Nh
ữ
ng nguyên lý c
ơ
b
ả
n c
ủ
a ch
ủ
ngh
ĩ
a Mac Lênin 1
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI Phân tích cạnh tranh trong nội bộ ngành và sự hình thành giá trị thị trường. Biện
pháp để nâng cao sức cạnh tranh đối với doanh nghiệp trong cùng một ngành Cạnh tranh là một trong những qui luật của nền kinh tế thị trường. Khi thực
hiện chuyển đổi nền kinh tế cũ sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa Việt Nam phải chấp nhận những qui luật của nền kinh tế thị trường trong đó
có qui luật cạnh tranh. Chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong quá trình
phát triển kinh tế nhưng bên cạnh những thành tựu đó nền kinh tế nước ta đang đối
mặt với những khó khăn thách thức to lớn. Một trong những khó khăn thách thức đó
là khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn yếu kém.
Đứng trước quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng (là thành viên của
ASEAN, APEC, AFTA, WTO ) thì nước ta cần có một nền kinh tế với sức cạnh
tranh đảm bảo cho quá trình phát triển kinh tế để đạt được mục đích trở thành nước
công nghiệp vào năm 2020. Muốn như vậy chúng ta cần phải nâng cao năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, phải phát huy các lợi thế cạnh tranh. Chúng ta
cần có một chính sách cạnh tranh đúng đắn.
Cạnh tranh là một cơ chế vận hành chủ yếu của nền kinh tế thị trường, nó là
động lực thúc đẩy kinh tế phát triển tuy vẫn có những mặt hạn chế nhưng nó không
phải là vấn đề quan trọng. Nhiều nước trên thế giới đã vận dụng tốt qui luật cạnh
tranh vào phát triển kinh tế và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Từ khi đổi mới
nền kinh tế nước ta cũng đã áp dụng qui luật này và đã đạt được một số thành tựu:
Đời sống nhân dân được cải thiện, xã hội phát triển hơn, kinh tế phát triển ổn định…
những lợi ích ấy chưa phải là lớn lao nhưng cũng đã giúp chúng ta định hướng cho
chính sách phát triển kinh tế.
Vậy cạnh tranh là gì? Các hình thức cạnh tranh như thế nào? Thế nào là cạnh
tranh trong nội bộ ngành và sự hình thành giá trị thị trường? Cần thực hiện những
biện pháp gì để nâng cao sức cạnh tranh đối với doanh nghiệp trong cùng một ngành?
Để giải đáp những vấn đề này trước hết chúng ta tìm hiểu khái niệm về cạnh tranh.
hệ với nhau thông qua hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá. Như vậy thực chất thị
trường là chỉ các hoạt động kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi, lưu thông
hàng hoá và mối quan hệ về kinh tế giữa người với người.
Hình thức đầu tiên của nền kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá. Kinh tế
hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó sản phẩm sản xuất ra để
trao đổi và buôn bán trên thị trường. Nền kinh tế thị trường là hình thức phát triển
cao của nền kinh tế hàng hoá, mà ở đó mọi yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình
sản xuất đều được qui định bởi thị trường. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh các
doanh nghiệp luôn muốn có được những điều kiện thuận lợi trong quá trình sản xuất
như: thuê được lao động rẻ mà có kĩ thuật, mua được nguyên nhiên vật liệu rẻ, có thị
trường các yếu tố đầu ra tốt. Điều đó dẫn đến sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
để chiếm lấy, nắm giữ lấy những điều kiện thuận lợi. Sự cạnh tranh này chỉ kết thúc
khi nó được đánh dấu bởi một bên chiến thắng và một bên thất bại. Tuy vậy cạnh
tranh không bao giờ mất đi trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh là sự sống còn
của các doanh nghiệp. Muốn tồn tại được buộc các doanh nghiệp phải nâng cao sức
cạnh tranh của doanh nghiệp mình bằng cách: nâng cao năng lực sản xuất của doanh
nghiệp, giảm chi phí sản xuất để cạnh tranh về giá cả, cải tiến khoa học kĩ thuật…
Điều này sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đồng thời cũng làm cho xã hội phát triển
Nh
ữ
ng nguyên lý c
ơ
b
ả
n c
ủ
a ch
ủ
ngh
chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với người tiêu dùng cũng như nền kinh tế quốc
dân nói chung.
