Các giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu tại Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Xuất nhập khẩu - Pdf 11

Chuyên đề thực tập
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây Việt Nam đã và đang hòa nhập với nền
kinh tế thế giới, và hoạt động thương mại quốc tế đã trở thành hoạt động
mang tính chất sống còn cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Thương mại quốc tế bao gồm hai hoạt động chính đó là xuất khẩu và nhập
khẩu. Hoạt động xuất khẩu giúp phát huy được lợi thế so sánh của đất nước,
thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển. Còn hoạt động nhập khẩu giúp
cung cấp những yếu tố cần thiết đảm bảo cho quá trình sản xuất trong nước
được liên tục và có hiệu quả phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện
đại hóa của đất nước mà nền sản xuất trong nước chưa đáp ứng được. Thêm
vào đó, nhập khẩu cũng cho phép có thể đi tắt, đón đầu, tiếp thu khoa học
công nghệ tiên tiến của các nước phát triển từ đó có cơ hội rút ngắn khoảng
cách, bắt kịp trình độ của các nước phát triển, tạo động lực thúc sự chuyển
dịch của nền kinh tế theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Trước những vai
trò vô cùng quan trọng trên của nhập khẩu thì việc hoàn thiện và đẩy mạnh
công tác nhập khẩu là rất quan trọng và cần thiết nó giúp cho các quốc gia
đang phát triển như Việt Nam hòa nhập với nền kinh tế thế giới.
Qua một thời gian thực tập tại Công ty TNHH thương mại và dịch vụ
xuất nhập khẩu, tôi đã có những tìm hiểu về hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu của công ty và thấy rằng hoạt động nhập khẩu luôn chiếm tỷ trọng lớn
trên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Từ đó, tôi quyết định tìm tòi, nghiên
cứu sâu hơn về hoạt động này của Công ty và thấy rằng Công ty đã đạt được
rất nhiều thành tựu trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, bên cạnh những thành
công đã đạt được, Công ty vẫn còn một số tồn tại nhất định cần giải quyết để
hoạt động nhập khẩu ngày càng hoàn thiện và có hiệu quả hơn. Xuất phát từ
vai trò quan trọng của nhập khẩu với nền kinh tế nói chung và với Công ty
Hoàng Phương Dung – TMQT 46
1
Chuyên đề thực tập
TNHH thương mại và dịch vụ XNK cùng với những kiến thức đã học, tôi đã

chức.
Nhập khẩu thể hiện sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia với nền kinh
tế thế giới đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay làm cho sự ảnh
hưởng của từng quốc gia với nhau và của từng khu vực kinh tế thế giới ngày
một tăng.
Khi tiến hành hoạt động nhập khẩu doanh nghiệp có thể hiểu biết thêm
về đối tác, thị trường nước ngoài, giá cả, các phương thức mua bán để từ đó
nhận biết được những mặt hàng nhập khẩu phù hợp với nhu cầu trong nước
và tiềm lực của doanh nghiệp, từ đó có chiên lược nhập khẩu thích hợp và
thu lợi nhuận.
Các phương thức nhập khẩu thường được sử dụng bao gồm : nhập khẩu
trực tiếp, nhập khẩu bù trừ, nhập khẩu ủy thác.
II. Các đặc điểm cơ bản của hoạt động nhập khẩu:
1. Các đặc điểm cơ bản:
Hoàng Phương Dung – TMQT 46
3
Chuyên đề thực tập
Thị trường: Thị trường nhập khẩu rất đa dạng và biến động không ngừng,
doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ nhiều thị
trường khác nhau dựa trên lợi thế so sánh của từng nước. Do vậy doanh
nghiệp cần có hoạt động nghiên cứu thị trường hiệu quả để lực chọn đối tác
kinh doanh phù hợp và mang lại lợi nhuận cao nhất cho công ty.
Phương thức thanh toán: Để tiến hành hoạt động kinh doanh nhập khẩu
thuận tiện doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều phương thức thanh toán khác
nhau : phương thức nhờ thu, phương thức chuyển tiền, phương thức tín dụng
chứng từ… dựa trên các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng nhập khẩu
giữa các bên. Bên cạnh đó, doanh nghiệp luôn cần quan tâm tới sự biến động
của tỷ giá hối đoái để hoạt động nhập khẩu đạt được hiệu quả cao nhất.
Vận chuyển: Hàng hóa được nhập khẩu phải trải qua những quãng đường
vận chuyển dài với những địa hình khác nhau do vậy có thể được vận

