Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
LỜI NÓI ĐẦU
Năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức thương mại thế giới WTO. Điều này tạo ra cho cả nền kinh tế nói chung
và các doanh nghiệp nói riêng những thời cơ thuận lợi cho sự phát triển trong
tương lai, đồng thời nó cũng tạo ra những thách thức khó khăn không nhỏ cho
các doanh nghiệp tham gia trong nền kinh tế. Một trong những khó khăn cơ
bản mà chúng ta gặp phải là tình trạng thiếu vốn đầu tư. Tuy nhiên hiệu quả
của việc sử dụng vốn như thế nào là điều quan trọng hơn cả và hiện nay vấn
đề này đang mang tính thời sự thu hút sự quan tâm rộng rãi của mọi thành
phần kinh tế trong xã hội.
Để đáp ứng nguồn tài chính cho hoạt động đầu tư, nhất là đối với các
dự án có quy mô lớn, các chủ đầu tư phải tìm kiếm nguồn tài chính hỗ trợ từ
bên ngoài. Việc thu hút vốn đầu tư xã hội để tài trợ cho dự án thông qua nhiều
con đường khác nhau. Trong đó, nguồn tài trợ vốn cho dự án từ các Ngân
hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, nhất là trong điều kiện Việt Nam hiện
nay, khi các kênh dẫn vốn khác còn rất hạn chế hoặc hoạt động chưa được
hiệu quả. Trong quá trình thực hiện tài trợ dự án, điểm mấu chốt nhất mà các
Ngân hàng đều quan tâm đó là tính hiệu quả và tính an toàn của khoản đầu tài
trợ cung ứng cho dự án.
Sử dụng vốn thực sự là một bài toán khó và cấp bách, đòi hỏi phải có
những giải pháp kịp thời và hiệu quả. Một trong số đó chúng ta có thể tìm ra
từ công tác thẩm định tại các ngân hàng.
Từ những lý do như trên và được sự hướng dẫn của các anh chị cán bộ
Phòng thẩm định Sở giao dịch I Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam, em đã lựa chọn tìm hiểu chuyên đề với đề tài: “Nâng cao
chất lượng thẩm định tài chính dự án cho vay tại Sở giao dịch I Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam. Mặc dù đã cẩn thận
giới hạn chuyên đề vào mặt thẩm định tài chính, nhưng em cũng biết rằng
thẩm định là một công việc đòi hỏi rất nhiều kinh nghiệm và phương pháp
tiếp cận. Vì vậy, phương pháp nghiên cứu mà em sử dụng ở đây cũng đơn
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I/ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ.
1. Dự án đầu tư:
a/ Đầu tư - theo cách hiểu đơn giản nhất - là việc hi sinh một hoặc một
số lợi ích nào đó trong hiện tại để đạt được những lợi ích lớn hơn trong tương
lai. Tuy vậy, một khái niệm quá rộng thường ít có ý nghĩa. Các ngân hàng, để
phục vụ tốt cho hoạt động của mình thì cần một định nghĩa hẹp hơn, theo đó
các hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm duy trì tiềm lực
sẵn có hoặc tạo ra tiềm lực lớn hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ sinh hoạt, đời sống...
Dựa theo các tiêu chí khác nhau như thời gian dự án, quan hệ quản lý
của chủ đầu tư, lĩnh vực hoạt động, đặc điểm hoạt động... hoạt động ĐT được
chia ra thành nhiều loại khác nhau để tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra
các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư theo dự án.
Phần chủ yếu và quan trọng nhất trong các hoạt động đầu tư được tiến
hành dưới dạng các dự án ĐT. Theo Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng cơ
bản (ban hành kèm theo nghị định 42-CP ngày 16/7/1997 và NĐ số 92-CP sửa
đổi Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản): Dự án đầu tư (DAĐT) được
hiểu là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn ra để tạo mới, mở rộng hoặc
tái tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng,
cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một
thời gian xác định đã định trước.
