1
Luận văn
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
RỪNG DỰA VÀO CỘNG
ĐỒNG TẠI VÙNG TÂY
NGUYÊN
2
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết của đề tài 6
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài: 8
3. Phạm vi nghiên cứu 9
4. Các phương pháp nghiên cứu 9
5. Cấu trúc chuyên đề 9
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined.
LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined.
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG
ĐỒNG VÀ KINH NGHIỆM QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM. 10
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý rừng dựa vào cộng đồng 10
1.1.1 Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) 10
1.1.2 Nội dung chủ yếu của CBFM 10
1.1.3. Các giai đoạn cơ bản trong việc thực hiện CBFM 14
1.2. Quyền lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng được giao
rừng, khoán bảo vệ rừng. 15
2.4.1 Vai trò của rừng đối với cộng đồng dân tộc Tây Nguyên 42
2.4.2 Nguyên tắc quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở Tây Nguyên 45
2.5 Thực trạng triển khai và áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng
đồng ở vùng Tây Nguyên 47
2.5.1 Tiến trình triển khai mô hình 47
2.5.2 Các mô hình được triển khai 49
2.5.3 Kết quả thực hiện mô hình 53
2.6 Những vấn đề đặt ra trong quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở Tây
Nguyên 56
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI VÙNG TÂY NGUYÊN 59
3.1 Đánh giá hiệu quả của mô hình 60
3.1.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội: 60
3.1.2. Hiệu quả môi trường 65
3.2 Những khó khăn mà mô hình gặp phải 67
3.3 Một số giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả mô hình 70
3.3.1 Một số giải pháp 70
3.3.2 kiến nghị 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Tên bảng Trang
2.1 Diện tích đất lâm nghiệp vùng
Tây Nguyên
32
2.2 Tốc độ và xu hướng tăng
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Suy thoái rừng đang là một vấn đề bức bách ở Việt Nam, ảnh hưởng đến
hệ sinh thái, đa dạng sinh học và biến đổi môi trường nói chung. Diện tích rừng
bị suy giảm từ 43% xuống còn 28,2% (1943 - 1995). Rừng ngập mặn ven biển
cũng bị suy thoái nghiêm trọng giảm 80% diện tích do bị chuyển đổi thành các
ao - đầm nuôi trồng thuỷ hải sản thiếu quy hoạch. Gần đây, diện tích rừng tuy có
tăng lên 37% (năm 2005), nhưng tỷ lệ rừng nguyên sinh cũng vẫn chỉ ở mức
khoảng 8% so với 50% của các nước trong khu vực. Đây là một thách thức lớn
đối với Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu, trong các hoạt động thực
hiện mục tiêu năm 2010 của Công ước đa dạng sinh học nhằm tăng cường hiệu
quả bảo tồn và dịch vụ của các hệ sinh thái rừng trong giảm thiểu thiên tai, bảo
vệ tài nguyên nước, giảm phát thải CO2. Cùng với đó một vấn đề mà Việt Nam
đặt ra là sinh kế cho người dân tộc thiểu số.
Chính phủ Việt Nam đã nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa xóa đói
giảm nghèo và bảo tồn rừng, bằng việc đặt kế hoạch sẽ giảm tỉ lệ nghèo của toàn
quốc xuống dưới 40% và phục hồi tỉ lệ che phủ rừng tới 43% vào năm 2010.
Một số tiềm năng được xác định bao gồm: (a) chi trả các dịch vụ môi trường đã
được xem xét ở trong các chính sách. Việc phát triển các cơ chế hỗ trợ người
8
Tây Nguyên là vùng có diện tích đất và rừng lớn nhất cả nước cùng với đó
là vai trò của rừng và đất rừng đối cộng đồng các đồng bào dân tộc Tây Nguyên
không chỉ đơn thuần là tư liệu sản xuất mà nó còn mang ý nghĩa về văn hóa, tâm
linh. Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng nói ở Tây Nguyên người là rừng và rừng
cũng là người. Mặt khác cộng đồng các dân tộc ở nơi đấy có tính cộng đồng rất
cao, sống tập trung và tham gia nhiều sinh hoạt mang tính chất cộng đồng. do
vậy việc chính phủ thực hiện thí điểm mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng
ở Tây Nguyên đã mang lại những kết quả hết sức khả quan.
Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại vùng Tây
Nguyên”
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:
2.1 Mục tiêu:
Qua việc nghiên cứu mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại vùng
Tây Nguyên để từ đó xem xét mô hình có được triển khai hiệu quả hay không,
những khó khăn trong việc áp dụng mô hình này là gì và có thể đưa ra những
giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn đó.
2.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan cơ sở lý luận về mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng
(CBFM) và xu thế phát triển của mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở
Việt Nam
- Thực trạng triển khai áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng
tại Tây Nguyên như thế nào và vấp phải những khó khăn gì
9
- Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng
đồng tại Tây Nguyên. Từ đó đưa ra những khó khăn mà mô mình gặp phải và
những giải pháp, kiến nghị để giải quyết những khó khăn đó.
- Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là khái niệm để chỉ cộng đồng tham gia
quản lý rừng thuộc nguồn gốc hình thành thứ ba. Rừng trong trường hợp này
cộng đồng là những chủ thể quản lý trực tiếp tham gia và được hưởng lợi.
1.1.2 Nội dung chủ yếu của CBFM
+ Cộng đồng là những chủ thể quản lý rừng: quản lý rừng dựa vào cộng
đồng đưa ra hình thức quản lý rừng ở cấp xã, nơi mà người dân địa phương đóng
vai trò vừa là người quản lý vừa là chủ rừng. Để triển khai mô hình này một cách
tốt nhất thì một cơ quan ở cấp xã là đại diện triển khai mô hình này. Vai trò của
cơ quan này thể hiện ở sự hỗ trợ và giúp đỡ người dân quản lý rừng một cách
hiệu quả và bền vững.
+ Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một mô hình có thể áp dụng cho tất
cả các loại rừng:
11
CBFM có thể áp dụng cho bất kỳ loại rừng nào – những khu rừng có độ đa
dạng sinh học cao hay thấp, rừng nguyên sinh hay rừng đã bị suy kiệt, những khu
rừng rộng lớn hay nhỏ… điều quan trọng nhất là ta cần hiểu được rằng CBFM
được áp dụng cho những khu rừng và đất rừng thuộc địa bàn xã chứ không áp
dụng mô hình này cho những khu bảo tồn của địa phương hay quốc gia. Mục
tiêu của mô hình CBFM có thể là bảo tồn và phát triển cả rừng phòng hộ và sản
xuất hoặc hỗn hợp cả hai loại rừng này. Trong một vài trường hợp, người dân
mong muốn bảo tồn rừng của họ vì truyền thống hoặc những mục đích thiêng
liêng, trong một vài trường hợp khác nó có thể để bảo vệ một nguồn nước quan
trọng.
+ Người dân là mục tiêu tổng quan nhất của mô hình CBFM: người dân
địa phương hoặc cộng đồng trong trường hợp này là những người sống trong
hoặc sống ngay bên cạnh những khu rừng thuộc địa bàn xã của họ. Mối quan hệ
lâu đời giữa người dân và những khu rừng và sự gần gũi của họ với rừng khiến
họ trở thành những người tốt nhất để quản lý rừng bền vững.
+ Cộng đồng không chỉ là những người bảo vệ mà còn là những người có
• Người dân được giúp đỡ về kỹ thuật để xác định đặc tính của đất và phân
loại quỹ đất dự trữ ra khỏi những khu đất khác thuộc địa bàn xã.
• Những nhóm nhỏ hơn trong cộng đồng được giúp đỡ để xác định đặc
tính và phân chia những khu đất rừng dự trữ mà họ sẽ cùng nhau làm chủ.
+ Thay đổi vai trò của cán bộ lâm nghiệp:
13
Theo truyền thống, cán bộ kiểm lâm huyện đóng vai trò như một cảnh sát.