qua việc tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ trên thế giới để theo
kịp các nước tiên tiến,. Thêm đó, hoạt động nhập khẩu còn giúp kịp thời bổ
sung những mặt mất cân đối của nền kinh tế từ đó đảm bảo sự phát triển ổn
định của nền kinh tế.
Nhập khẩu có vai trò tích cực cho sự phát triển của sản xuất trong nước
thông qua cạnh tranh giữa sản phẩm được nhập khẩu và những sản phẩm
cùng loại được sản xuất trong nước.
Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, do nó
giúp cho người tiêu dùng có cơ hội tiêu dùng nhiều hàng hóa hơn, với chi
phí thấp hơn. Thêm vào đó nhập khẩu còn giúp đảm bảo đầu vào cho sản
xuất, tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động.
Hoàng Phương Dung – TMQT 46
5
Chuyên đề thực tập
Tóm lại, hoạt động nhập khẩu là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước và
thế giới tạo điều kiện cho phân công lao động quốc tế, đưa nền kinh tế trong
nước trở thành 1 bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới.
Đối với doanh nghiệp, hoạt động nhập khẩu cũng đóng vai trò quan
trọng:
Hoạt động nhập khẩu là nguồn cung cấp hàng hóa kinh doanh cho
doanh nghiệp tại thị trường trong nước.
Nhập khẩu cung cấp nguyên liệu phong phú về giá cả, chất lượng, số
lượng cho các doanh nghiệp, đặc biệt trong trường hợp khan hiếm nguyên
vật liệu cho sản xuất. bên cạnh đó, nhập khẩu cũng là một nguồn để cung
cấp và trang bị cho doanh nghiệp các công nghệ sản xuất với kỹ thuật tiên
tiến, hiệu quả và hiện đại.
Mỗi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh nhập khẩu thông
qua việc nghiên cứu thị trường sẽ nắm bắt được các thông tin về mặt hàng,
chủng loại, thị trường tiêu thụ hàng hóa, thị trường nhập khẩu. Từ đó, doanh
nghiệp xây dựng được chiến lược nhập khẩu thích hợp và thu được lợi

cho doanh nghiệp trong kinh doanh, giảm bớt rủi ro về chính trị như: trưng
thu tài sản, quốc hữu hóa tài sản, đảo chính… Chính trị ổn định là sự đảm
bảo cho doanh nghiệp khi tiến hành giao dịch với các đối tác nước ngoài. Có
thể nói chính trị ảnh hưởng đến sự ổn định của nguồn cung cấp hàng nhập
khẩu cho các doanh nghiệp do vậy những biến động chính trị ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động kinh doanh của mỗi công ty.
1.1.3 Môi trường kinh tế.
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động nhập khẩu chịu tác động và ảnh
hưởng của sự ổn định hay biến động của nền kinh tế trong nước và của thế
Hoàng Phương Dung – TMQT 46
7
Chuyên đề thực tập
giới nói chung. Nếu nền kinh tế phát triển và tăng trưởng ổn định sẽ tạo ra
môi trường kinh doanh tốt thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiếp theo phải kể đến sự phát triển của nền sản xuất trong và ngoài nước vì
nếu nền sản xuất trong nước không phát triển, sự cạnh tranh của hàng hóa
trong nước trước sự xâm nhập của hàng hóa nhập khẩu yếu, điều này làm
cho hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp tăng lên đặc biệt với những
mặt hàng mang tính công nghệ - kỹ thuật cao mà nên sản xuất trong nước
chưa đủ sức cung ứng. Bên cạnh đó, khi một quốc gia gia nhập các tổ chức
quốc tế như WTO, APEC,ASEAN,… đều tạo ra những cơ hội cho sự phát
triển kinh tế của nước mình. Các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ có điều kiện
tiếp xúc với nhiều bạn hàng, tìm được nhiều nguồn cung cấp đầu vào với giá
cả hợp lý, chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp,
do đó nâng cao hiệu quả nhập khẩu. Mức độ lạm phát của nền kinh tế cũng
là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu. Nếu lạm phát cao sẽ khiến
cho đồng nội tế mất giá từ đó tỷ giá hối đoái sẽ làm tăng giá cả của hàng hóa
nước ngoài một cách tương đối và nó có thể làm tăng gánh nặng nợ nần cho
các doanh nghiệp khi chi phí nhập khẩu tăng lên từ đó làm giảm hiệu quả
nhập khẩu. Do đặc trưng của hoạt động nhập khẩu là liên quan đến yếu tố

