(Luận văn thạc sĩ) Xây dựng bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái - Pdf 54

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ
MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI
HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

CAO THỊ QUỲNH TRANG

HÀ NỘI, NĂM 2019

Hà Nội Năm 20..


BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ
MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI
HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

CAO THỊ QUỲNH TRANG
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 8440301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TỐNG THỊ MỸ THI


Tóm tắt luận văn:
Đề tài: “Xây dựng bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý rừng dựa vào
cộng đồng tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” đưa ra một bộ chỉ số tổng quan
nhất dựa trên điều kiện về chính sách, môi trường, con người, xã hội, và áp
dụng bộ chỉ số vào khu vực huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái để đo khả năng
quản lý rừng của địa phương. Áp dụng các phương pháp nghiên cứu xây dựng
bộ chỉ số, phương pháp nghiên cứu tài liệu sơ cấp và thứ cấp, bộ chỉ số xây
dựng với 3 chỉ số cấp 1, 9 chỉ số cấp 2, 31 chỉ số cấp 3. Dựa vào thang đánh
giá, bảng hỏi và kết ủa điều tra, đề tài nghiên cứu xác định điểm số cho khu
vực nghiên cứu là 2 lâm trường tại huyện Văn Chấn: Lâm trường Văn Chấn
và lâm trường Ngòi Lao. Các chỉ số cấp 1 bao gồm con người, văn hóa – xã
hội, môi trường đều đạt điểm ở mức khá và cao so với thang xếp hạng điểm
số của bộ chỉ số. Cho thấy khả năng quản lý rừng tốt của con người tại khu
vực nghiên cứu. Tuy còn có yếu tố còn yếu nhưng là không đáng kể, nhưng
cần được quan tâm, là vấn đề sinh kế và quyền lợi hưởng của cộng đồng và
cán bộ quản lý, người trực tiếp tham gia quản lý rừng cộng đồng.
Tổng điểm của bộ chỉ số tại lâm trường Văn Chấn, tỉnh Yên Bái đạt
3,73, hiệu quả quản lý là khá cao. Các chỉ số cấp 1 bao gồm con người, văn
hóa – xã hội, môi trường đều đạt điểm ở mức cao, chỉ số môi trường là cao
nhất (4,06 điểm) nhờ có tài nguyên rừng và môi trường tốt, và chỉ số xã hội là


thấp nhất (3,45 điểm) do yếu tố tác động từ bên ngoài thấp. Điểm số của hai
lâm trường nghiên cứu chênh lệch không nhiều và đạt mức khá, lâm trường
Văn Chấn đạt 3.60 điểm, và lâm trường Ngòi Lao đạt 3,86 điểm. Đánh giá
chung trên toàn bộ chỉ số, lâm trường Ngòi Lao đều cao hơn lâm trường Văn
Chấn. Nhận thức và kiến thức của lâm trường Văn Chấn là thấp nhất, cần học
hỏi và nâng cao để quản lý rừng bền vững.



Học viên cao học: Khoa học Môi trường
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân. Toàn bộ
quá trình nghiên cứu được tiến hành một cách khoa học, các số liệu, kết quả trình
bày trong luận văn là chính xác, hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các hình ảnh, thông tin về tên, tuổi và trích dẫn
trong nghiên cứu được sự cho phép của người dân khu vực huyện Văn Chấn.
Nếu có gì sai phạm, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước nhà trường và
pháp luật.
Hà Nội, ngày tháng

năm 2019

Tác giả

Cao Thị Quỳnh Trang

ii


iii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

Ký hiệu

Chú giải


ĐVT

Đơn vị tính

8

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

9

KPI

Bộ chỉ số đánh giá

10

KPIs

Hệ thống bộ chỉ số đánh giá

11

LNCĐ

12

MT


20

VH-XH

Văn hóa - xã hội

21

UBND

Ủy ban nhân dân

Biến đổi khí hậu
Bảo vệ rừng

Đánh giá thực hiện công việc
Đại học

Lâm nghiệp cộng đồng
Môi trường
Một thành viên
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Phát triển bền vững
Quyết định
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Tài nguyên