Theo mô hình mới, cán bộ kiểm lâm huyện hiện nay có một chức năng mới là
giúp người dân nhận biết, điều tra và quản lý rừng của họ vì lợi ích chung của
cộng đồng. Cán bộ kiểm lâm giống như một đối tác của cộng đồng, tư vấn cho
họ làm cách nào để quản lý rừng tốt nhất trong cả ngắn hạn và dài hạn. phương
pháp luận của việc thiết lập mô hình CBFM dựa vào cán bộ lâm nghiệp như là
những cố vấn viên (khuyến khích, hỗ trợ, hướng dẫn). trong khi đang làm thay
đổi mối quan hệ giữa cán bộ kiểm lâm với cộng đồng: từ vai trò người chỉ đạo
sang:
• Tư vấn kỹ thuật cho cộng đồng: cung cấp những thông tin kỹ thuật thích
hợp hoặc
• Tạo ra sự liên kết giữa cộng đồng và cơ quan cấp huyện
• Người trung gian hòa giải giữa các cộng đồng hoặc giữa các nhớm
• Cảnh giới môi trường: cán bộ kiểm lâm giám sát tiến độ thực thi và họ
biết lúc nào cần hỗ trợ, lúc nào cần can thiệp nếu cộng đồng không tuân theo
cam kết quản lý rừng đã được ký kết.
Trong khi những kiến thức chủ yếu không phải từ đào tạo mà từ thực tế.
những thành quả đạt được thông qua cách giải quyết hợp lý khi cộng đồng phải
đối mặt với một vấn đề và khả năng nhận dạng và giải quyết các vấn đề tiếp theo
được nâng lên.
+ Hướng dẫn chứ không phải ra lệnh
Nhân viên kiểm lâm là những người giúp đỡ và tư vấn cho người dân địa
phương
Giai đoạn này là giai đoạn triển khai mô hình ở những xã khác. Trong suốt
giai đoạn này chúng ta cần đưa ra những kế hoạch cụ thể và dự thảo ngân sách
cho việc mở rộng mô hình sang xã khác.
1.2. Quyền lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng được
giao rừng, khoán bảo vệ rừng.
1.2.1 Quyền lợi
1.2.1.1. Đối với trường hợp được giao rừng và đất trồng rừng sản xuất.
a. Được hưởng toàn bộ sản phẩm thu hoạch trên diện tích rừng được giao,
bao gồm :
- Sản phẩm gỗ, lâm sản tận thu, tận dụng trong quá trình thực hiện các
biện pháp lâm sinh theo quy phạm các giải pháp lâm sinh áp dụng cho rừng sản
xuất gỗ và tre nứa ban hành kèm theo Quyết định số 200/QĐ-KT ngày 31/3/1993
của Bộ Lâm nghiệp ( nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn );
- Khi rừng tự nhiên, rừng trồng chưa đủ điều kiện khai thác chính, thì
được khai thác gỗ để giải quyết các nhu cầu thiết yếu của hộ gia đình, như làm
nhà mới, sửa chữa, thay thế nhà cũ. Mức khai thác cho mỗi hộ không quá 10m3
gỗ tròn ( cho một lần làm nhà mới, sửa chữa, thay thế nhà cũ ). Thủ tục khai thác
thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Quyết định số 03/2005/ QĐ-BNN
ngày 7/01/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
16
- Sản phẩm khai thác chính khi rừng tự nhiên đến tuổi khai thác, theo quy
định tại Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác, ban hành kèm theo Quyết định số
40/2005/QĐ-BNN ngày 07/07/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn);
- Sản phẩm khai thác tận dụng, tận thu, khai thác chính từ rừng trồng trên
đất không có rừng; tuổi khai thác; phương thức khai thác, thủ tục khai thác do
người trồng rừng tự lựa chọn và quyết định.
b. Được hỗ trợ cây giống chất lượng cao để trồng rừng sản xuất.
- Mức hỗ trợ: trồng cây gỗ nhỏ mọc nhanh, cây lâm đặc sản
thác được quy định tại Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác, ban hành kèm theo
Quyết định số 40/2005/QĐ-BNN ngày 07 tháng 7 năm 2005 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn. Tỷ lệ hưởng lợi theo quy định tại Quyết định số
178;
b. Được hỗ trợ cây lâm nghiệp; tham gia và hưởng lợi từ các dự án khuyến
nông, khuyến lâm trên địa bàn như đối với trường hợp được giao rừng và đất
trồng rừng sản xuất.
