Phân tích tình hình tài chính Công ty TNHH Xây dựng và Công nghệ Quang Minh - Pdf 11

LỜI NÓI ĐẦU
Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành hoạt động sản xuất.
Hoạt động sản xuất là hoạt động tự giác có ý thức của con người nhằm biến các
vật thể tự nhiên thành các vật phẩm có ích phục vụ cho mình. Con người khi
tiến hành làm bất cứ việc gì cũng luôn mong muốn đạt hiệu quả cao với những
chi phí tối thiểu nhưng đem lại lợi ích tối đa cho mình. Một trong những hoạt
động quan trọng và được con người tiến hành thường xuyên là hoạt động sản
xuất kinh doanh. Để hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành đạt được kết quả
như mong muốn thì điều tất yếu là phải thực hiện chức năng quản lý và để có
thể thực hiện tốt chức năng quản lý thì không thể thiếu thông tin. Thông tin
cung cấp cho quản lý được thu thập từ rất nhiều nguồn khác nhau và bằng
nhiều cách khác nhau, trong đó có các thông tin về hoạt động tài chính.
Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nó có mặt trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh từ khâu tạo
vốn trong doanh nghiệp đến khâu phân phối tiền lãi thu được từ quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Nhiệm vụ của hoạt động tài chính là phải huy động đủ vốn đáp ứng cho
nhu cầu sản xuất kinh doanh, đồng thời phải quản lý và sử dụng vốn có hiệu
quả trên cơ sở chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chính sách, chế độ quy định
về tài chính tín dụng của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường, tình hình tài chính của doanh nghiệp là một
vấn đề được rất nhiều người quan tâm nhất là những người quan tâm đến hoạt
động của doanh nghiệp . Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính là một việc
làm vô cùng cần thiết. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nhằm đánh
giá được đầy đủ, chính xác tình hình tổ chức, phân phối, sử dụng và quản lý các
loại vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp, vạch rõ khả năng tiềm tàng và xu
hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Thông qua việc quản lý, sử
dụng các nguồn vốn, đề xuất các biện pháp cần thiết và có hiệu quả để khai
thác tới mức cao nhất những khả năng tiềm tàng để nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn phục vụ tốt cho sản xuất kinh doanh.
Tài liệu dùng để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp chủ yếu dựa

lãi, nhà quản lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức
doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai. Từ đó, họ có thể định
hướng cho giám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định
đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính. Cuối
cùng phân tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý.
1.1.2.2. Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp
Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, về kết quả kinh
doanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triển
vọng phát triển của doanh nghiệp; từ đó đưa ra những quyết định phù hợp. Các
nhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất có một điều kiện
là giá trị hiện tại ròng của nó dương. Khi đó lượng tiền của dự án tạo ra sẽ lớn
hơn lượng tiền cần thiết để trả nợ và cung cấp một mức lãi suất yêu cầu cho nhà
đầu tư.
3
1.1.2.3. Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp
Nếu phân tích tài chính được các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp thực
hiện nhằm mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của doanh nghiệp
thì phân tích tài chính lại được các ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng
thương mại cho doanh nghiệp sử dụng nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh
nghiệp.
1.1.2.4. Đối với người lao động trong doanh nghiệp
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp,
người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin
tài chính của doanh nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của
doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của
người lao động.
1.1.2.5. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Dựa vào các báo cáo tài chính doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà
nước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt
động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo

