-1-
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HCM TRẦN HUY CƯỜNG
QUAN NIỆM VỀ VỐN NHÂN LỰC VÀ
THƯƠNG MẠI HÓA GIÁO DỤC
(TIỂU LUẬN MÔN HỌC “KINH TẾ HỌC GIÁO DỤC”)
Khái niệm vốn con người (Human Capital) đã được kinh tế gia Adam Smith
đề cập đến trong tác phẩm The Wealth of Nations, vào cuối thế kỷ 18. Lý thuyết vốn
con người được Gary Becker, giáo sư ðại học Chicago, giải Nobel kinh tế 1992,
khai triển vào năm 1962. Vốn con người được định nghĩa như tập hợp những năng
lực sản xuất mà một cá nhân thu được nhờ tích luỹ những hiểu biết tổng qt hay
đặc thù, những kỹ năng và sự thành thạo, v.v Khái niệm “vốn” diễn tả ý niệm một
dự trữ phi vật thể quy cho một người, có thể tích luỹ và hao mòn.
2
Cung lao động của con người khơng chỉ đơn thuần là việc góp mặt trên thị
trường lao động mà còn bao gồm các kỹ năng. Những kỹ năng này con người thu
được từ khả năng bẩm sinh của mình, những gì con người được đào tạo và kinh
nghiệm bạn đã trải qua. Vốn con người có được từ giáo dục và đào tạo nghề (dạy
trực tiếp hay vừa làm vừa học). ðầu tư vào vốn con người là bất kỳ nguồn lực nào
(bao gồm cả thời gian) dành để nâng cao năng suất làm việc của con người trong đó
bao gồm cả việc đầu tư vào sức khỏe.
Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (World Trade
Organization = WTO) vừa là một cơ hội, nhưng đồng thời cũng vừa phải đối diện
với những thách thức thời đại của mơ thức “Văn Hóa Kinh Tế Thị Trường”.
Khi nói về vốn liếng, người ta thường nghĩ ngay đến những giá trị vật chất cụ
thể mà người sở hữu có thể nhìn thấy, cất giữ hay cân, đo, đong, đếm được. Còn
những giá trị phi vật thể, đặc biệt là những giá trị tinh thần tạo nên bản sắc đặc thù
của một quốc gia, một xã hội, một dòng họ hay một con người được coi như những
“bẩm tính trời sinh”, bị chìm khuất sau biên cương và hào lũy truyền đời của lịch sử
và văn hóa.
3
1
qua lại trong sự tin tưởng lẫn nhau và ñồng thời ñó cũng là ñạo lý cư xử giữa người
và người trong xã hội. Theo ñịnh nghĩa của Ngân Hàng Thế Giới thì Vốn xã hội là
những gì liên quan ñến các cơ sở, các mối quan hệ và những giá trị truyền thống.
Tất cả cùng hợp sức tạo nên chất lượng và số lượng của thành phẩm làm nên bởi sự
tương giao hợp tác trong xã hội… Vốn xã hội không phải chỉ ñơn thuần là sự tổng
hợp những khối lượng vật chất của xã hội mà là chất keo làm dính chặt những khối
lượng tài sản xã hội nầy lại với nhau.
Như vậy, Vốn xã hội chính là con người. Trong khi con người lại chính là sản
phẩm của một hoàn cảnh xã hội hiện hữu và phát triển trong một hoàn cảnh kinh tế,
một bối cảnh lịch sử, một truyền thống văn hóa cụ thể nào ñó.
Ngày 24 tháng 4 năm 2006 vừa qua, Bill Gates, chủ nhân công ty Microsoft và
cũng là người giàu nhất thế giới với gia tài xấp xỉ 53 tỷ ñô la Mỹ, ñến thăm Việt
Nam. Nhân vật nầy ñã ñược giới trẻ Việt Nam cả nước ñặc biệt quan tâm theo dõi.