3.1. Đối với nền kinh tế quốc dân
Đối với nền kinh tế cạnh không chỉ là môi trường và động lực của sự phát
triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động mà
còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã hội, cạnh tranh còn là điều
Nh
ữ
ng nguyên lý c
ơ
b
ả
n c
ủ
a ch
ủ
ngh
ĩ
a Mac Lênin 5
kiện giáo dục tính năng động của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó cạnh tranh góp
phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của nhứng sản
phẩm mới. Điều đó chứng tỏ đời sống của con người ngày càng được nâng cao về
chính trị, về kinh tế và văn hoá. Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa
học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển sâu và rộng. Tuy
nhiên bên cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranh đem lại thì nó vẫn còn mang lại
b
ả
n c
ủ
a ch
ủ
ngh
ĩ
a Mac Lênin 6
nghiệp. Trên cơ sở đó sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tái sản xuất xã
hội, tạo đà phát triển mạnh cho nền kinh tế.
3.3. Đối với ngành
Hiện nay đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng ngành nói riêng cạnh
tranh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển, nâng cao chất lượng sản
phẩm. Cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ tạo bước đà và động lực cho ngành
phát triển trên cơ sở khai thác lợi thế và điểm mạnh của ngành đó là thu hút được
một nguồn lao động dồi dào và có thể khai thác tối đa nguồn lực đó.
Như vậy, trong bất cứ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy mô hoạt
động lớn hay quy mô hoạt động nhỏ, dù là hoạt động đó đứng ở tầm vĩ mô hay vi
mô thì không thể thiếu sự có mặt và vai trò của yếu tố cạnh tranh .
3.4. Đối với sản phẩm.
Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng cao về
chất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ. Giúp cho lợi ích của
người tiêu dùng và của doanh nghiệp thu được ngày càng nhiều hơn. Ngày nay các
sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn cung
cấp và xuất khẩu ra nước ngoài. Qua những ý nghĩa trên ta thấy rằng cạnh tranh
Người bán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi nhuận còn người mua muốn
mua với giá thấp nhưng chất lượng vẫn được đảm bảo và mức giá cuối cùng vẫn là
mức giá thoả thuận giữa hai bên.
- Cạnh tranh giữa người mua và người mua: Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở
quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu. Lúc này hàng hóa
trên thị trường sẽ khan hiếm, người mua để đạt được nhu cầu mong muốn của mình
họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay
gắt hơn giữa những người mua, kết quả là giá cả hàng hoá sẽ tăng lên, những người
bán sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khi những người mua bị thiệt thòi cả về giá cả
và chất lượng, nhưng trường hợp này chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và
xảy ra ở một số nơi khi diễn ra hoạt động bán đấu giá một loại hàng hoá nào đó.
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh gay
go và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn sức cầu
rất nhiều, khách hàng được coi là thượng đế của người bán, là nhân tố có vai trò
quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do vậy các doanh
nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để giành những ưu thế và lợi thế cho mình.
4.2 Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh
Theo tiêu thức này cạnh tranh được chia thành bốn loại:
- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Là cạnh tranh thuần tuý, là một hình
thức đơn giản của cấu trúc thị trường trong đó người mua và người bán đều
không đủ lớn để tác động đến giá cả thị trường. Nhóm người mua tham gia trên
thị trường này chỉ có cách thích ứng với mức giá đưa ra vì cung cầu trên thị
trường được tự do hình thành, giá cả do thị trường quyết định.
- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: Đây là hình thức cạnh tranh
phổ biến trên thị trường mà ở đó doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể chi
phối được giá cả của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo, khuyến mại các
dịch vụ trong và sau khi bán hàng. Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh mà
phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm mang nhãn
hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét về chất lượng thì sự khác biệt giữa các sản
trở ngại cho quá trình phát triển sản xuất và làm tổn hại đến người tiêu dùng. Vì
vậy phải có một đạo luật chống độc quyền nhằm chống lại liên minh độc quyền
của một số nhà kinh doanh.
+ Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số
ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất. Lúc này cạnh tranh sẽ
xảy ra giữa một số lực lượng nhỏ các doanh nghiệp. Do vậy mọi doanh nghiệp
phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào số
lượng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ cạnh tranh khác trên thị
trường. Một sự thay đổi về giá của doanh nghiệp cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng
đến nhu cầu cân đối với các sản phẩm của doanh nghiệp khác. Những doanh
nghiệp tham gia thị trường này là những người có tiềm lực kinh tế mạnh, vốn đầu
tư lớn. Do vậy việc thâm nhập vào thị trường của các đối thủ cạnh tranh thường là
rất khó.
