001 phải được áp dụng , lập
thành văn bản và thực hiện sao cho cơ quan Chứng nhận bên thứ ba có thể xác
minh và cấp giấy chứng nhận trên cơ sở của các bằng chứng xác thực rằng tổ
chức, doanh nghiệp đã áp dụng tốt và có thể duy trì HTQLMT được. ISO 14000
cũng thiết kế cho các tổ chức , doanh nghiệp muốn công bố sự phù hợp với tiêu
chuẩn cho các bên thứ hai có ý định sẵn sàng chấp nhận việc tự công bố mà
không có sự can thiệp của bên thứ ba.
ISO 14000 cung cấp cho tổ chức, doanh nghiệp một khuôn khổ để đạt được
sự quản lí môi trường một cách tin cậy và đầy đủ hơn. Các yêu cầu của hoạt
động, sản phẩm và dịch vụ của tổ chức bao gồm chính sách môi trường, nguồn
lực đào tạo vận hành đáp ứng các trường hợp khẩn cấp, đánh giá , kiểm tra đo
đạc và xem xét lại của lãnh đạo.
Một nội dung đáng lưu ý khác của bộ tiêu chuẩn ISO 14000 trong mối quan
trường. Các chủ trương về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường được thể hiện
khá rõ nét trong hầu hết các văn bản pháp luật cơ bản của nước ta.
Tư tưởng chỉ đạo quan trọng nhất về phát triển bền vững được thể hiện một
cách rõ ràng trong Hiến pháp của nước ta năm 1992. Điều 29 của Hiến pháp nêu
rõ “Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá
nhân phải thực hiện và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy
kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường.”. Tiếp đó Điều 112 của Hiến pháp cũng
đã quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong việc “thi hành những
biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho
công dân sử dụng quyền vè làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích
của Nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường”. Đây chính là tiền đề cơ bản
cho sự ra đời sau này của hàng loạt các đạo luật và văn bản dưới luật trong lĩnh
vực phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Một trong những đóng góp quan trọng đối với mục tiêu phát triển kinh tế bền
vững là việc ra đời Luật bảo vệ môi trường năm 1994. và Luật thương mại 1997.
Đây là hai văn bản pháp lý quan trọng nhất điều chỉnh hoạt động bảo vệ môi
Trần Minh Hoàng - Lớp A14 - K38D - Đại học Ngoại thương - -
23
Khoá luận tốt nghiệp Tác động của hoạt động xuất nhập khẩu đến môi trường
trường và hoạt động thương mại. Mặc dù trong hai bộ Luật này chưa thể hiện rõ
nét mối quan hệ giữa chính sách thương mại và chính sách môi trường trong
việc thúc đẩy phát triển bền vững nhưng rất nhiều điều khoản của chúng đã đề
cập đến một số khía cạnh thương mại liên quan đến môi trường cũng như nhiều
văn bản dưới luật khác được ban hành nhằm đảm bảo triển khai thương mại bền
vững trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Luật bảo vệ môi trường (1994) đã đề cập tới những vấn đề cơ bản trong việc
phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường hợp tác quốc
tế về bảo vệ môi trường, khen thưởng cũng như xử lý vi phạm những quy định
về bảo vệ môi trường. Nhiều điều khoản của luật cũng đã đề cập đến những vấn
đề môi trường liên quan đến hoạt động thương mại. đặc biệt là trong lĩnh vực
Khai thác, kinh doanh các loại thực vật, động vật quý hiếm trong danh mục quy
định của Chính phủ; Nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn
môi trường; nhập khẩu, xuất khẩu chất thải; sử dụng các phương pháp, phương
tiện, công cụ huỷ diệt hàng loạt trong khai thác, đánh bắt các nguồn động vật,
thực vật.
Như vậy có thể nhận thấy rằng, Luật bảo vệ môi trường đã đề cập đến hầu hết
các vấn đề môi trường liên quan đến phát triển kinh tế, trao đổi thương mại, điều
chỉnh phần lớn các hành vi của cá nhân và tổ chức trong việc bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, chưa có sự gắn kết các vấn đề môi trường với phát triển thương mại
khi nước ta mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiều điều khoản của
Hiệp định thương mại đa biên liên quan đến môi trường chưa được thể hiện rõ
trong văn bản pháp luật này.
Để hoà nhập các vấn đề môi trường vào trong các chính sách thương mại cần
phải có sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp, trong đó Chính phủ phải có
chương trình định hướng cho hoạt động này. Ngoài Luật bảo vệ môi trường nói
trên, trong những năm qua đã có nhiều văn bản pháp lý điều tiết vấn đề phát
triển kinh tế và bảo vệ môi trường như Luật đất đai (1993), Luật bảo tồn và phát
triển tài nguyên rừng (1991), Luật khoáng sản (1996) Pháp lệnh về nguồn thuỷ
sản (1989), Pháp lệnh thuế tài nguyên (1990)… Song song với các văn vản Luật
nêu trên, Chính phủ cũng đã ban hành chiến lược về cải tiến công tác quản lý
môi trường, bao gồm việc thực hiện Chương trình nghị sự 21, chương trình kiểm
soát ô nhiễm công nghiệp và đô thị, chương trình quốc gia về bảo vệ rừng, loại
bỏ các chất làm thủng tầng ôzôn, hành động quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh
học.
Đồng thời, Việt Nam cũng đã tham gia ngày càng nhiều các điều ước quốc tế
về môi trường có liên quan đến thương mại như : Công ước quốc tế về buôn bán
các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (1994); Công ước Viên về bảo vệ tầng
ozon(1994); Nghị định thư Montreal về biến đổi khí hậu (1994) Công ước khung
về biến đổi khí hậu (1994)
Luật Thương mại được Quốc hội ban hành ngày 10/5/1997 cũng đã đề cập