ðã có người tự hỏi: “Nếu Bill Gates sinh ra tại Việt Nam hay một nơi nào ñó không
phải là Mỹ thì liệu một ‘Bill Gates hạt giống’ có khả năng trở thành một Bill Gates
thành công lẫy lừng như hôm nay không? Tuy ñây chỉ là câu hỏi giả ñịnh, nhưng
câu trả lời dĩ nhiên là “không!” và câu hỏi tiếp sẽ là “Tại sao?” Câu trả lời ñơn giản
nhất sẽ là: “Vì Mỹ khác, ta khác. Mỹ có nhiều phương tiện kinh doanh và ñiều kiện
thuận lợi nghiên cứu kỹ thuật và tham khảo thị trường mà ta không có ” Thế thì có
người lại hỏi, một nhân vật Mỹ nổi tiếng khác cũng ñã ñến thăm Việt Nam, cựu
tổng thống Mỹ Bill Clinton, có một người em trai cùng cha khác mẹ, lớn lên trong
cùng một mái ấm gia ñình, suýt soát tuổi nhau là Roger Clinton lại trở thành một
-4-
tay lêu lổng, bị tù tội vì ghiền xì ke, ma túy. Như vậy có hai Clintons trái ngược
nhau trong cùng một hoàn cảnh. Clinton anh là vốn xã hội ñáng quý và Clinton em
là cục nợ xã hội ñáng thương hại.
Trên ñây là thí dụ cụ thể về mối tương quan và sự tác ñộng qua lại giữa con
người và hoàn cảnh. ðây là cả một sự tương tác về cả ba mặt: Vật chất, tinh thần,
hoàn cảnh riêng, chung. Bởi vậy, phương pháp luận cũng như dữ kiện về các mặt
dòng sinh mệnh của ñất nước và trong bối cảnh lịch sử thế giới thì ta thấy ñược
những gì?
Nguồn vốn quan trọng ñó bây giờ ñang phong phú, cạn kiệt hay vẫn còn dự
trữ tràn ñầy dưới dạng tiềm năng? Ba mươi năm qua sống dưới chế ñộ mới, không
còn chiến tranh, không còn phân chia Nam Bắc… nguồn vốn xã hội Việt Nam ñang
ở mức ñộ nào? Theo Russel Landsfield (2002), các tiêu chí “quan sát tạm thời” ñể
nhìn vào mức ñộ Nguồn vốn xã hội của một xã hội là : (1) Thái ñộ xử thế công cộng
(public behavior), (2) Sự ñáng tin cậy trong quan hệ mua bán ñổi chác hàng ngày
-5-
(trustworthiness in daily exchange and business), (3) Niềm tin trong sự tương tác
giữa quần chúng và lãnh ñạo (mutual trust between authority and people), (4) Trật
tự và an ninh công cộng (order and safety in public). Ví thử có một người như
Russel mới ñến Việt Nam lần ñầu, anh ta dùng những “thang ñiểm” vừa nêu ñể
“quan sát tạm thời” xã hội Việt Nam thì người ñó sẽ thấy nguồn vốn xã hội Việt
Nam hiện nay ñang ở vào mức ñộ nào?
Căn bản ñể tạo ra nguồn vốn xã hội là con người. Phẩm chất của con người
Việt Nam không thua sút bất cứ dân tộc nào trong cùng hoàn cảnh ñịa dư và lịch sử.
Trong những trường ñại học Mỹ mà người viết bài nầy có dịp giảng dạy, sự thể hiện
rất rõ ràng là sinh viên Việt Nam, thuộc cả hai thế hệ trẻ từ quê nhà sang du học hay
sinh ra và lớn lên tại Mỹ ñều không thua kém mảy may sinh viên của bất cứ nước
nào, nhất là ñối với sinh viên châu Á như Nhật, Trung Quốc, ðại Hàn, Singapore…
Thế nhưng trong thực tế ñất nước, về mặt chuyên môn và khả năng khai phá, sáng
tạo trong khoa học, kỹ thuật ñể tạo ra những sản phẩm kỹ nghệ hiện ñại, chúng ta
vẫn còn bị giới hạn và tụt hậu so với họ? Vốn xã hội hiện nay của ñất nước ta có ñủ
phẩm chất và lượng dự trữ ñể ñáp ứng ñược nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị
trường hay không? ðấy vẫn còn là những vấn ñề cần ñược nghiên cứu một cách
khách quan và khoa học mới có thể tìm ra câu trả lời thích ñáng.