iv



Hình 3.3: Giá trị trung bình chỉ số cán bộ quản lý
Hình 3.4: Chỉ số cộng đồng tại khu vực huyện Văn Chấn
Hình 3.5: Kết quả đo chỉ số doanh nghiệp địa phương
Hình 3.6: Kết quả chỉ số văn hóa – xã hội
Hình 3.7: Chỉ số văn hóa tại khu vực nghiên cứu
Hình 3.8: Mối quan hệ xã hội tại huyện Văn Chấn
Hình 3.9: Chỉ số tác động từ bên ngoài tại huyện Văn Chấn
Hình 3.10: Chỉ số môi trường tại huyện Văn Chấn
Hình 3.11: Yếu tố biến đổi khí hậu
Hình 3.12: Kết quả bộ chỉ số áp dụng tại 2 lâm trường
Hình 3.13: Yếu tố con người tại 2 khu vực nghiên cứu
Hình 3.14: Chỉ số cán bộ quản lý tại 2 lâm trường nghiên cứu
Hình 3.15: Yếu tố kiến thức thuộc chỉ số cán bộ quản lý
Hình 3.16: Yếu tố pháp luật thuộc chỉ số cán bộ quản lý
Hình 3.17: Yếu tố kỹ năng thuộc chỉ số cán bộ quản lý
Hình 3.18: Yếu tố thái độ thuộc chỉ số cán bộ quản lý
Hình 3.19: Chỉ số cộng đồng tại 2 khu vực nghiên cứu
Hình 3.20: Chỉ số sinh kế cộng đồng tại 2 khu vực nghiên cứu
Hình 3.21: Chỉ số pháp luật đối với cộng đồng tại 2 lâm trường
Hình 3.22: Chỉ số văn hóa – xã hội tại 2 lâm trường
Hình 3.23: Chỉ số văn hóa tại 2 lâm trường nghiên cứu
Hình 3.24: Mối quan hệ xã hội tại 2 lâm trường
Hình 3.25: Vấn đề tác động từ bên ngoài tại 2 lâm trường

vi


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng được cho là một trong những giải pháp ưu

Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, nhằm đưa ra một phương pháp
thích hợp để đánh giá tính hiệu quả của mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng,
tác giả đã lựa chọn đề tài “Xây dựng bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý rừng dựa
vào cộng đồng tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” cho luận văn tốt nghiệp. Hiện tại,
phương pháp xây dựng bộ chỉ số đánh giá tính hiệu quả của mô hình QLRCĐ vẫn
chưa phải là phương pháp hoàn thiện nhất, tuy nhiên vẫn được xem là phương pháp
tối ưu trong điều kiện các nguồn lực sử dụng cho việc đánh giá còn hạn chế. Đặc
biệt đây là phương pháp mang tính toàn diện, xem xét đến tất cả các khía cạnh từ
kinh tế, quản lý, điều kiện tự nhiên, cũng như yếu tố quan trọng nhất là cộng đồng
và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với các yếu tố khác trong mô hình QLRCĐ.
Nghiên cứu này sử dụng kết hợp giữa phương pháp đánh giá định tính và định
lượng để đảm bảo tăng cường mức độ tin cậy và tính chính xác của kết quả nghiên
cứu. Bô chỉ số tuy được xây dựng phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội và
tự nghiên ở khu vực huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, nhưng vẫn mang tính linh hoạt
và có thể được điều chỉnh để áp dụng tại các khu vực khác ở Việt Nam. Kết quả thu
được từ việc sử dụng bộ chỉ số đánh giá mô hình QLRCĐ trong nghiên cứu này sẽ
làm cơ sở cho việc nâng cao năng lực và tính hiệu quả cho mô hình QLRCĐ ở
huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Đồng thời, bộ chỉ số có thể được điều chỉnh để áp
dụng cho đánh giá mô hình QLRCĐ và so sánh tính hiệu quả giữa mô hình quản lý
khác nhau trong cùng một khu vực hoặc giữa nhiều khu vực khác nhau.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Xây dựng bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý dựa vào
cộng đồng
- Mục tiêu cụ thể:
 Lựa chọn và xây dựng được bộ chỉ số đnáh giá mô hình quản lý rừng dựa vào
cộng đồng phù hợp với địa bàn nghiên cứu
 Áp dụng bộ chỉ số và đánh giá được mô hình QLRCĐ ở huyện Văn Chấn, tỉnh
Yên Bái
 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình QLRCĐ ở huyện Văn Chấn,
tỉnh Yên Bái

3


CHƢƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.