Nhiều hoạt động của một dự án đầu tư thường phức tạp và kéo dài, điều
đó đòi hỏi phải hình thành một tổ chức hay cá nhân trực tiếp quản lý và chịu
trách nhiệm về các hoạt động của dự án, đó chính là chủ đầu tư dự án. Cũng
theo Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản: Chủ đầu tư là các cá nhân
hoặc tổ chức có tư cách pháp nhân được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý, sử
dụng vốn đầu tư theo đúng qui định của pháp luật hiện hành.
Với các dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước hoặc dự án có cổ phần chi
phối hoặc cổ phần đặc biệt của nhà nước thì chủ đầu tư là doanh nghiệp nhà
# Thứ nhất là g iai đoạn chuẩn bị đầu tư:
- Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư dự án.
- Thực hiện công việc tiếp xúc thăm dò thị trường trong hoặc ngoài
nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm. Phải xem
xét khả năng có thể huy động các nguồn vốn để đầu tư và lực chọn hình thức
đầu tư theo dự án.
- Điều tra khảo sát và chọn địa điểm xây dựng cho dự án.
4
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
- Tiến hành lập dự án đầu tư.
- Lập bản thẩm định dự án để quyết định đầu tư.
# Thứ hai là giai đoạn thực hiện đầu tư:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (bao gồm cả
mặt nước. mặt biển).
- Tổ chức đền bù, giải phóng mặt bằng; chuẩn bị mặt bằng xây dựng.
- Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kĩ thuật và
chất lượng công trình.
- Thẩm định thiết kế, tổng dự toán công trình.
- Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp.
- Xin giấy phép xây dựng công trình (nếu quy định phải có) và giấy
phép khai thác tài nguyên (nếu có).
- Ký kết hợp đồng với nhà thầu để thực hiện dự án.
- Thi công xây lắp công trình.
- Theo dõi kiểm tra việc thực hiện các hoạt động.
- Quyết toán vốn đầu tư xây dựng sau khi hoàn thành xây lắp đưa dự án
vào khai thác, sử dụng.
* Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử dụng:
-Bàn giao công trình.
-Kết thúc xây dựng.
-Bảo hành công trình.
cuộc thẩm định DAĐT. Bên cạnh nhiều mục tiêu đặc biệt khác, các nhà đầu tư
có một mục tiêu chủ yếu là làm sao để có được một lợi ích tài chính (thu nhập
bằng tiền) thích đáng và tối đa cho dự án đầu tư của họ. Vì vậy, độ lớn và tính
chắc chắn của các luồng thu nhập tài chính trong tương lai luôn là mối quan
tâm hàng đầu của họ, nó xuyên suốt quá trình thẩm định cũng như quá trình
thực hiện và khai thác DAĐT.
Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư: là người đại
diện cho lợi ích của toàn thể mọi người, toàn xã hội nên phải đứng trên quan
điểm tổng thể để xem xét các DAĐT. Không chỉ là chi phí và lợi ích thuần tuý
vật chất, cũng không phải chỉ là một hay một nhóm người mà phải là lợi ích
đạt được và chi phí phải bỏ ra đối với toàn xã hội khi DAĐT được thực hiện,
phải được cân nhác xem xét trong quá trình thẩm định. Các cơ quan này phải
luôn quan tâm tới những đóng góp của dự án cho nền kinh tế, cho xã hội
trong sự so sánh với những thứ mà dự án lấy đi của xã hội. Một tập hợp các
chỉ tiêu phải xem xét, tính toán như là: mức độ tạo công ăn việc làm, cải thiện
đời sống nhân dân, tăng thu ngân sách Nhà nước, thúc đẩy các ngành khác
6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
phát triển... những tác động tới môi trường, việc sử dụng tài nguyên thiên
nhiên và con người...