do một nhóm người xác lập nên. Hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh
thương mại quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải tiếp cận với những nền
văn hóa khác so với những gì đã quen thuộc. Do vậy, khi tham gia vào hoạt
động ngoại thương thì các cá nhân, tổ chức cần có sự am hiểu nhất định về
văn hóa tại thị trường mà mình định tham gia kinh doanh. Hiểu biết về nền
văn hóa của mỗi quốc gia sẽ giúp nâng cao khả năng quản lý nhân viên, tiếp
thị sản phẩm và tiến hành đàm phán với các đối tác. Sự khác biệt về văn hóa
khiến cho các hoạt động kinh doanh quốc tế phải điều chỉnh sao cho phù hợp
với thị trường ở từng quốc gia. Mỗi sản phẩm được đem xâm nhập vào thị
Hoàng Phương Dung – TMQT 46
9
Chuyên đề thực tập
trường quốc tế cần có những đặc đính phù hợp với nhu cầu tại địa phương
đó. Am hiểu văn hóa địa phương giúp hoạt động thương mại quốc tế gần gũi
hơn với nhu cầu và mong muốn của khách hàng, do đó sẽ nâng cao sức cạnh
tranh của hàng hóa.
Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng trong nên văn hoá của từng quốc gia,
nó cung cấp cho các nhà sản xuất kinh doanh phương tiện quan trọng để
giao tiếp trong quá trình kinh doanh quốc tế. Khi tiến hành đàm phán kinh
doanh tiến hành ký kết hợp đồng nhập khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp và đối
tác phải sử dụng một thứ ngôn ngữ chung, việc hiểu biết nhiều loại ngôn ngữ
khác nhau giúp doanh nghiệp nhập khẩu có thể tiến hành đàm phán, làm ăn
với nhiều đối tác khác nhau. Thêm vào đó, trong quá trình thương thảo hợp
đồng việc hiểu biết ngôn ngữ của đối tác sẽ giúp doanh nghiệp tránh được
các rủi ro do hai bên không ngôn ngữ của nhau và hợp đồng được thực hiện
hiệu quả hơn, tránh các tranh chấp có thể xảy ra. Việc hiểu biết tiếng nước
ngoài đồng nghĩa với việc hiểu biết về phong tuc, lễ nghi, cách ứng xử của
đối tác giúp cho doanh nghiệp linh hoạt hơn trên bàn đàm phán cũng như
trong hoạt động buôn bán, làm ăn. Do đó, với mỗi công ty xuất nhập khẩu
cần phải biết nhiều ngoại ngữ để đạt được thành công trong hoạt động kinh

các doanh nghiệp khó có sự thay đổi cách lựa chọn của mình và chấp nhận
các ràng buộc của nhà cung cấp. Do vậy sự tác động của nhà cung ứng đến
doanh nghiệp có ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp.
2. Nhóm các yếu tố bên trong doanh nghiệp.
2.1. Tiềm lực tài chính và cơ sở vật chất của doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động kinh doanh phải có cơ sơ
vật chất, tư liệu lao động và đặc biệt là vốn hay chính là tiềm lực tài chính.
Cơ sở vật chất bao gồm nhà xưởng, kho tang, bến bãi… dùng làm nơi bảo
Hoàng Phương Dung – TMQT 46
11
Chuyên đề thực tập
quản, giữ gìn hàng hóa, các phương tiện cần thiết cho doanh nghiệp kinh
doanh. Doanh nghiệp có cơ sở vật chất hiện đại sẽ tiết kiệm được chi phí, tạo
điều kiện thuận lợi cho kinh doanh. Cơ sở vật chất là nền tảng và là công cụ
để con người sử dụng trong hoạt động kinh doanh, tiềm lực tài chính giúp
doanh nghiệp tự chủ trong kinh doanh. Nguồn vốn có vai trò quyết định
trong hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Sự chủ động của nguồn vốn
đảm bảo khả năng thanh toán cho hoạt động nhập khẩu và mang lại hiệu quả
kinh doanh cao hơn. Có thể nói tiềm lực tài chính thể hiện sức manh của
doanh nghiệp trên thị trường và giúp doanh nghiệp đối phó linh hoạt hơn
trước các tình huống kinh doanh.
2.2 . Yếu tố con người .
Nguồn nhân lực là yếu vô cùng quan trọng nhất quyết định đến hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Con người chính là người ra đa quyết
định việc diễn ra và thực hiện hoạt động nhập khẩu. Chính những hoạt động
của con người quyết định đến sự thành công hoặc thất bại của doanh nghiệp.
Do vậy muốn nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu thì đòi hỏi mỗi doanh
nghiệp cần có đội ngũ nhân sự giỏi, dày dạn kinh nghiệm, đội ngũ lãnh đạo
cáo tài dùng người và công tác đào tạo nguồn nhân lực hiệu quả, thường