Cơ sở lý luận

1.1.1. Quản lý rừng dựa vào cộng đồng
1.1.1.1.

Khái niệm

Khái niệm về quản lý rừng cộng đồng đã được đề cập hàng thập kỷ qua, tuy
nhiên trên thực tế vẫn chưa có một định nghĩa trọn vẹn [39]. Nhìn nhận một cách
tổng quát và chung nhất, thì quản lý rừng dựa vào cộng đồng là các hoạt động liên
quan đến rừng, phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng sinh
sống tại khu vực rừng được giao bảo vệ. Theo Asiaforest network quản lý rừng
cộng đồng đề cập đến những hoạt động của cộng đồng nhằm hướng tới việc quản lý
và sử dụng bền vững tài nguyên rừng. Trên thế giới, khái niệm đầu tiên về QLRCĐ
được FAO đưa ra vào năm 1978 trong hội nghị lâm nghiệp thế giới: “Tất cả các
hoạt động lâm nghiệp mà cộng đồng người dân tham gia, bao gồm những hoạt
đồng nhỏ lẻ ở các khu vườn, đến thu hái các sản phẩm lâm nghiệp cho nhu cầu
cuộc sống của người dân và đến việc trồng cây ở các trang trại cây hàng hóa, sản
xuất, chế biến các sản phẩm lâm nghiệp ở quy mô hộ gia đình, hợp tác xã để tăng
thu nhập cho cộng đồng sống trong rừng” [38]. Một khái niệm khác của Fern
(2005) lại đưa ra một khái niệm khác đơn giản hơn đó là “Tiến trình quản lý, bảo vệ
và phát triển rừng dựa vào những kiến thức bản địa, cấu trúc truyền thống, những
lễ hội và luật tục của cộng đồng” [13].
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là khái niệm để chỉ cộng đồng tham gia quản

hình quản lý này là một chiến lược phân chia quyền lợi, nó thực thi dựa trên cơ sở
các chính sách của nhà nước trong việc cho phép sự tham gia của người dân địa
phương trong quản lý rừng và thực tế cần đưa ra những biện pháp kiểm soát và
quản lý ở cấp địa phương hợp lý hơn. Nó tập trung vào bảo tồn những khu rừng
không chỉ thông qua phân chia quyền kiểm soát và quản lý chúng mà còn phân chia
quyền sử dụng và hưởng lợi từ chúng. Vì vậy, mô hình này mang đến không chỉ
những người hưởng lợi thụ động mà còn có lợi về sinh kế, nâng cao trách nhiệm
quản lý rừng cho người được giao đất giao rừng. Sử dụng khu đất dự trữ như là nền
tảng cơ bản để xây dưng một vùng phát triển rừng (phòng hộ, sản xuất).
Thay đổi vai trò của cán bộ lâm nghiệp: Cán bộ lâm nghiệp sẽ không còn vai
trò như một cảnh sát, mà sẽ là người giúp dân nhận biết, điều tra, quản lý rừng của
họ vì lợi ích chung của cộng đồng, giúp họ làm thế nào để quản lý rừng tốt nhất
trong cả ngắn hạn và dài hạn, vai trò của cán bộ lâm nghiệp như là một cố vấn viên
(hướng dẫn, hỗ trợ, khuyến khích): Tư vấn kỹ thuật cho cộng đồng, tạo ra sự liên
kết giữa cộng đồng và cơ quan cấp huyện, người trung gian hài hòa giữa cộng đồng,
cảnh giới môi trường…
5


1.1.1.3.