18
1.2.2. Nghĩa vụ
Ngoài việc thực hiện theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 7 Quyết
định số 304, các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng được giao rừng, khoán bảo
vệ rừng còn có các nghĩa vụ sau:
- Sử dụng rừng được giao, được khoán bảo vệ đúng mục đích, đúng quy
hoạch; chịu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng và chủ
rừng về kế hoạch sản xuất, quy trình kỹ thuật trong quá trình sử dụng rừng được
giao, được khoán bảo vệ;
- Nếu vi phạm các điều khoản trong quyết định giao rừng, hoặc hợp đồng
khoán bảo vệ rừng thì bị thu hồi quyết định theo quy định của pháp luật về đất
đai, hoặc huỷ bỏ hợp đồng khoán bảo vệ;
- Trả lại rừng và đất rừng được giao, được khoán bảo vệ khi cơ quan chức
năng có thẩm quyền thu hồi theo quy định của pháp luật về đất đai;
- Thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động đối với chủ
sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động;
- Đóng đầy đủ các loại thuế theo quy định của pháp luật.
1.3. Mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng ( CBFM) ở Việt Nam
1.3.1. Cơ sở của việc áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng
(CBFM)
Nước ta có hơn 50 dân tộc thiểu số, phần lớn sinh sống ở miền núi, thôn,
bản, buôn (gọi tắt là thôn buôn) là đơn vị xã hội truyền thống, cơ bản trong nông
20
Chẳng hạn người Thái vùng Tây Bắc: Có tập quán phân loại rừng núi
thành các khu vực, nhằm phục vụ các nhu cầu khác nhau của cuộc sống cộng
đồng: rừng phòng hộ nằm trên các khu vực đầu nguồn nước, tuyệt đối cấm khai
thác; rừng dành cho việc khai thác tre gỗ dựng nhà và các nhu cầu khác thì tuyệt
đối không được phát nương làm rẫy, thường là vùng núi cao. Nhiều nơi quy định
“rừng măng cấm”- rừng chuyên để lấy măng. Rừng “gò săn” là khu vực rừng
nguyên sinh chuyên để dành cho tập quán săn thú tập thể - không được chặt cây
làm động thú rừng. Rừng núi dành cho phát nương làm rẫy, có diện tích khá
rộng. Núi rừng phục vụ cho cuộc sống tâm linh - “rừng thiêng” rừng ma.
Ở Tây Nguyên: Người Ê Đê và Mnông có luật tục rất phong phú, điều
chỉnh nhiều lĩnh vực: Tổ chức và quản lý cộng đồng xã hội; ổn định trật tự an
ninh và đảm bảo lợi ích cộng đồng; quan hệ dân sự quản lý sử dụng đất đai, bảo
vệ sản xuất, môi trường: duy trì và giáo dục nếp sống văn hóa, tín ngưỡng…
Cũng như vậy, luật tục quy định của người Tà Ôi, Vân Kiều ở miền Trung,
người Stiêng ở Đông Nam Bộ đều quan niệm đất đai, tài nguyên rừng là tài sản
chung của tất cả cộng đồng không phải của riêng ai. Quan niệm truyền thống về
quyền sở hữu đất đai: đất rẫy thuộc quyền của người khai phá đầu tiên. Khi
khoảnh rẫy đó được định canh vẫn thuộc sở hữu của người chủ rẫy đầu tiên, nếu
họ chết đi, đất đó được chuyển cho con cháu họ. Cộng đồng buôn làng khẳng
định quyền sở hữu của họ. Những tập tục đó là một phần luật tục cổ truyền của
cộng đồng dân tộc giúp họ quản lý cộng đồng trong quá trình bảo tồn và phát
triển. Ở đây, vai trò của già làng, trưởng thôn, trưởng dòng họ được đề cao. Họ
là những người có uy tín, có kinh nghiệm trong ứng xử xã hội, sản xuất, và xử lý
vướng mắc trong cộng đồng. Họ không chỉ giữ vai trò quan trọng duy trì trật tự
đối với công việc chung của dòng họ mà còn đối với cuộc sống của mỗi gia đình.
21
Ở nhiều nơi, trưởng dòng họ lớn thường được coi là đại diện của cộng đồng.
Giữa luật tục và vai trò của họ có mối quan hệ tương hỗ với nhau. Quản lý cộng
bản, trước khi có Luật bảo vệ và phát triển rừng công bố năm 2004. Trong thời
gian gần đây đã có một số Nghị quyết của Đảng và văn bản của Chính phủ đề
cập đến một số nội dung có liên quan đến vị trí của cộng đồng dân cư làng bản
như
- Xác định nhiệm vụ nghiên cứu để xây dựng hương ước, lệ làng cổ làm
cơ sở cho việc ban hành hương ước, quy ước mới ở làng bản cho phù hợp với
pháp luật của Nhà nước.