4.3. Căn cứ vào phạm vi kinh tế
- Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm.
Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải áp
dụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng
Nh
ữ
ng nguyên lý c
ơ
b
ả
n c
ủ
a ch
ủ
ngh
nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để
thu được lợi nhuận tối đa.
Cạnh tranh TBCN có hai loại: Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình
thành giá trị thị trường, và cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến sự hình thành tỷ suất
lợi nhuận bình quân.
I. Cạnh tranh trong nội bộ ngành và sự hình thành giá trị thị trường.
Nh
ữ
ng nguyên lý c
ơ
b
ả
n c
ủ
a ch
ủ
ngh
ĩ
a Mac Lênin 10
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng
một ngành, sản xuất cùng một loại hàng hoá, nhằm giành những điều kiện thuận lợi
nhất trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành thông qua các biện pháp: Cải tiến kỹ thuật, hợp
lý hoá sản xuất, nâng cao NSLĐ, chất lượng hàng hoá làm giảm giá trị cá biệt của
hàng hoá so với giá trị xã hội để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
GT thị
trường
Nh
ữ
ng nguyên lý c
ơ
b
ả
n c
ủ
a ch
ủ
ngh
ĩ
a Mac Lênin 11
Tốt 15 2 30 3 45
TB 70 3 210 3 210
Kém 15 4 60 3 45
Tổng 100
300
300
Qua bảng phân tích trên ta thấy tổng số giá trị cá biệt và tổng số giá trị thị trường là
ng nguyên lý c
ơ
b
ả
n c
ủ
a ch
ủ
ngh
ĩ
a Mac Lênin 12
Loại DN
Số lượng
SP
GT
cá biệt
Tổng số
Gt cá biệt
GT thị
trường
Tổng số GT
thị trường
Tốt 70 2 140 2,4 168
TB 20 3 60 2,4 48
Kém 10 4 40 2,4 24
Tổng 100
n c
ủ
a ch
ủ
ngh
ĩ
a Mac Lênin 13
bắt kịp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Chính vì
vậy cạnh tranh là rất cần thiết, nó giúp cho doanh nghiệp:
- Tồn tại và đứng vững trên thị trường: Cạnh tranh sẽ tạo ra môi trường kinh
doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, làm cho khách
hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu nhu
cầu của người tiêu dùng nhất. Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của
khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trường
hiện nay.
- Doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và là một
yếu tố kích thích kinh doanh. Quy luật cạnh tranh là động lực thúc đẩy hát triển sản
xuất, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá sản xuất ra nhiều, số lượng
người cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt, kết quả cạnh
tranh là loại bỏ những Công ty làm ăn kém hiệu quả, năng suất chất lượng thấp và
ngược lại nó thúc đẩy những Công ty làm ăn tốt, năng suất chất lượng cao. Do vậy,
muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng
cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. Các
doanh nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu
dùng như sản xuất ra nhiều loại hàng hoá có chất lượng cao, giá cả phù hợp với chất
nơi họ. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có những chương trình giới thiệu truyền
bá và quảng cáo sản phẩm của mình để người tiêu dùng biết đến, để họ có sự xem
xét, đánh giá và quyết định có nên tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp hay
không?. Ngày nay việc chào mời để khách hàng tiêu thụ sản phẩm của mình đã là
vấn đề khó khăn nhưng việc giữ lại được khách hàng còn khó khăn hơn rất nhiều.