Các nhà tài trợ (như các thể chế tài chính, NSNN, các tổ chức, các cá
nhân khác...) khi quyết định tài trợ bao nhiêu, cho ai và tài trợ như thế nào
đều phải cân nhắc xem liệu DAĐT đó có đáp ứng được mục tiêu mong muốn
của họ hay không. Cho dù đó là mục tiêu lợi nhuận, kinh tế chính trị hay mục
tiêu xã hội, nhân đạo... một quyết định đúng đắn và một kết quả mong đợi
luôn phụ thuộc phần lớn vào việc thẩm định các DAĐT.
c/ Các mặt thẩm định chủ yếu:
*Pháp lý: Việc thẩm định mặt pháp lí nhằm đảm bảo việc tuân thủ luật
pháp của chủ dự án và các hoạt động của dự án, tránh việc xâm phạm những
quy định, luật lệ do nhà nước ban hành cũng như việc đi ngược lại các định
Sự phân chia các mặt thẩm định ở đây với mục đích là làm cho nhận
thức của chúng ta được toàn diện hơn. Tuy nhiên, đây chỉ là sự phân chia
tương đối và trên thực tế cũng không hề có sự thống nhất trong việc chia tách
các nội dụng cụ thể vào các mặt thẩm định khác nhau. Hơn thế nữa, giữa các
nội dụng các mặt thẩm định luôn tồn tại một mối quan hệ mật thiết quyết định
lẫn nhau. Các cán bộ thẩm định không thể chỉ xem xét một hoặc một số mặt
một cách phiến diện. Cho dù là chủ đầu tư, cơ quan nhà nước, hay nhà tài trợ
thì họ đều phải xem xét toàn diện mọi khía cạnh của dự án và sự khác nhau
chỉ là ở chỗ họ đặt trọng tâm vào đâu mà thôi.
II/ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1. Quy trình thẩm định tài chính dự án của Ngân hàng thương mại.
Trước khi phê duyệt và cấp các khoản vay, cán bộ tín dụng cần phải
thẩm định kỹ càng về bộ hồ sơ vay vốn mà khách hàng gửi đến theo các
trình tự sau:
1.1. Thẩm định tư cách pháp lý
Thẩm định tư cách pháp lý của khách hàng vay vốn là việc xem xét
năng lực pháp luật và năng lực hành vi của họ. Mục đích và nội dung của
việc thẩm định này nhằm khẳng định điều kiện thứ nhất được quy định tại
điều 7 (điều kiện vay vốn) là: "khách hàng vay vốn phải có năng lực pháp
luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy
định của pháp luật. Để tiến hành thẩm định tư cách pháp lý của khách hàng,
Ngân hàng lần lượt xem xét các giấy tờ sau:
+ Quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập
+ Đăng ký kinh doanh
+ Điều lệ
Cấp có thẩm quyền nào quyết định thành lập thì cấp đó phê duyệt điều lệ.
+ Quyết định bổ nhiệm tổng giám đốc, giám đốc
8
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
- Nhận xét tính hợp pháp, hợp lệ về kế hoạch sản xuất kinh doanh của
khách hàng nếu khách hàng xin duyệt hạn mức tín dụng cho cả năm thì cơ sở
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
để tính toán nhu cầu vốn vay là kế hoạch sản xuất kinh doanh đã được cấp có
thẩm quyền phê duyệt.
- Nhận xét về các hợp đồng giữa khách hàng vay vốn với người cung
ứng nguyên, nhiên vật liệu...
1.3.2. Xác định khả năng thực hiện dự án, nhu cầu vốn vay và khả năng trả
nợ.
Qua thẩm định bộ hồ sơ và tình hình thực tế khách hàng, cán bộ
thẩm định đưa ra các nhận xét sau:
- Tính hợp pháp hay không hợp pháp của doanh nghiệp dựa trên cơ
sở năng lực sản xuất kinh doanh, công nghệ và công suất máy móc thiết bị
thực tế.
- Thực tế cung cấp nguyên, nhiên, vật liệu và các yếu tố đầu vào
- Thực tế tiêu thụ sản phẩm và các nhân tố ảnh hưởng
- Xác định vốn của khách hàng tham gia vào sản xuất kinh doanh
- Tính hợp lý của vòng quay vốn lưu động kỳ kế hoạch (so sánh với kỳ
trước).
- Xác định được tổng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của khách
hàng từ đó xác định nhu cầu vốn vay.
Tuy nhiên cần phải so sánh nhu cầu vốn vay với tài sản làm đảm bảo
nợ vay và khả năng nguồn vốn của khách hàng để quyết định mức vay cho
phù hợp với quy định hiện hành của Ngân hàng.