tin đặc biệt cần thiết. Nó được phản ánh đầy đủ trong các báo cáo kế toán của
doanh nghiệp. Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài
chính được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán.
Các báo cáo tài chính gồm có:
1.2.3.1. Bảng cân đối kế toán
1.2.3.2. Báo cáo kết quả kinh doanh
1.2.3.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
1.2.3.4. Thuyết minh báo cáo tài chính
1.3. Các bước tiến hành phân tích tài chính
1.3.1.Các bước tiến hành phân tích tài chính
1.3.1.1. Thu thập thông tin
1.3.1.2. Xử lý thông tin
1.3.1.3. Dự đoán và quyết định
5
1.3.2.Trình tự phân tích tài chính
Trình tự tiến hành phân tích tài chính tuân theo các nghiệp vụ phân tích thích
ứng với từng giai đoạn dự đoán tài chính theo sơ đồ sau :
Giai đoạn dự đoán Nghiệp vụ phân tích
Chuẩn bị và xử lý các nguồn thông tin
- Thông tin kế toán nội bộ
- Thông tin khác từ bên ngoài
áp dụng các công cụ phân tích
- Xử lý thông tin kế toán
- Tính toán các chỉ số
- Tập hợp các bảng biểu
Xác định các biểu hiện đặc trưng Giải thích và đánh giá các chỉ số,
bảng biểu
- Biểu hiện hoặc hội chứng khó khăn
- Điểm mạnh và điểm yếu
- Cân bằng tài chính

biến như: liên hệ cân đối, liên hệ thuận nghịch, liên hệ tương quan.
1.5. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp có thể được trình bày theo hai
cách sau:
- Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính
- Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính.
1.5.1. Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính
1.5.1.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính
Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, trước tiên
phải so sánh tổng tài sản và tổng nguồn vốn giữa kì và đầu năm. Qua so sánh, có
thể thấy được sự thay đổi quy mô vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ cũng
như khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, số tổng cộng của tài
sản và nguồn vốn tăng giảm là do nhiều nguyên nhân khác nhau, do đó cần đi
sâu phân tích các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán.
1.5.1.2. Phân tích chi tiết tình hình tài chính
7
Trong phân tích chi tiết tình hình tài chính ta đi phân tích tình hình phân
bổ vốn, xem xét doanh nghiệp đã phân bổ vốn hợp lí và phát huy hiệu quả chưa?
Để phân tích, ta tiến hành xác định tỉ trọng từng khoản vốn ở thời điểm đầu kì
và cuối kì và so sánh sự thay đổi về tỉ trọng giữa đầu kì và cuối kì nhằm tìm ra
nguyên nhân của sự chênh lệch này.
1.5.2. Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính.
1.5.2.1. Phân tích các tỷ lệ tài chính
Trong phân tích tài chính, các tỷ lệ tài chính chủ yếu thường được phân
thành 4 nhóm chính. Đó là : nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về
khả năng cân đối vốn, nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt động, nhóm tỷ lệ về khả
năng sinh lãi. Nhìn chung, mối quan tâm trước hết của các nhà phân tích tài
chính là tình hình tài chính của doanh nghiệp có lành mạnh không? Liệu doanh
nghiệp có khả năng đáp ứng được những khoản nợ đến hạn không? Nhưng tuỳ
theo mục đích phân tích tài chính mà nhà phân tích tài chính chú trọng nhiều

Trong phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, người ta thường
xem xét sự thay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một doanh
nghiệp trong một thời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế
toán.
1.5.2.2.2. Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh
1.5.2.2.3. Phân tích các dòng ngân quỹ của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, tiền của doanh nghiệp là một yếu tố rất quan
trọng. Ở một thời điểm nhất định, tiền chỉ phản ánh và có ý nghĩa như một hình
thái biểu hiện của tài sản lưu động; nhưng trong quá trình kinh doanh, sự vận
động của tiền được xem là hình ảnh trung tâm của hoạt động kinh doanh, phản
ánh năng lực tài chính của doanh nghiệp.
1.6. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng phân tích tài chính
1.6.1.Chất lượng thông tin sử dụng
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phân tích tài
chính, bởi một khi thông tin sử dụng không chính xác, không phù hợp thì kết
9
quả mà phân tích tài chính đem lại chỉ là hình thức, không có ý nghĩa gì. Vì vậy,
có thể nói thông tin sử dụng trong phân tích tài chính là nền tảng của phân tích
tài chính.
1.6.2.Trình độ cán bộ phân tích
Nhiệm vụ của người phân tích là phải gắn kết, tạo lập mối liên hệ giữa các
chỉ tiêu, kết hợp với các thông tin về điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của doanh
nghiệp để lý giải tình hình tài chính của doanh nghiệp, xác định thế mạnh, điểm
yếu cũng như nguyên nhân dẫn đến điểm yếu trên. Hay nói cách khác, cán bộ
phân tích là người làm cho các con số “biết nói”. Chính tầm quan trọng và sự
phức tạp của phân tích tài chính đòi hỏi cán bộ phân tích phải có trình độ chuyên
môn cao.
1.6.3. Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành
Thông qua đối chiếu với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản lý