tin chính xác về các loại hàng hóa, dịch vụ, khả năng cung ứng, giá cả, khả
năng thanh toán và nhu cầu của thị trường trong nước và nước ngoài. Đặc
trưng cơ bản của thị trường quốc tế đối với các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu đó là sự biến động theo không gian, thời gian;
sự khác biệt về văn hóa, hệ thống chính trị luật pháp và các yếu tố do môi
trường địa lý quy định do đó nó chứa đựng nhiều rủi ro cao đối với hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu, vì vậy các doanh nghiệp cần phải am hiểu
luật pháp, văn hóa tại từng thị trường khác nhau thông qua đó doanh nghiệp
Hoàng Phương Dung – TMQT 46
13
Chuyên đề thực tập
có được đầy đủ các thông tin, cơ sở để tiến hành giao dịch và đàm phán với
các đối tác nước ngoài có hiệu quả nhất.
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu- song song tiến hành nghiên cứu thị
trường tiêu thu hàng hóa nhập khẩu trong nước và thị trường cung ứng quốc
tế. Kết quả của việc nghiên cứu thị trường trong nước mang lại cho doanh
nghiệp đầy đủ các thông tin về loại sản phẩm cần cung ứng, dung lượng thị
trường, thị hiếu tiêu dùng của khách hàng, lượng cung hiện tại, những nhu
cầu thiếu hụt cần được đáp ứng, đối thủ cạnh tranh… Hoạt động nghiên cứu
thị trường nội địa được tiến hành có hiệu quả sẽ mang lại cho doanh nghiệp
những thông tin sát thực nhất về lượng cầu và lượng cung hiện tạo cũng như
tương lai của thị trường từ đó giúp cho việc lập kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp có khả năng thành công cao hơn.
Bên cạnh việc nghiên cứu thị trường tiêu thụ nội địa thì việc nghiên
cứu về thị trường cung ứng quốc tế giữ vai trò không kém phần quan trọng.
Thị trường nước ngoài phức tạp hơn nhiều đối với thị trường nội địa do có
sự khác biệt về chính trị- kinh tế- văn hóa- xã hội- luật pháp- phong tục tập
quán… Hoạt động nghiên cứu thị trường quốc tế sẽ giúp cung cấp cho doanh
nghiệp những thông tin về nguồn hàng, sự ổn định của nguồn cung ứng, giá
cả, các loại mặt hàng được phép kinh doanh, chất lượng hàng hóa, chi phí

bước này doanh nghiệp, sau khi tiến hành phân tích nhu cầu, khả năng
thanh toán của thị trường cũng như điều kiện kinh doanh của công ty,
phải xác định rõ được mặt hàng, giá cả, nhãn hiệu, quy cách phẩm
chất của hàng hóa, bao bì đóng gói, khối lượng hàng hóa dự định sẽ
kinh doanh.
• Xác định mục tiêu cụ thể về doanh số, lợi nhuận, các mục tiêu an toàn,
chi phí từ đó đưa ra mức giá bán hợp lý và có tính cạnh tranh.
Hoàng Phương Dung – TMQT 46
15
Chuyên đề thực tập
• Xây dựng hàng loạt những phương án nhập khẩu: tại bước này doanh
nghiệp cần phải lập kế hoạch cụ thể về lựa chọn nguồn cung cấp hàng
hóa, hình thức nhập khẩu, phương thức thanh toán, phương thức
chuyên chở, các điều kiện giao nhận hàng hóa, các điều khoản thỏa
thuận trong hợp đồng, thời gian ký kết hợp đồng…
• Lựa chọn phương án nhập khẩu tối ưu: từ những phương án đã được
xây dựng ở bước trước doanh nghiệp sẽ tiến hàng lựa chọn phương án
nhập khẩu tối ưu nhất sao cho có thể đạt được lợi nhuận cao nhất với
chi phi thấp nhất mà vẫn đảm bảo chất lượng của hàng hóa.
2. Tổ chức công tác nhập khẩu hàng hóa.
Sau khi lập được phương án kinh doanh khả thi thì tiếp theo doanh
nghiệp sẽ phải tiến hành công tác tổ chức nhập khẩu hàng hóa. Công tác tổ
chức nhập khẩu hàng hóa thường bao gồm các công việc sau:
Đàm phán ký kết hợp đồng: Đàm phán là một quá trình trao đổi nhằm đi
đến thống nhất về nội dung và một số điều kiện của hoạt động mua bán
trong kinh doanh ngoại thương. Ký kết hợp đồng ngoại thương là hoạt động
xác nhận những nội dung và nhữgn điều kiện mua bán đã được thống nhất
dưới dạng những văn bản theo những điều khoản và điều kiện. Đặc biệt chú
ý tới các điều khoản về: tên hàng, giá cả, số lượng, chất lượng, chủng loại,
phương thức thanh toán, phương thức giao nhận, chuyên chở…