Kết thúc bước thẩm định kỳ này, cán bộ tín dụng phải rút ra nhận xét
và đưa ra đề xuất đối với nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong phần
nhận xét, cán bộ thẩm định phải tóm tắt lại toàn bộ những nội dung chính
về nhu cầu vay vốn, các chính sách, chế độ của Nhà nước có liên quan.
Phần đề xuất nói rõ đồng ý hay không đồng ý cho vay, với mức cho vay,
+ Thời hạn vay tiền, lãi suất, nguồn trả.
+ Những biện pháp bảo đảm tiền vay.
+ Ngoài ra khách hàng có cam kết về việc sử dụng tiền vay.
- Những tài liệu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự.
+ Đối với pháp nhân là doanh nghiệp tư nhân: Phải có quyết định
thành lập, đăng ký kinh doanh hay giấy phép hành nghề (nếu có ), khách
hàng phải có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ( nếu có ). Nếu là công
ty thì phải có điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm của người điều hành
và kế toán trưởng.
+ Đối với hộ gia đình và cá nhân: Phải có giấy phép kinh doanh, hợp
đồng hợp tác (đối với những tổ hợp tác), chứng minh thư, hộ khẩu hoặc
giấy phép hành nghề (nếu có).
11
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
- Dự án hay phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng: Đối với
tất cả các trường hợp xin vay vốn thì kế hoạch kinh doanh nên do chính
người xin vay hoặc cố vấn của người xin viết.
- Các tài liệu báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời
sống và khả năng tài chính của khách hàng như: Bảng tổng kết tài sản, tài
khoản lỗ lãi hoặc chi phí thu nhập... Các tài liệu này giúp Ngân hàng đánh
giá được mục đích sử dụng tiền vay và khả năng tự bù đắp của khách hàng.
- Tài liệu chứng minh về tính hợp pháp và giá trị các tài sản bảo đảm nợ
vay.
Ngoài ra cán bộ tín dụng còn căn cứ vào các văn bản pháp lý có liên quan
đến việc thẩm định hồ sơ vay vốn lưu động như là:
* Các luật đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua bao gồm:
- Bộ Luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 1/7/1996 quy định trách nhiệm
và nghĩ vụ của người vay vốn, bên bảo lãnh đối với ngân hàng.
- Luật các Tổ chức tín dụng được thông qua ngày 12/12/1997.
Biểu hiện cụ thể là:
- Đối với pháp nhân: Một đơn vị có đầy đủ tư cách pháp nhân phải
được cấp có thẩm quyền cấp đầy đủ các giấy tờ sau:
+ Giấy phép hoạt động
+ Đăng ký kinh doanh
+ Điều lệ hoạt động
+ Quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc, Giám đốc, Chủ nhiệm...
+ Giấy phép hành nghề ( Nếu có).
Các giấy tờ trên phải phù hợp với quy đinh trong luật Doanh nghiệp
Nhà nước, luật Doanh nghiệp Tư nhân, luật Công ty, luật Hợp tác xã, luật
Đầu tư nước ngoài...
Có như vậy Ngân hàng mới có cơ sở quyết định duyệt một dự án
vay.
- Đối với thể nhân: Phải có giấy CMND, giấy hôn thú, sổ hộ khẩu...
2.2.2. Uy tín của người vay vốn
Đây là yếu tố quan trọng hơn cả trong toàn bộ mối quan hệ giữa
Ngân hàng Thương Mại với khách hàng. Bởi lẽ bản thân của từ " Tín dụng
" cũng như một trong những đặc trưng của tín dụng là sự tin tưởng và tín
nhiệm trong quan hệ vay mượn. Tuy nhiên, việc thẩm định uy tín của người
vay là hoàn toàn mang tính chủ quan nên rất khó đánh giá chính xác. Xong
có thể xem xét ở một vài khía cạnh khác nhau sau:
- Quá trình hoạt động: Về mặt này, đối với những khách hàng mới
quan hệ lần đầu thì hoàn toàn khó khăn đối với Ngân hàng trong việc đánh
giá uy tín của họ. Có làm được thì cũng tốn kém và mất thời gian. Tuy
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
nhiên đối với những khách quen, thường xuyên giao dịch, vay vốn của
Ngân hàng thì việc đánh giá uy tín của họ có thể thực hiện được. Uy tín của
họ được thể hiện ở việc thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ trả nợ, ở tình hình
sản xuất kinh doanh ổn định và ở khả năng tài chính lành mạnh...