Thiết kế hệ thống Me & E.
Sản xuất và thi công xây dựng các công trình xây dựng
2.1.4. Tổ chức bộ máy quản lý ở công ty TNHH Xây dựng và công nghệ
Quang Minh
Giám đốc công ty: Là người có quyền lực cao nhất trong công ty, quyết
định các chiến lược và phương án kinh doanh, bổ nhiệm và miễn nhiệm phó
giám đốc, các trưởng phòng và cỏc vị trí quan trọng khác.
Phó giám đốc: Là người cộng sự đắc lực của giám đốc, được giám đốc uỷ
quyền để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý trong lĩnh vực được giao. Công
ty có 4 phó giám đốc.
Kế toán trưởng: Có vai trò tham mưu cho giám đốc về lĩnh vực kinh tế tài
chính – kế toán.
Các phòng ban chức năng được tổ chức căn cứ theo yêu cầu của công tác
kinh doanh bao gồm: Phòng tổ chức hành chính, phòng kỹ thuật thi công, phòng
kinh tế thị trường, phòng tài chính kế toán, phòng đầu tư, phòng giám sát, phòng
thí nghiệm…
11
2.1.5 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán và năng lực tài chính công ty
TNHH Xây dựng và công nghệ Quang Minh:
2.1.5.1. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán:
Công ty áp dụng hình thức công tác kế toán nửa tập chung nửa phân tán
theo chế độ kế toán hiện hành
Hình thức sổ kế toán áp dụng: Chứng từ ghi sổ
2.1.5.2. Phương pháp kế toán tài sản cố định (tài sản cố định)
Nguyên tắc đánh giá tài sản cố định
Theo giá vốn( giá mua cộng với chi phí có liên quan đến mua tài sản cố
định)
Phương pháp khấu hao áp dụng: Theo phương pháp tuyến tính với mức
khấu hao quy định tại quyết định số 166/199/QĐ- BTC ngày 30 tháng 12 năm
1997 của Bộ Tài Chính

hơn trong phần phân tích chi tiết tài chính công ty.Từ bảng các chỉ tiêu về cơ
cấu tài chính của công ty ta thấy hệ số nợ khá lớn và tương đối ổn định qua các
năm, năm 2009 có hệ số nợ cao nhất 96,98 tương ứng với hệ số nguồn
vốn/tổng tài sản .Hệ số nợ/vốn CSH các năm đều ở mức cao .Với các chỉ tiêu về
cơ cấu tài chính như vậy đòi hỏi công ty cần phải có biện pháp giảm nợ, tăng
nguồn vốn chủ sở hữu.Tuy sử dụng nợ là một đòn bẩy tài chính nhưng với mức
nợ quá lớn sẽ là rủi ro rất lớn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Về hệ số cơ cấu tài sản cố định và đầu tư dài hạn: Năm 2008 là 21,75%
nhưng đến năm 2010 hệ số cơ cấu tài sản cố định và đầu tư dài hạn chỉ còn
18,02%. Năm 2010 công ty đầu tư nhiều hơn cho tài sản lưu động và đầu tư
ngắn hạn.Do năm 2009 công ty đã đầu tư khá lớn vào tài sản cố định và đầu tư
dài hạn, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đã
được đầu tư khá tốt. Vì vậy, năm 2010 công ty chủ yếu đầu tư vào tài sản lưu
động và đầu tư ngắn hạn (81.98%). Thể hiện đây là năm hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty được mở rộng, hiệu quả tốt.
2.2.2. Phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán:
13
Trong cả 3 năm tổng cộng nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay đều nhỏ hơn
tài sản, năm 2008 mức chênh lệch là rất lớn, các năm 2009, 2010 công ty đã chú
trọng đến việc thu hồi các khoản phải thu nhưng hiện tại công ty cần phải tiếp
tục có các biện pháp thu hồi nợ đọng, giảm tới mức thấp nhất việc bị các đơn vị
khác chiếm dụng vốn, nếu để tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến chiến lược
phát triển, đầu tư, lợi nhuận và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của công ty.
2.3.Phân tích chi tiết tình hình tài chính của công ty:
2.3.1 Phân tích tình hình phân bổ vốn:
2.3.1.1. Sự thay đổi về số lượng, quy mô tỷ trọng của từng loại vốn:
Phân tích cơ cấu về tài sản, cơ cấu vốn của công ty là một vấn đề có ý
nghĩa hết sức quan trọng. Nếu doanh nghiệp có cơ cấu vốn hợp lý thì không
phải chỉ sử dụng vốn có hiệu quả mà còn tiết kiệm được vốn trong quá trình
sản xuất kinh doanh. Để phân tích ta tiến hành xác định tỷ trọng của từng