Các giai đoạn cơ bản trong thực hiện mô hình quản lý rừng dựa vào
cộng đồng

- Giai đoạn 1: Khởi động
Giai đoạn này được triển khai ở cấp huyện, với việc lựa chọn những xã và
hướng dẫn cho cán bộ huyện cộng với đó là hình thành một nhóm cán bộ với những
ký năng khác nhau để làm việc ở cấp xã. Tổ chức các cuộc gặp và cuộc họp cấp xã
để việc thiết lập và định hướng cho bản cam kết được thuận lợi hơn.
- Giai đoạn 2: Thực hiện quản lý và đánh giá


a. Quyền lợi
Tùy vào từng loại rừng mà người quản lý khu rừng sẽ nhận được những quyền
lợi khác nhau.
- Đối với trường hợp được giao rừng và đất trồng rừng sản xuất: được hưởng
toàn bộ sản phẩm thu hoạch trên diện tích rừng được giao, được hỗ trợ cây giống
chất lượng cao để trồng rừng sản xuất, được tham gia và hưởng lợi từ các dự án
khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn [9].
- Đối với trường hợp nhận khoán bảo vệ rừng: được hưởng lợi theo quy định
tại khoản 1,3,4,5 Điều 6 Quyết định số 304, và được hưởng các sản phẩm thu hoạch
trên diện tích rừng được khoán, được hỗ trợ cây lâm nghiệp, tham gia và hưởng lợi
từ các dự án khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn [9].
b. Nghĩa vụ
- Sử dụng rừng được giao, khoán bảo vệ đúng mục đích, đúng quy hoạch, chịu
sự giám sát của cơ quan chức năng.
- Nếu vi phạm các điều khoản trong quyết định giao rừng, hoặc hợp đồng
khoán bảo vệ rừng thì bị thu hồi quyết định theo quy định của pháp luật về đất đai,
hoặc hủy bỏ hợp đồng khoán bảo vệ [9].
- Trả lại rừng và đất rừng được giao, được khoán bảo vệ khi cơ quan chức
năng có thẩm quyền thu hồi theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động đối với chủ sử
dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
- Đóng đầy đủ thuế theo quy định của pháp luât.
1.1.2. Khái niệm, tìm hiểu về phƣơng pháp xây dựng bộ chỉ số đánh giá – KPIs
KPI - Key Performance Indicators: là một hệ thống được dùng để đánh giá
năng lực, chất lượng công việc, được thể hiện qua các chỉ tiêu, tiêu chí, chỉ số, hiệu
quả định lượng nhằm phản ảnh hiệu quả hoạt động của công việc [40].
Sử dụng trong đánh giá thực hiện công việc (ĐGTHCV), hệ thống KPIs được
hiểu là những chỉ số đánh giá kết quả thực hiện công việc.hay nói cách khác KPIs


- Các quyết định có thể được thực hiện nhanh hơn khi có những đo lường nhận
thấy được và chính xác đi kèm theo.
- Có thể giúp khâu quản lý nhận biết thành quả của tổ chức, phòng/ban hoặc
một nhân viên nào đó của mình để từ đó có hướng khuyến khích, tạo động lực phát
triển các kế hoạch về lâu dài cho mô hình quản lý
- Tùy vào mục đích đánh giá mà đưa ra được những bộ chỉ số riêng thích hợp
với từng lĩnh vực
- Đưa ra các chỉ tiêu có thể đo lường được, từ đó việc đánhgiá công việc thực
hiện sẽ cụ thể hơn và dễ thực hiện hơn mà ít có những kiến nghị, bất đồng.

8


1.1.2.4.