- Xác định thôn, làng, bản, ấp không phải là một cấp chính quyền, nhưng
là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ một cách trực
tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết công việc trong một bộ phận cộng đồng dân cư.
Trưởng thôn, làng, bản, ấp là đại diện cho cộng đồng dân cư trực tiếp liên hệ, đề
đạt nguyện vọng của cộng dân cư với cấp chính quyền cơ sở (uỷ ban nhân dân
xã). Trưởng thôn, làng, bản, ấp do nhân dân bầu ra và được uỷ ban nhân dân xã
công nhận. Nhà nước thừa nhận làng, bản là chủ rừng
Đối với diện tích rừng làng, rừng bản đã có trước ngày ban hành luật bảo
vệ và phát triển rừng, mà không trái với những quy định của luật bảo vệ và phát
triển rừng, luật đất đai. Vị trí pháp lý của cộng đồng dân cư thôn hiện nay: về
cộng đồng dân cư tham gia được luật bảo vệ và phát triển rừng công bố ngày
23
14/12/2004 đã thừa nhận như một đơn vị chủ rừng và được thể hiện trong luật về
quyền , nghĩa vụ của cộng đồng được giao rừng, cụ thể:
- Điều kiện giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn. Có cùng phong tục, tập
quán, có truyền thống gắn bó cộng đồng với rừng về sản xuất, đời sống, văn hóa,
tín ngưỡng, có khả năng quản lý rừng, có nhu cầu được giao rừng và phải phù
hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được phê duyệt, phù hợp
với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được phê duyệt, phù hợp với
khả năng qũy đất của địa phương.
- Các khu rừng được xem xét giao cho cộng đồng thôn gồm có 3 loại:
+ Các khu rừng hiện do cộng đồng thôn đang quản lý có hiệu quả.
Trên thực tế, đối với loại mô hình này cộng đồng dân cư làng/bản cũng chỉ
là người làm thuê, được thù lao một số tiền ít ỏi, không được hưởng lợi gì đáng
kể ở rừng, nên tính tích cực của họ chưa được phát huy. Trong tương lai, mô
hình này cần phải được cải tiến theo hướng giao cho cộng đồng dân cư làng/bản
trực tiếp quản lý và hưởng lợi ở những khu rừng gắn liền với nơi cư trú của dân
cư.
- Mô hình 3: Rừng và đất lâm nghiệp được chính quyền địa phương (cấp
tỉnh) giao cho các làng/bản quản lý (đang có tính chất thí điểm). Ở nhiều tỉnh
25
(nhất là các tỉnh đang có các dự án hợp tác với nước ngoài về lâm nghiệp xã
hội/lâm nghiệp cộng đồng) đã thí điểm giao đến cộng đồng dân cư làng/bản một
số diện tích rừng và hướng dẫn họ quản lý, có những chính sách họ hưởng lợi cụ
thể. Các báo cáo nghiên cứu điểm về lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) đã đánh giá
những kết quả bước đầu của mô hình quản lý rừng này và xác nhận đây là một
mô hình quản lý lâm nghiệp có hiệu quả, phù hợp với tình hình quản lý lâm
nghiệp hiện nay của Việt Nam và chắc chắn sẽ được phát triển nhiều hơn trong
tương lai và sẽ thuận lợi hơn khi Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) có hiệu
lực thi hành.
1.3.4. Kinh nghiệm quản lý rừng ở Việt Nam
a. Xã Phúc Sen - Cao Bằng
Xã Phúc Sen là một xã vùng cao với dân số 2.027 người, trong đó đa số là
người dân tộc Nùng An, sống ở 12 bản. Người dân sống bằng nghề nông và ít
liên hệ với thị xã Cao Bằng, nơi cách xã Phúc Sen khoảng 40 km. Xã Phúc Sen
có diện tích 1.300 ha trong đó 23 ha là khu dân cư, 267 ha là đất nông nghiệp và
1.010 ha là đất rừng. Trước đây, nhân dân xã Phúc Sen đã phải đương đầu với
tình trạng rừng bị tàn phá nghiêm trọng và người dân có mức sống rất thấp. từ
năm 2003 thực hiện áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng cuộc sống
của người dân nơi đây đã có nhiều đổi khác. Việc giao đất được thực hiện chủ
yếu thông qua việc thảo luận với dân làng ngay tại hiện trường. Mỗi làng được