này, công ty cần xem xét cho đầu tư tài chính dài hạn.Bởi đây là chỉ tiêu
phản ánh khả năng tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho công ty.
Công ty có mức đầu tư vào tài sản cố định khá cao chứng tỏ cơ sở vật
chất kỹ thuật của công ty khá mạnh nhưng cần lưu ý năm 2010 tỷ suất đầu tư
vào tài sản cố định chưa tương xứng với tổng tài sản và xét trong lĩnh vực
xây dựng thì đầu tư vào máy móc thiết bị chiếm một lượng vốn khá lớn. Do
vậy, công ty nên đầu tư thêm vào trang bị tài sản cố định, hiện đại cơ sở vật
chất tạo điều kiện để công ty có thể cạnh tranh trên thị trường.
2.3.2. Phân tích kết cấu nguồn vốn của công ty:
Kết cấu nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanh.
Do đó, các công ty đều hướng đến một cơ cấu vốn hợp lý, một cơ cấu vốn
hợp lý sẽ giúp công ty tiết kiệm được chi phí sử dụng vốn, từ đó nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Theo kết quả phân tích kết cấu nguồn vốn ta nhận thấy tổng nguồn vốn
của công ty biến động qua các năm khá lớn. Năm 2009 tổng nguồn vốn giảm
16.895.981.349 đ (-12.62%) so với năm 2008 nhưng đến năm 2010 tổng
nguồn vốn lại tăng so với năm 2009 là 52.736.191.941 đ (+31.07%). Điều
15
này cho thấy năm 2009 công ty gặp khó khăn trong việc huy động nguồn vốn
cho sản xuất kinh doanh và điều này ngược lại với năm 2010, đây là năm
tổng nguồn vốn của công ty tăng lên một cách rõ rệt. Nhưng thực chất trong
tổng nguồn vốn của công ty ta nhận thấy tỷ lệ nợ phải trả chiếm một tỷ lệ rất
lớn, năm 2008 là 95.35%, năm 2009 là 96.98%, năm 2010 là 96.59%, năm
2010 tỷ lệ nợ phải trả tăng so với năm 2009 là 50.472.423.500 đ ( +44.49%).
Vì thế khả năng đảm bảo về mặt tài chính của công ty là rất thấp, do vậy
công ty cần phải có các biện pháp điều chỉnh tỷ lệ này cho hợp lý.
Vì tỷ lệ nợ phải trả chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số nguồn vốn nên ta đi
sâu phân tích sự biến động của các chỉ tiêu này. Trong nợ phải trả ta thấy
khoản nợ ngắn hạn là khoản nợ phải trả chủ yếu. Trong năm 2008 số nợ
ngắn hạn là 120.607.350.036 đ chiếm 90,08% tổng nguồn vốn và tương ứng