14
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
- Doanh thu : Là chỉ tiêu kinh tế cơ bản phản ánh chất lượng của quá
trình tiêu thụ hàng hoá.
Nhìn chung, doanh thu tăng là một biểu hiện tốt, phản ánh tình hình
tài chính của doanh nghiệp lành mạnh, có năng lực mở rộng sản xuất, có
điều kiện trả nợ ngân hàng. Tuy nhiên để đi đến quyết định cho vay ngân
hàng cần phải phân tích nguyên nhân dẫn đến việc tăng doanh thu bởi lẽ
không phải tất cả các trường hợp doanh thu đều đem lại cho doanh nghiệp
một khoản lợi nhuận lớn hơn.
- Lợi nhuận: Là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, đánh giá toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tính bằng chênh lệch
giữa giá thành và giá bán sản phẩm. Lợi nhuận càng cao thể hiện toàn bộ
quá trình hoạt động của doanh nghiệp càng có hiệu quả, khả năng sử dụng
vốn vay đạt mục tiêu kinh tế đặt ra càng vững vàng, khoản tín dụng của
ngân hàng càng có điều kiện trả đúng hạn.
Bên cạnh đó, khi phân tích đánh giá tình hình sản xuất của doanh
nghiệp, cán bộ tín dụng cần phải xem xét đến loại hình sản xuất, công
nghệ, máy móc, thiết bị và đặc điểm loại sản phẩm của doanh nghiệp để từ
đó biết được doanh nghiệp đang sản xuất và đầu tư vào mặt hàng gì, nhu
cầu của thị trường về loại sản phẩm đó có cao hay không, công nghệ sản
xuất có hiện đại, cập nhật đủ sức thắng các đối thủ cạnh tranh trên thị
trường hay không, sản xuất của doanh nghiệp có mang tính thời vụ không
và việc vay vốn đầu tư vào thời điểm đó có hợp lý không. Ngoài ra, cán bộ
tín dụng cũng cần tìm hiểu thêm về khách hàng, bạn hàng của doanh
nghiệp. Họ là ai, uy tín trên thị trường ra sao và quan hệ với doanh nghiệp
như thế nào.
Phân tích đánh giá một cách cẩn thận các chỉ tiêu trên sẽ giúp ngân
hàng hạn chế được rủi ro tín dụng đến từ phía ngân hàng và từ phía khách
hàng.
doanh nghiệp. Ngân hàng xem xét để tính toán được nhu cầu về vốn lưu
động của doanh nghiệp, số vốn doanh nghiệp đã có được tài trợ và số vốn
cần vay.
Trên cơ sở phân tích vốn cố định và vốn lưu động của doanh nghiệp,
cán bộ tín dụng tính toán tỷ trọng giữa hai loại vốn này là bao nhiêu, đã phù
hợp với đặc điểm loại hình sản xuất của doanh nghiệp chưa, và việc cấp tín
dụng bổ sung là cần thiết hay không?
2.2.4.2. Hệ số tự tài trợ
Hệ số tự tài trợ của doanh nghiệp là chỉ tiêu khái quát, phản ánh khả
năng tự đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp, được thể hiện theo công
thức:
16
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
Hệ số tự tài trợ =
Nguồn vốn doanh nghiệp hiện có
Tổng nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng
Trong đó:
- Nguồn vốn doanh nghiệp hiện có bao gồm: Nguồn vốn cố định,
nguồn vốn lưu động, nguồn vốn xây dựng cơ bản, các quỹ doanh nghiệp,
nguồn kinh phí và lợi nhuận chưa phân phối.
- Tổng nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng gồm: nguồn vốn doanh
nghiệp hiện có, nguồn vốn đi vay ngân hàng và nguồn thanh toán. Như vậy,
hệ số tự tài trợ càng lớn thì khả năng tự tài trợ, sử dụng vốn của doanh nghiệp
càng cao kinh doanh của doanh nghiệp ít phụ thuộc vào vốn bên ngoài, doanh
nghiệp có thể chủ động về vốn và khoản vay của ngân hàng được an toàn hơn.