Vốn xã hội là một khái niệm tương ñối còn mới mẽ trong sinh hoạt kinh tế
ñậm tính truyền thống và kế thừa của người Việt chúng ta. Khi nói về nguồn vốn,
hào nhân chủng một cách q bảo thủ và cực đoan đến độ lơ là khơng quan tâm
đúng mức đến sự vun đúc, ni dưỡng và phát triển nguồn vốn xã hội. Hậu quả là
sự thiếu hợp tác giữa những thành viên xã hội và các thế lực đầu tư đã đưa đến quan
hệ một chiều và dẫn đến chỗ vốn xã hội bị phá sản. Các nhà kinh doanh đầu tư nản
lòng lui bước. Thay vì hợp tác song phương trong tinh thần ngay thẳng, bình đẳng
và danh dự thì lại biến tướng thành quan hệ “đút” (bribe) và “đớp” (being bribed)
trong mối quan hệ của hối lộ và tham nhũng. Kết quả là hơn một thế kỷ qua, các
nước nghèo vẫn nghèo. Dân chúng vẫn lầm than; nền kinh tế các nước trong vùng
rất giàu tài ngun nhưng vẫn kiệt quệ vì giới tài phiệt sử dụng nhân lực và tài
ngun đất nước để làm giàu cho riêng cá nhân, gia đình và dòng họ của mình rồi
tìm cách chuyển tiền của và gửi con cháu của mình ra nước ngồi du học và lập
nghiệp.
Kẻ thù dai dẳng nhất của q trình tích lũy, phát triển Nguồn vốn xã hội là
tham nhũng. Bởi vậy, Vốn xã hội và tham nhũng có mối quan hệ nghịch chiều với
nhau: Nạn tham nhũng càng bành trướng, vốn xã hội càng co lại. Khi tham nhũng
trở thành “đạo hành xử” hàng ngày thì cũng là lúc vốn xã hội đang trên đà phá sản.
Nếu chỉ có ánh sáng mới có khả năng qt sạch hay đuổi dần bóng tối thì cũng
tương tự như thế, Vốn xã hội được tích lũy càng cao, nạn tham nhũng càng có hy
vọng bị đẩy lùi dần vào q khứ. Thử nhìn lại Vốn xã hội Việt Nam trong tương
quan nguồn vốn xã hội của thế giới, chúng ta mới thấy rõ được đâu là thế mạnh và
thế yếu của mình. Nhìn rõ mình khơng phải để thỏa mãn hay nản lòng dễ dãi nhất
thời mà để cầu tiến bộ; để sửa đổi và điều chỉnh kịp thời trước sự đòi hỏi như một
xu thế tất yếu của thời đại tồn cầu hóa. Sẽ khơng bao giờ muộn màng, cũng như
chẳng bao giờ q sớm để gây vốn xã hội, vì vốn xã hội là xương sống của đời sống
kinh tế và nhân văn cho đất nước hơm nay và cho thế hệ mai sau.
Giáo sư Phạm Tất Dong đã nhận định “Chất lượng giáo dục, cả ở hệ phổ thơng
lẫn hệ đại học của nước ta là một vấn đề cần được quan tâm hàng đầu. Những cuộc
tranh luận kéo dài về tình hình giáo dục trên báo chí nhiều tháng qua thường tập
trung vào đánh giá, phê bình tình trạng kém chất lượng giáo dục. Vấn đề này q
lớn, đòi hỏi phải có sự phối hợp nghiên cứu liên ngành giáo dục học, tâm lý học,
theo cảm tính hời hợt ñể xét ñoán mà cần bình tĩnh, xem xét nhiều mặt một cách
nghiêm túc mới có thể có quyết sách ñúng ñắn, thích hợp.
1
Trong khi ở nước ta giáo dục ñại học ì ạch từng bước nhọc nhằn, thì khắp nơi
trên thế giới các ñại học ñang trải qua những biến ñộng sâu sắc chưa từng có ñể
thích ứng với toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế quyết liệt.