hợp logic khi vốn chủ sở hữu nhỏ lại tăng trong năm, khi đó các khoản phải thu
đều tăng lên cuối kỳ thì các khoản phải trả cũng vậy.
Tổng các khoản phải trả cuối năm 2010 tăng so với đầu năm là
34.225.614.390 tức là tăng tới 81.02% cho thấy sự giảm sút thanh toán các
khoản nợ phải trả của công ty. Việc tăng các khoản nợ phải trả làm tăng tình
trạng nợ nần dây dưa, đồng thời thể hiện một thực trạng tài chính không khả
quan và việc công ty đi chiếm dụng một lượng vốn khá lớn của các đơn vị khác.
Quản trị công ty cần xác định rõ nguyên nhân làm khê đọng các khoản phải
trả và cần sớm có những biện pháp xử lý kịp thời các khoản công nợ, góp phần
lành mạnh hoá tình hình hoạt động tài chính của công ty, tránh việc kinh doanh
trong tương lai có thể bị giảm sút, công ty có thể mất khả năng thanh toán và rủi
ro phá sản.
Sự tăng lên của tổng các khoản phải trả là do nhiều nguyên nhân khác
nhau. Trong đó, chỉ tiêu vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng các khoản
phải trả, cuối năm 2010 tăng so với đầu năm là 21.221.331.800 đ tức là tăng
32,88% thể hiện công ty mở rộng quy mô xuất kinh doanh nên cần thêm vốn
phục vụ cho quá trình sản xuất. Trong phần phân tích các khoản phải thu ta thấy
lượng vốn bị khê đọng, bị các đơn vị khác chiếm dụng khá lớn, bên cạnh đó
17
tổng nguồn vốn của công ty giữa năm 2009-2010 lại tăng lên chứng tỏ quy mô
sản xuất của công ty tăng. Do vậy, có thể kết luận: Các khoản vay ngắn hạn của
công ty tăng lên là để trả các khoản nợ đến hạn và bổ xung vào vốn sản xuất
kinh doanh của công ty do bị đơn vị khác chiếm dụng.
2.4. Phân tích nh_m các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của công ty.
Tình hình tài chính của công ty chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến
tình hình tài chính và khả năng thanh toán của công ty. Để thấy rõ tình hình tài
chính của công ty hiện tại và tương lai, cần xác định các chỉ tiêu phân tích nhu
cầu và khả năng thanh toán của công ty. Khả năng thanh toán của công ty được
biểu hiện ở số tiền và tài sản mà công ty hiện có, có thể dùng để trang trải các
khoản nợ.

Với chỉ tiêu Sức sản xuất của tổng tài sản, các số liệu tính toán cho thấy,
sức sản xuất của tổng tài sản năm 2010 là lớn nhất và tổng tài sản được sử dụng
hiệu quả nhất vì thực tế kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2010 là lớn
nhất. Chỉ số sức sản xuất năm 2010 tăng là do tổng tài sản tăng. Để nhận xét chỉ
tiêu này cần kết hợp với chỉ tiêu quay vòng vốn lưu động và hiệu suất sử dụng
tài sản cố định vì hiệu suất sử dụng tổng tài sản chịu ảnh hưởng của hiệu suất sử
dụng tài sản cố định và tài sản lưu động.
Ngoài việc so sánh lợi nhuận với doanh thu, ta còn so sánh lợi nhuận với
tổng tài sản để xem xét một đồng tài sản thu bao nhiêu đồng lợi nhuận. Từ bảng
phân tích ta thấy chỉ tiêu sức sinh lời của công ty tư vấn giám sát và xây dựng
công trình là khá thấp. Năm 2010 hiệu quả có cao hơn năm 2008, 2009 một
chút. Năm 2010 sức sinh lời đạt được là 0,024 nghĩa là cứ một trăm đồng tài sản
tạo ra 2,4 đồng lợi nhuận.
Với hệ số sinh lời tài sản và doanh thu như vậy, công ty cần điều chỉnh lại
kế hoạch sản xuất kinh doanh.
+ Với chỉ tiêu suất hao phí tổng tài sản: 2 năm 2008, 2009 chỉ tiêu này là
rất thấp, công ty đã có những biện pháp điều chỉnh trong năm 2010, để có một
đơn vị lợi nhuận trước thuế cần 41,20đ tài sản. Công ty cần phát huy hơn nữa.
2.5.2.1. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định
19
Sức sản xuất của tài sản cố định từ 4,78 năm 2008 giảm xuống còn 2,9 năm
2009 và tăng lên 2,97 năm 2010. Phản ánh sức sản xuất của tài sản cố định biến
động khá lớn và có xu hướng giảm, kết hợp với sức sinh lợi cũng như suất hao
phí của tài sản cố định ta thấy mức hiệu quả trong sử dụng tài sản cố định là
chưa cao.
2.5.2.2. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản lưu động:
Ta thấy sức sản xuất và sức sinh lợi của vốn lưu động biến động lớn qua
các năm, đặc biệt năm 2010 sức sản xuất của vốn lưu động là 1,503. Đây là năm
công ty sử dụng khá hiệu quả vốn lưu động: Sức sản xuất và sức sinh lợi của
vốn lưu động tăng còn suất hao phí tài sản lưu động giảm. Trong tổng số tài sản