Tín dụng phát ra trong trường hợp đó sẽ có chất lượng.
2.2.4.3. Năng lực đi vay của khách hàng:
Là khả năng của doanh nghiệp kêu gọi xin vốn căn cứ vào kết cấu tài
chính của bảng tổng kết tài sản và vào năng lực tự tài trợ của doanh nghiệp.
Năng lực đi vay của doanh nghiệp phụ thuộc vào quy mô, tình hình thực tế tại
vay ngân hàng. Do vậy, để phòng tránh rủi ro thì ngân hàng cần phải thẩm định kỹ
trước khi cho vay.
2.2.4.5. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt là doanh nghiệp có đủ
khả năng trả các khoản nợ khi đến hạn. Thông thường muốn biết chính xác
khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt hay xấu, ngân hàng cần phải căn
cứ vào tình hình tài chính. Để đánh giá chính xác chỉ tiêu này cần xem xét
đánh giá qua các chỉ tiêu:
Khả năng thanh toán chung, khả năng thanh toán ngắn hạn, khả năng
thanh toán nhanh và khả năng thanh toán cuối cùng.
Các NHTM thực hiện hoạt động kinh doanh vốn lưu động của mình
qua việc cho các doanh nghiệp vay vốn nhằm bổ sung nhu cầu vốn phát sinh
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, việc đầu tư vốn lưu động ở các
NHTM được thực hiện khi doanh nghiệp gửi đến ngân hàng phương án vay
vốn của doanh nghiệp. Điều này cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp mới hoạt
động, chưa có số liệu để cán bộ tín dụng đánh giá hoạt động kinh tế của doanh
nghiệp đó.
2.2.5. Đánh giá phương án vay vốn của doanh nghiệp
2.2.5.1. Sự cần thiết phải đầu tư vào phương án đó
Phương án đầu tư là một tập hợp những đề xuất trên cơ sở những căn cứ
khoa học và thực tiễn về việc bỏ vốn đầu tư xây dựng mới, mở rộng, cải tạo,
đổi mới kỹ thuật và công nghệ nhằm đạt được những tăng trưởng sản lượng cải
tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ trong một khoảng thời
gian nhất định. Tuy nhiên không phải phương án nào cần vốn là ngân hàng
cũng đáp ứng, ngân hàng chỉ cho vay đối với những phương án có tính khả thi,
có khả năng sinh lời và những phương án mà ngân hàng cảm thấy thực sự cần
thiết phải đầu tư. Về mặt này, khi đánh giá ngân hàng xem xét ở các khía cạnh
sau:
Thứ nhất: ngân hàng phải đánh giá được mục tiêu của dự án có phù hợp
và đáp ứng được mục tiêu phát triển của ngành, của địa phương và của cả nước
dễ tìm không, nguồn nguyên vật liệu nhập từ đâu, tính ổn định có cao không,
nguồn cung cấp, giá cả chất liệu nguyên vật liệu không những ảnh hưởng đến
tính khả thi của dự án mà còn ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp, tác dụng đến khả năng tự trả nợ vay ngân hàng.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: sản phẩm của dự án có thị trường tiêu
thụ không, khối lượng, chất lượng, mẫu mã chủng loại giá cả sản phẩm của
dự án có phù hợp với nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng hay không.
19
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
- Hiệu quả kinh tế do dự án đem lại:
Tỷ suất lợi nhuận
=
Lãi ròng
x 100%
Tổng vốn đầu tư
Cán bộ tín dụng tiến hành so sánh tỷ suất lợi nhuận với lãi suất tiền gửi
ngân hàng. Nếu tỷ suất lợi nhuận > lãi suất tiền gửi ngân hàng thì ngân hàng
có thể cho vay được và ngược lại.
- Phân tích khả năng đáp ứng về vốn cho các dự án:
Cán bộ tín dụng phải tập trung làm rõ các nguồn vốn mà doanh nghiệp
sử dụng để phục vụ dự án. Trước hết cần phải xác định tổng vốn đầu tư.