Cộng ñồng Châu Âu, Nhật bản, và ngay cả một vài nước ASEAN, ñang nỗ lực
cải tổ GDðH nhằm tăng hiệu quả hoạt ñộng của các ñại học, gắn kết ñại học chặt
chẽ hơn với doanh nghiệp, trao quyền tự chủ rộng rãi và tự chịu trách nhiệm cho các
ñại học. Các nước trong Cộng ñồng Châu Âu tổ chức lại nền ñại học của họ theo
những nguyên tắc ñã thống nhất trong tuyên bố chung Bologna năm 1999 (chẳng
hạn, tổ chức lại ñại học theo khung 3-5-8 cho tương ñồng với ñại học Mỹ). Bên
cạnh những trường bình thường, người ta ñặt trọng tâm xây dựng những trung tâm
xuất sắc, nhằm tăng uy tín và sức hút ñể cạnh tranh với các ñại học Mỹ và giảm bớt,
tiến ñến chấm dứt dòng chảy chất xám sang Mỹ. Theo hướng ñưa các phương pháp
quản lý trong khu vực doanh nghịệp tư nhân vào khu vực giáo dục ñại học, các ñại
học ñược tăng quyền tự trị về mọi mặt, kể cả về tài chính và nhân sự, ñể hoạt ñộng
gần như một doanh nghiệp, tuy vẫn do Nhà nước cấp kinh phí nhưng có thể tự tìm
thêm những nguồn tài chính bổ sung khác mhằm buộc các ñại học muốn tồn tại và
phát triển phải quan tâm nhiều hơn nữa ñến hiệu quả và chất lượng.
Ở Châu Âu rất ít ñại học tư. Ở Nhật và Mỹ ñại học tư nhiều hơn, nhưng ỏ Mỹ
cũng chỉ chiếm khoảng 23% (về số sinh viên). Hầu hết các ñại học tư ở các nước
ñều là tổ chức vô vị lợi (non-profit), không có cổ phần, không mưu tìm lợi nhuận,
cho nên cũng ñược Nhà Nước cấp một phần kinh phí. Dĩ nhiên họ ñược tự chủ hoàn
toàn, như vậy, sau khi cải tổ, các ñại học công sẽ chỉ còn khác các ñại học tư chủ
yếu ở chỗ vẫn do Nhà Nước quản lý, dù sự quản lý này ñã ñược nới lỏng rất nhiều
(như Hiệu trưởng vẫn do chính quyền bổ nhiệm). Vì thế cũng có khi sự cải tổ này
1
thành viên ñồng ý cam kết về it nhất một khu vực giáo dục).
Như vậy, Giáo dục ở Việt Nam có bị cuốn theo trào lưu này ? Một ñiểm cần
lưu ý là khi tồn tại trong một thế giới không ngừng thay ñổi, Giáo dục cũng phải
thay ñổi ñể thích ứng. Cải cách là cần thiết, chỉ có ñiều không ñơn giản và cần bàn
là cải cách như thế nào là hợp lý và hiệu quả. Về cả hai phương diện khoa học và
thực tiễn quản lý ñã nảy ra không ít câu hỏi khó trả lời về tính chất hàng hóa của
giáo dục nói chung, và ñại học nói riêng. Ở Việt Nam, tuy nền giáo dục của ta còn
rất lạc hậu, làn sóng tân tự do cũng ñã lan tới. ðã có ý kiến cho rằng ñổi mới tư duy
giáo dục hiện nay chính là phải ñổi mới cách nhìn ñối với việc thương mại hóa giáo
dục, chính thức nhìn nhận giáo dục là hàng hóa, khuyến khích mạnh mẽ tư nhân ñầu
tư kinh doanh giáo dục, phát triển ñại học tư, tiến tới cổ phần hóa một bộ phận ñại
học công, lấy ñó làm giải pháp “khoán mười” cởi trói giáo dục.
Trước khi bàn có nên “Thương mại hóa giáo dục” trong khung cảnh toàn cầu
hóa hay không? Thì Giáo dục Việt Nam cần xác ñịnh lại sứ mệnh (nhiệm vụ),
ñường lối (triết lý, quan niệm, phương châm), sao cho phù hợp nhất với ñiều kiện
mới của thế giới, ñáp ứng tốt nhất các yêu cầu của sự nghiệp phát triển ñất nước
hướng ñến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
ðiều này là cần thiết vì những thiếu sót bất cập của nền giáo dục của ta suy cho
-9-
cùng bắt nguồn từ những mơ hồ về sứ mệnh và ñường lối giáo dục trong tình hình
mới.