tài sản và nguồn vốn có những biến động lớn qua các năm. Năm 2009 giảm so
với năm 2008 là 16.895.981.349đ “-12,62%”, nhưng đến năm 2010 lại tăng so
với 2009 là 52.736.191.931đ “+45,08%”
-Về tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn: Năm 2009 giảm so với 2008
là 18.569.082.556đ “-17,61%”, năm 2010 tăng so với 2009 là 52.271.424.650đ
“+60,18%”.
-Về tài sản cố định và đầu tư dài hạn: Năm 2009 tăng so với năm 2008
là 1.643.101.250đ “+5,77%”, năm 2010 tăng so với năm 2009 là 401.130.880đ
“+1,33%”.
-Về nợ phải trả : Nợ phải trả của công ty các năm như sau: năm 2008
127.653.093.980đ, năm 2009 là 113.459.094.243đ, năm 2010 là
163.931.507.765đ
Năm 2009 giảm so với năm 2008 là 14.193.999.737 “-11,12%”, năm 2010 tăng
so với năm 2009 là 50.472.413.512đ “+44,49%”.
- Về nguồn vốn chủ sở hữu: Năm 2008 là 6.229.730.095đ, năm 2009 là
3.527.78.83đ, năm 2010 là 5.791.526.902đ. Năm 2009 nguồn vốn chủ sở hữu
giảm so với năm 2008 là 2.701.981.612đ “-76,59%”, năm 2010 tăng so với năm
2009 là 2.263.778.419đ “+64,17%”.
-Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh:
21
Tổng doanh thu năm 2008 là 136.546.924.615đ, năm 2009 là
131.362.102.057đ, năm 2010 là 169.799.000.000đ. Doanh thu giai đoạn 2008-
2010 biến động là khá lớn, tăng giảm không đều, năm 2009 doanh thu sụt giảm
nghiêm trọng chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như vấn đề tài chính
của công ty chưa thực sự ổn định. Doanh thu không ổn định kéo theo lợi nhuận
của công ty thu được qua các năm cũng biến động khá lớn, năm 2008 là
2.694.327.972đ, năm 2009 là 1.088.980.074đ, năm 2010 là 3.479.130.184đ.
Sơ bộ tình hình tài chính của công ty ta nhận thấy: Nhìn chung tình hình
tài chính của công ty trong giai đoạn 2008-2010 có khá nhiều biến động, sự tăng
giảm lớn về tài sản và nguồn vốn qua các năm, lợi nhuận thu được chưa thực sự