Tổng vốn đầu tư = Vốn cố định + Vốn lưu động + Dự phòng
Khi đầu tư cần đánh giá chính xác tổng vốn đầu tư, tránh tình trạng
tính tổng vốn đầu tư quá cao để tranh thủ vốn, gây lãng phí vốn hoặc tính
tổng vốn đầu tư quá thấp nhằm tạo hiệu quả kinh tế giả tạo. Ngoài ra, ngân
hàng cũng cần xác định xem dự án được thực hiện bằng nguồn vốn nào để
biết được số vốn tự có của doanh nghiệp tham gia vào dự án là bao nhiêu
mà quyết định cho vay hay không cho vay.
- Đánh giá khả năng rủi ro của dự án:
Việc tính toán khả năng rủi ro của phương án vay vốn chỉ là lý thuyết vì
a/ Khái quát
Việc phân tích đánh giá tài chính một dự án đầu tư có thể nói chính là
việc xem xét và kết luận về các báo cáo tài chính DAĐT đó, do chủ đầu tư
lập( hay thuê người khác lập). Các báo cáo tình chính là sự phản ánh tổng hợp
nhất các khía cạnh: kỹ thuật, kinh tế của dự án trong suốt thời gian tồn tại.
Mục tiêu của chúng ta là xác định mối tương quan giữa thu nhập và chi phí,
khả năng trả nợ cũng như sự phát triển và biến động của dự án trong tương
lai, tất nhiên là về mặt lý thuyết, và trên cơ sở sử dụng một cách tốt nhất tất cả
những thông tin có thể có được ở thời điểm hiện tại. Để đạt được điều này,
các báo cáo tài chính (BCTC) phải được xây dựng và thẩm định theo một
cách thức đảm bảo tính khoa học và sự rõ ràng sao cho nó là một bản dự báo
tốt nhất có thể về kết quả tài chính của dự án tại một thời điểm trong tương
lai. Từ đó chúng ta sẽ có một hình ảnh về tình trạng tài chính và sự biến động
của các dự án qua thời gian, việc còn lại chỉ là ra quyết định về tính khả thi
của dự án.
Vì là một bức tranh tổng hợp, việc xây dựng các BCTC vô cùng phức
tạp, trực tiếp phụ thuộc vào kết quả của các kế hoạch đầu tư, kế hoạch sản xuất,
tiêu thu... mà các kế hoạch này đến lượt mình lại được quết định bởi các phân
tích về thị trường và về khả năng tài chính cũng như việc tài trợ cho dự án.
b/ Lập kế hoach đầu tư (KHĐT) .
KHĐT chính là tiến độ bỏ vốn theo thời gian được xác định từ các
nghiên cứu về thị trường, tổ chức, công nghệ và việc tài trợ cho dự án. Đồng
21
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
thời với việc đặt ra kế hoạch bỏ vốn theo thời gian, nội dung của các chi phí
phải được chi tiết hoá cho phù hợp yêu cầu như: mua sắm thiết bị, đền bù giải
phòng mặt bằng, đặt cọc... Nguồn và cách thức tài trợ cho từng đợt bỏ vốn
cũng phải được làm rõ.
Như vậy, kế hoạch đầu tư hợp lý là cơ sở không thể thiếu được cho việc
triển khai có hiệu quả việc đầu tư giúp chúng ta loại bỏ các chi phí không cần
lợi ích được tính chính là phần tăng thêm. Nhưng những tài sản được tạo ra từ
trước nay sử dụng cho dự án mới mà lẽ ra nó có thể được đem bán trong
trường hợp không có dự án mới thì giá trị của nó phải được tính như là một
chi phí của dự án mới. Khi kết thúc dự án, các tài sản của dự án thường vẫn
còn giá trị. Vì vậy dự án có một dòng tiền vào có có thể là bằng giá trị thanh
lý hay giá trị sử dụng mới của các tài sản đó.
e/ Kế hoạch vốn lưu động.
Là việc xác định khoản tiền cần thiết hàng năm để chi phi thường
xuyên đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của dự án được thuận lợi.