Nhược điểm khi sử dụng hệ thống KPIs

- Các tiêu chí cụ thể, đo lường, đạt được hiệu quả khi không đủ rõ ràng, thực
tế thì hiệu quả KPIs là không đạt được và ảnh hưởng đến hiệu suất quản lý
- Nếu mục tiêu không đạt được tiêu chí Specific (cụ thể) thì người lao động
không biết mình phải làm gì và làm như thế nào để đạt được hiệu quả công việc như
mong muốn.
- Các chỉ số không đạt tiêu chí measuarable (đo lường được): Như vậy khi đưa
ra các tiêu chí không còn ý nghĩa đo lường kết quả THCV.
- Các chỉ số KPIs không đạt được tiêu chí Achievable (có thể đạt được) và
Realistics (thực tế): Mục tiêu xây dựng quá xa vời so với thực tế, nhân viên không
thể đạt được mục tiêu dù đã cố gắng hết mình. Điều này dẫn đến tâm lý thất vọng,
chán nản và không muốn làm việc.
- Các chỉ số KPIs không có hạn định cụ thể: người lao động không biết công
việc này phải làm trong thời gian bao lâuhay khi nào phải hoàn thành. Điều này gây

truyền thống trên tuy có bị mai một, nhưng vẫn được duy trì trong công tác bảo vệ
rừng.
- Đặc điểm về chính sách: Luật bảo vệ và phát triển rừng, thông tư hướng dẫn
về rừng….
Các phương pháp quản lý dựa vào cộng đồng được đưa ra tại Việt Nam gồm
có: bảo vệ rừng thông qua rừng sản xuất, giao đất hoặc giao khoán đất lâm nghiệp
dài hạn, giao đất cho cộng đồng để cộng đồng có thể tự quản lý bằng cách ký hợp
đồng phụ với hộ gia đìnhhay nhóm hộ gia đình. Tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái,
tùy từng vùng có đặc điểm kinh tế, vị trí địa lý (ranh giới giữa các xã, huyện), điều
kiện tự nhiên ( khu rừng giữ nguồn nước quan trọng)… sẽ được áp dụng những mô
hình quản lý khác nhau, tại địa điểm nghiên cứu lâm trường Văn Chấn và lâm
trường Ngòi Lao, mô hình quản lý đang được áp dụng là phương pháp giao đất,
giao rừng cho một cơ quan quản lý, sau đó ký hợp đồng phụ với các hộ gia đình và
nhóm cộng đồng.
Việc quản lý rừng ở Việt Nam hiện nay đang có 3 mô hình chủ yếu: [14]
- Mô hình 1: Rừng do cộng đồng quản lý theo truyền thống, được pháp luật
công nhận: Đến năm 1991, khi ban hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng (Luật
BV&PTR) ở một số làng, bản vẫn còn quản lý và hưởng lợi từ một số khu rừng
làng, bản theo truyền thống đã có trước đây. Luật BV&PTR vẫn công nhận những
khu rừng đó thuộc quyền sở hữu của làng.
- Mô hình 2: Cộng đồng dân cư ở làng, bản nhận khoán bảo vệ cho các chủ
rừng Nhà nước và đã liên kết để nhân khoán bảo vệ rừng đã giao cho các tổ chức
Nhà nước quản lý, cùng hưởng lợi, bằng nhiều hình thức liên kết khác nhau (như
10


nhóm, hộ gia đình, nhóm đồng sở thích hoặc toàn bộ cộng đồng dân cư thôn bản).
Đối với loại mô hình này, cộng đồng dân cư cũng chỉ là người làm thuê, dược thù
lao một số tiền ít ỏi, không được hưởng lợi gì đnág kể từ rừng, nên tính tích cực của
họ chưa được phát huy. Trong tương lại, mô hình này cần phải được cải tiến theo

- Chia sẻ lợi ích rất rõ ràng giữa các xã, bản, thôn: Nó là một phương thức huy
động vốn từ tài nguyên rừng của địa phương, cho địa phương phát triển, do đó, nó
làm giảm sự cạnh tranh và sự phát triển của các làng, xã lân cận
- Quỹ cho các xã phát triển lâm nghiệp: Được sử dụng như tài sản cố định,
trong đó vốn đầu tư được chi cho trồng rừng và bảo vệ rừng được sử dụng theo kế
hoạch của xã và hộ gia đình, và một phần để dung cho hệ thống quản lý và kiểm
toán
- Hỗ trợ kỹ thuật: trực tiếp tại các xã, hộ gia đình, những người có trách nhiệm
hoạt động lâm nghiệp
- Mỗi một địa phương sẽ có những mô hình quản lý, kế hoạch bảo vệ và phát
triển rừng khác nhau dựa trên điều kiện kinh thái, kinh tế xã hội
- Từng bước giảm thiểu chi phí bảo vệ rừng cho Chính phủ, vừa thu được lợi
ích cho người chịu trách nhiệm bảo vệ và quản lý rừng.
1.2.2. Các nghiên cứu về đánh giá tính hiệu quả mô hình QLRCĐ
1.2.2.1.