làm lành mạnh hoá tình hình hoạt động tài chính của công ty.
- Về nhóm các chỉ tiêu phản ánh sự biến động về cơ cấu tài sản của công
ty : Công ty cần có ngay biện pháp bổ xung thêm lượng tiền mặt ở mức vừa phải
đủ để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được ổn định, liên tục.
- Qua bảng cân đối kế toán ta cũng thấy, công ty chưa chú trọng đầu tư
vào các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, công ty nên có phương hướng đầu tư
vào lĩnh vực này trong năm tới.
-Tỷ trọng của hàng tồn kho: Công ty cần chi tiết từng loại mặt hàng tồn
kho, xác định rõ nguyên nhân và tìm mọi biện pháp giải quyết dứt điểm các mặt
hàng tồn đọng, nhằm thu hồi vốn, góp phần cho vấn đề sử dụng vốn có hiệu quả
hơn. Công ty cần kết hợp với chủ đầu tư đẩy mạnh tiến độ xây dựng các công
trình đang thi công nhằm đưa lượng hàng tồn kho lớn vào sản xuất kinh doanh.
-Về tỷ trọng tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn: Công ty cần phát
huy hơn nữa trong việc đầu tư máy móc thiết bị hiện đại nhằm cạnh tranh tốt
hơn trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay và trong tương lai.
-Về tỷ trọng chi phí xây dựng cơ bản dở dang: Công ty cần phải tìm mọi
biện pháp để gấp rút hoàn thành và đưa các công trình xây dựng dở dang vào
tiến độ. Những công trình có đủ vốn và thủ tục xây dựng cơ bản cần làm nhanh
thủ tục nghiệm thu và bám sát chủ đầu tư để thanh toán kịp thời.
-Để không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn
sản xuất kinh doanh của công ty, một mặt công ty cần phải sử dụng tiết kiệm
23
vốn sản xuất kinh doanh, mặt khác công ty phải sử dụng hợp lý về cơ cấu vốn
kinh doanh hiện có của công ty.
-Về nhóm các chỉ tiêu phản ánh nguồn tự tài trợ của công ty: Công ty cần
có biện pháp làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu, bởi khi nguồn vốn chủ sở hữu
tăng công ty có thể chủ động trong việc đảm bảo vốn cho nhu cầu của mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh và rủi ro về tài chính của công ty sẽ giảm, góp phần
làm bình ổn tình hình tài chính của công ty, giúp công ty hoạt động hiệu quả
hơn, ổn định vững chắc trong thị trường cạnh tranh khốc liệt.

3.1.4. Hoàn thiện công tác kế toán
Mặc dù công tác kiểm toán nội bộ của Công ty TNHH Xây dựng và
Công nghệ Quang Minh được tiến hành nghiêm túc. Song để có được những
thông tin tin cậy Công ty cần kiểm toán một cách thường xuyên, chặt chẽ hơn
nữa, nhằm kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của hệ thống chứng từ về việc ghi
chép các nghiệp vụ phát sinh, phát hiện sai lầm để sửa từ khâu đầu, cung cấp
nguồn thông tin “sạch” cho phân tích tài chính và góp phần lành mạnh hoá tài
chính của công ty.
3.1.5. Đào tạo nhân sự cho công tác phân tích tài chính
Đào tạo cán bộ cho công tác phân tích tài chính là một công việc khó, lâu
dài, cần có những cán bộ trẻ, năng động kế tiếp cho những người đi trước. Do
vậy, công ty cần có sự đầu tư thích đáng về thời gian và tiền của cho nguồn nhân
lực phục vụ cho công tác này. Công ty có thể tổ chức các khoá học ngắn hạn
bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho các cán bộ quản lý tài chính. Tuyển thêm
các cán bộ trẻ có nghiệp vụ cao chuyên về tài chính làm dồi dào thêm cho nguồn
nhân sự. Mặc dù công việc này mang tính đầu tư lâu dài, xong chắc chắn sẽ
nâng cao hiệu qủa, chất lượng công tác phân tích tài chính của công ty trong
tương lai.
3.1.6. Thực hiện công tác phân tích tài chính một cách thường xuyên
Ban lãnh đạo Công ty và các bộ phận phân tích cần nhận thức được vai trò
và ý nghĩa của công tác phân tích tài chính để nó trở thành công việc có vị trí, có
quy trình thực hiện chặt chẽ như các công tác kế toán bắt buộc thực hiện của
Công ty. Thường Công ty tiến hành phân tích vào cuối mỗi niên độ kế toán
nhằm mục đích báo cáo thì bây giờ Công ty có thể tiến hành thường xuyên hơn.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status