Vốn lưu động bao gồm tiền mặt, hàng lưu kho, chênh lệch giữa các
khoản phải thu và phải trả.
- Tiền mặt: nhu cầu tiền mặt phụ thuộc vào chi phí thường xuyên, có
thể tăng lên hay giảm xuống (tuỳ vào tình hình phát sinh thực tế trong quá
trình hoạt động) ngay cả khi các khoản mua, doanh thu... không thay đổi.
- Hàng tồn kho: bao gồm toàn bộ nguyên vật liệu, bán thành phẩm,
thành phẩm trong kho tại một thời điểm. Sự thay đổi của vốn lưu động ( có
liên quan tới hoạt động của dự án) thường ảnh hưởng trực tiếp tới dòng tiền
vào, ra của dự án.
f/ kế hoạch trả nợ.
Kế hoạch trả nợ được xây dựng trên cơ sở kế hoạch vay nợ và điều kiện
tài trợ của từng nguồn vay. Tuy nhiên, trong giai đoạn lập dự án nhiều điều
kiện vay trả cụ thể chưa được khẳng định mà chủ yếu dựa vào các điều kiện
thông lệ của những nguồn dự định vay. Vì vậy kế hoạch trả nợ thường mang
tính chủ quan.
Kế hoạch trả nợ cũng cho thấy điều kiện tài chính cần phải đảm bảo để
dự án khả thi. Những dự tính trong kế khoạch trả nợ cho phép chủ đầu tư xem
xét các nguồn tài trợ thích hợp hoặc điều kiện cần phải đạt được khi đàm phán
hợp đồng vay cụ thể.
Kế hoạch trả nợ dựa trên các phương thức thanh toán của các nhà tài
trợ áp dụng đối với khoản vay, trong đó hai yếu tố cơ bản là:
Các tài liệu thông tin và phân tích thị trường trong và ngoài nước từ các
trung tâm nghiên cứu về thị trường trong và ngoài nước, những thông tin trên
các sách quảng cáo hay tạp chí thương mại.
Các ý kiến tham gia của các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia. Tài
liệu ghi chép qua các đợt tiếp xúc, phỏng vấn chủ đầu tư, khách hàng và các
đối tác của chủ đầu tư.
3.2. Đánh giá
Việc thẩm định tính khả thi của dự án về nội dung tài chính là một quá
trình bắt đầu từ việc xem xét lại kế hoạch nguồn vốn, kế hoạch đầu tư, kế
24
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
hoạch sản xuất, kinh doanh phân tích thị trường... cho đến lúc tính toán các
chỉ tiêu tài chính và ra quyết định. Trong đó, các chỉ tiêu tài chính sẽ thể hiện
trực tiếp tính khả thi của dự án một cách thích hợp và đầy đủ nhất. Tuy nhiên,
trên thực tế, những công việc xem xét trước đó để đem lại những con số chính
xác trong các báo cáo tài chính lại tỏ ra nặng nhọc hơn và nếu như những con
số đó không đáng tin cậy thì các chỉ tiêu tài chính cũng trở nên vô nghĩa.
Để phân tích một cách toàn diện hiệu quả tài chính của các dự án,
chúng ta có một loạt các chỉ tiêu khác nhau nhưng tựu chung lại thì có hai
nhóm lớn:
a/ Các chỉ tiêu tài chính giản đơn.
- Lợi nhuận ròng: là tổng lợi nhuận thu được trong hoạt động (cộng dồn
qua các năm)
LN = Tổng doanh thu - Tổng chi phí - Thuế các loại
Chỉ tiêu này chỉ có giá trị đối với các DAĐT ngắn hạn, mà ít có giá trị
đối với dự án trung dài hạn do tác động yếu tố giá trị thời gian của tiền.
- Tỉ suất lợi nhuận giản đơn: là tỉ số giữa lợi nhuận của một năm hoạt
động điển hình trên tổng chi phí đầu tư. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt và nếu
lớn hơn lãi suất phổ biến trên thị trường thì dự án là khả thi. Tuy nhiên chỉ
tiêu này có nhiều hạn chế vì khó xác định năm lợi nhuận điển hình, chưa tính