Bởi vậy mà doanh nghiệp nên có những dịch vụ cả trước khi bán, trong khi bán và
dịch vụ sau khi bán hàng hoá cho khách hàng để những khách hàng đó là những
khách hàng truyền thống của doanh nghiệp, chính họ là những nhân tố quan trọng
trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp phải cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu
Bất kỳ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ khi thực hiện hoạt động kinh doanh
đều có những mục tiêu nhất định. Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh
nghiệp mà doanh nghiệp đặt ra cho mình những mục tiêu khác nhau. Trong giai
đoạn đầu khi mới thực hiện hoạt động kinh doanh thì mục tiêu của doanh nghiệp là
muốn khai thác thị trường nhằm tăng lượng khách hàng truyền thống và tiềm năng,
giai đoạn này doanh nghiệp thu hút được càng nhiều khách hàng càng tốt. Còn ở
giai đoạn trưởng thành và phát triển thì mục tiêu của doanh nghiệp là tăng doanh
thu, tăng lợi nhuận và giảm chi phí, giảm bớt những chi phí được coi là không cần
thiết, để lợi nhuận thu được là tối đa, uy tín của doanh nghiệp và niềm tin của khách
hàng đối với doanh nghiệp là cao nhất. Đến giai đoạn gần như bão hoà thì mục tiêu
chủ yếu của doanh nghiệp là gây dựng lại hình ảnh đối với khách hàng bằng cách
thực hiện trách nhiệm đối với Nhà nước, đối với cộng đồng, củng cố lại thêm niềm
tin cho của khách hàng đối với doanh nghiệp. Để đạt được các mục tiêu doanh
nghiệp cần phải cạnh tranh, chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới bằng mọi giá
tìm ra phương cách, biện pháp tối ưu để sáng tạo, tạo ra những sản phẩm đạt chất
lượng cao hơn, cung ứng những dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thỏa mãn nhu
cầu khách hàng ngày càng tăng. Chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có thể tồn
tại và phát triển.
2. Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành và của
hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới.
Phải coi đào tạo nguồn nhân lực sử dụng thành thạo công nghệ mới như là
một yếu tố quyết định để tăng sức cạnh tranh. Sản phẩm do đội ngũ công nhân lành
nghề, sản xuất luôn có chất lượng đảm bảo về mọi yêu cầu.
Khi đã có cơ sở vật chất cho sản xuất thì yếu tố con người trở thành khâu đột
phá quan trọng. Trình độ của người lao động có được nâng cao thì mới đáp ứng
được yêu cầu sử dụng máy móc công nghệ hiện đại, mới tạo được sản phẩm có chất
lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Nguồn nhân lực thực tế luôn là một trong những yếu tố quyết định đến mức
độ phát triển và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế hàng hoá. Chất lượng nguồn
nhân lực phải được coi trọng và được đào tạo thông qua việc tăng cường cập nhật
chương trình đào tạo hiện đại, nắm bắt được những công nghệ mới tăng cường việc
giao lưu đào tạo nghề với các nước khác. Có như vậy mới có thể thay đổi chất lượng
lao động trong nước và đó là yếu tố quan trọng làm tăng sức cạnh tranh của nền
kinh tế Việt Nam.
Phải có sự phân công chuyên môn hoá cao, để có sự lựa chọn sản phẩm mà
không cạnh tranh triệt tiêu nhau.
Nh
ữ
ng nguyên lý c
ơ
b
ả
n c
ủ
a ch
ủ
ngh
Nhà nước cần cải tạo hệ thống thuế, nhất là thuế xuất nhập khẩu, để doanh
nghiệp có cơ hội giảm chi phí sản xuất, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh hàng
hoá của mình.
Đặc biệt nhà nước cần tích cực hỗ trợ trong việc về nghiên cứu triển khai, tiếp
thị xuất khẩu và đào tạo nguồn lực con người.
Nh
ữ
ng nguyên lý c
ơ
b
ả
n c
ủ
a ch
ủ
ngh
ĩ
a Mac Lênin 17
Để triển khai tiếp thị đặc biệt là khi muốn đưa sản phẩm trong nước ra thị
trường quốc tế thì vai trò của nhà nước là vô cùng quan trọng. Những hợp tác kinh
tế quốc tế cần được lót đường bởi các hoạt động chinh trị.
Trong việc phát triển nguồn nhân lực thì việc đào tạo con người rất cần sự hỗ
trợ tích cực từ phía nhà nước.
Chỉ có phát huy sức mạnh tổng hợp từ hai phía nhà nước và doanh nghiệp thì
mới tăng sức cạnh tranh của hàng Việt Nam. Đó là một đòi hỏi của nền kinh tế hàng
n c
ủ
a ch
ủ
ngh
ĩ
a Mac Lênin 18
kinh tế. Việt Nam cũng sẽ không tránh khỏi thất bại nếu không biết vận dụng quy
luật cạnh tranh. Là nước áp dụng quy luật cạnh tranh muộn nên Việt Nam sẽ có
được nhiều kinh nghiệm của những nước đi trước, từ đó chúng ta hy vọng Việt Nam
sẽ chứng minh rằng: Việt Nam chính là mảnh đất mầu mỡ cho cạnh tranh phát huy
hết ưu điểm của nó.