Trước mắt cần phải cố gắng cao nhất phi tập trung hóa quản lý và tăng tính tự
chủ và tự chịu trách nhiệm. Rõ ràng Giáo dục Việt Nam vừa rất lạc hậu trong
cung cách quản lý quan liêu bao cấp nặng nề và bảo thủ, vừa có cả những yếu tố
thương mại hóa tiêu cực, kinh doanh ñơn thuần thiếu lành mạnh. Các nền giáo dục
trên thế giới vốn ñã ñược tự trị khá cao từ lâu, mà vẫn thấy bức thiết phải tăng
cường tự trị thêm nữa mới bảo ñảm hiệu quả hoạt ñộng trong kinh tế thị trường ở
thời toàn cầu hóa, thì ở Việt Nam, trong hàng chục năm qua, mặc cho nhiều kiến
nghị của những người tâm huyết, cung cách quản lý ñại học vẫn hết sức cũ kỹ. ðã
rõ khả năng có thể cải thiện nhanh. Hơn nữa, ñó cũng chính là một nguyên nhân hạn
chế khả năng phát triển quy mô các trường và ña dạng hóa các loại hình ñào tạo
theo nhu cầu của xã hội. Bài toán : chất lượng, quy mô, công bằng, với ba yếu tô
không phải lúc nào cũng ñồng hành nhịp nhàng - bài toán ñó không thể có giải pháp
thỏa ñáng chừng nào còn chế ñộ sử dụng và trả lương cho giáo chức ñại học bất
công và lãng phí như hiện nay.
-10-
Như vậy, trao quyền tự chủ về cho các Trường là ñiều cần thiết nên làm hơn
cả. Còn việc có nên “Thương mại hóa giáo dục” hay không thì còn tùy thuộc vào sứ
mệnh, ñường lối của Giáo dục Việt Nam.
Nếu “Thương mại hóa giáo dục” mà biến Giáo dục thành cái chợ - ý kiến của
nguyên Bộ trưởng Giáo dục Phạm Minh Hạc khăng khăng: "Trường học không thể
là cái chợ, xếp Bộ Giáo dục với Bộ Thương mại cùng một cơ chế là không thể chấp
nhận ñược. Các nước có nền kinh tế thị trường xã hội ñặc biệt chú ý tới công bằng
xã hội, trong ñó trước hết chăm lo phát triển giáo dục công cho mọi người học hết
phổ thông, học ñược nghề, ñại học ðường lối giáo dục như vậy không coi giáo
dục là hàng hóa, phát triển giáo dục không thể theo các quy luật của thị trường"
1
thì không nên “Thương mại hóa giáo dục” mà làm gì.
Còn nếu “Thương mại hóa giáo dục” mà có thể nâng cao quyền tự chủ và chất
lượng giáo dục – ý kiến Vụ trưởng Vụ Giáo dục (Ban Khoa giáo) Nguyễn Hữu Chí:
"Trong thực tiễn có xu hướng thương mại hóa giáo dục, có nhu cầu chi trả cao ñể
thụ hưởng nền giáo dục tốt, ngay trong nước có không ít trường quốc tế, lượng học
sinh VN ñổ xô ra nước ngoài học ngày càng nhiều. ðó là chưa kể các hiệp ñịnh
thương mại song phương ñều có tính ñến hạng mục giáo dục.
2
và ý kiến của Giáo
sư ðặng Hữu :
http://www.vnn.vn/giaoduc/2004/12/353237/
-11-
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO1.
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, CÁCH MẠNG THÔNG TIN VÀ CÁCH MẠNG
GIÁO DỤC, Chuyên đề khoa học, Hà Nội, 2005.
2.
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI,
Chuyên đề khoa học, Hà Nội, 2004.
3.
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, TOÀN CẦU HÓA VÀ SỰ HỘI NHẬP CỦA
GIÁO DỤC, Chuyên đề khoa học, Hà Nội, 2005.
4.
Các trang web :
A. http://diendan.edu.net.vn/forums/thread/89539.aspx
B. http://edu.net.vn
C.
http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/hoangtuy/gddaihoctruocapluctmh.htm
D. http://www.khoahoc.net/baivo/trankiemdoan/110506-vonxahoi.htm
E.
http://www.vnn.vn/giaoduc/2004/12/353237/