Các nghiên cứu trên thế giới về đánh giá tính hiệu quả của mô hình
QLRCĐ

Vấn đề sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được các nhà
nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ những năm đầu thế kỷ 21, kể từ Hội nghị
Johannesburgtại New Zealand năm 2002 [50]. Cộng đồng khoa học ủng hộ việc
tham gia của các cộng đồng địa phương trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên
[60]. Do đó, nhiều quốc gia trong khu vực nhiệt đới đã phát triển các cơ chế quản lý
có sự tham gia của người dân, chuyển giao quyền quản lý từ cấp Nhà nước xuống
cấp địa phương và cộng đồng. Xu hướng này hoàn toàn phù hợp với các Chương
trình nghị sự toàn cầu của các cơ quan tài trợ [43],[46],[57]. Xu hướng này đã dẫn
đến sự ra đời của mô hình QLRCĐ và các phương pháp đánh giá tính hiệu quả của
mô hình QLRCĐ.
Việc phân cấp quản lý tài nguyên thiên nhiên thật ra là sự chuyển đổi quyền

(Power) (gọi tắt là PNW) [44]. Theo đó, khía cạnh Tự nhiên tính tới các yếu tố: cải
thiện hệ thống quản lý thông tin và kiến thức, thúc đẩy quy hoạch sử dụng đất địa
phương và hệ thống chiếm hữu tài nguyên phù hợp, thúc đẩy sự đổi mới, học tập xã
hội và quản lý thích ứng, xây dựng năng lực đầu tư vào nguồn nhân lự, và thúc đẩy
hiệu quả của quá trình tư vấn kỹ thuật và dịch vụ trung gian. Khía cạnh Giàu có
bao gồm các yếu tố: chiến lược về kinh tế trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, tăng
cường thị trường và khuyến khích thị trườn, đầu tư vào các tổ chức nông thôn nhằm
tạo ra một khuôn khổ cho các lựa chọn QLTNTN tốt hơn và đảm bảo rằng các nhà
13


quản lý cấp địa phương có quyền và tiếp cậnđược các lợi ích của QLTNTN. Khía
cạnh Quyền lực bao gồm các yếu tố: tăng cường quyền được hoàn thiện các thủ tục
liên quan đến QLTNTN cho người dân, cải thiện chính sách công, phân bố hợp lý
quyền và chức năng quản lý tài nguyên thiên nhiên, chuyển giao quyền hạn, quyền
và trách nhiệm cho các cơ quan đại diện và chịu trách nhiệm; xây dựng các tiêu
chuẩn môi trường tối thiểu, và thúc đẩy các nền tảng làm cơ sở cho hoạt động tư
vấn được thực hiện thường xuyên và toàn diện [44].
Raik và Bande năm 2007 đã thực hiện nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả của
mô hình QLRCĐ bằng Khung đo các bên liên quan dựa vào các yếu tố Tự nhiên, Sự
giàu có và Quyền lực, và Con người (gọi tắt là Khung PNWP) [56]. Khía cạnh con
người được thêm vào và đóng vai trò là sự kết nối giữa các yếu tố khác nhau.Khung
PNWP minh họa các liên kết tồn tại giữa quản lý môi trường, tăng trưởng kinh tế,
quản trị và các hoạt động giáo dục và y tế trong mô hìnhQLRCĐ ở khu vực nông
thôn do người dân sống chủ yếu trong nền kinh tế tự cung tự cấp. Các mối liên kết
được mô tả trong một hệ thống phân cấp phù hợp với điều kiện hiện tại của quốc gia
ở Madagascar và các nơi khác trên thế giới (Hình 2) [56].

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các yếu tố trong Khung PNWP
(Nguồn: Raik & Decker, 2007)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status