càng nhanh thì việc thu hồi vốn và tốc độ quay vòng vốn của doanh nghiệp
càng nhanh do đó giúp doanh nghiệp có thể tiết kiệm các chi phí về kho bãi,
chi phí bán hàng và tăng lợi nhuân thu được. Các hoạt động trong khâu này
bao gồm:
Hoàng Phương Dung – TMQT 46
17
Chuyên đề thực tập
3.1. Định giá hàng bán
Đây là một công cụ mà doanh nghiệp có thể sử dụng để kiểm soát và
thực hiến mục tiêu kế hoạch kinh doanh., đặc biệt là đối với thị trường Việt
Nam là nơi chỉ cần có một sự thay đổi nhỏ về giá có thể tạo ra sự thay đổi
lớn về cầu hàng hóa của doanh nghiệp và gây ảnh hưởng lớn tới khả năng
canh tranh của hàng hóa trên thị trường. Việc định giá sản phẩm phải dựa
vào mức giá trên thị trường, phù hợp với khả năng thanh toán của khách
hàng và có tác dụng kích thích nhu cầu mua hàng. Để đưa ra được mức giá
hợp lý có thể chấp nhận được đối với người mua, đảm bảo được lợi nhuận
thì khi tiến hành tính giá doanh nghiệp cần phải phân tích kỹ và hài hòa các
yếu tố ảnh hưởng đển giá như: chi phí, quyết định mua của khách hàng, mức
giá của đối thủ, mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp,... Các phương pháp
tính giá thường được sử dụng là tính giá theo chi phí và tính giá theo mức độ
chấp nhận của khách hàng, tính giá theo giá trị sử dụng của hàng hóa….
3.2. Xúc tiến bán và khuyếch trương sản phẩm
Để đưa sản phẩm tiếp cận được với khách hàng thì doanh nghiệp
thường sử dụng hai hình thức là quảng cáo và các hoạt động xúc tiến bán.
Quảng cáo là việc sử dụng phương tiện thông tin đại chúng nhằm truyền đạt
các thông tin về doanh nghiệp, hàng hóa, dịch vụ tới khách hàng trong
khoảng thời gian và không gian nhất định. Đây là một phương tiện không
thể thiếu trong hoạt động xúc tiến bán hàng bởi nó là công cụ giúp đưa hình
hảnh của doanh nghiệp, sản phẩm tới những khách hàng có nhu cầu, dẫn dắt
nhu cầu của khách hàng tới nơi có thể đáp ứng được nhu cầu đó. Doanh

3.3.2 Tổ chức bán hàng nhập khẩu
Bán hàng là hoạt động phải sử dụng nhiều kỹ thuật và kiến thức khác
nhau nhằm mục đích thuyết phục khách hàng mua sản phẩm. Hoạt động bán
Hoàng Phương Dung – TMQT 46
19
Chuyên đề thực tập
hàng gồm hoạt động tuyển dụng nhân viên bán hàng, tổ chức trưng bày
trong hàng hóa trong cửa hàng, thực hiện các dịch vụ sau bán. Lực lượng
bán hàng của doanh nghiệp là những người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng
nên cần có khả năng giao tiếp tốt, lịch sự, vui vẻ. Thêm vào đó, nhân viên
bán hàng phải được đào tạo sao cho có những hiểu biết về các tính năng của
hàng hóa, biết cách giao tiếp gây được thiện cảm với khách hàng. Tổ chức
trưng bày trong quầy hàng là một công việc khá quan trọng vì nó giúp khách
hàng có được cái nhìn thiện cảm đầu tiên về sản phẩm. Doanh nghiệp phải
tiến hành sắp xếp, bài trí hàng hóa sao cho khách hàng thấy thoải mái, thuận
tiện nhất và tiết kiệm thời gian cho họ nhất. Các dịch vụ sau bán như bảo
hành, sửa chữa….là những công việc đơn giản nhưng có thể giúp doanh
nghiệp tạo dựng được uy tín, gây dựng niềm tin ở khách hàng và giữ chân
được người mua.
4. Đánh giá kết quả hoạt động nhập khẩu.
Đánh giá kết quả kết quả hoạt động nhập khẩu là công việc mà bất cứ
doanh nghiệp nào cũng phải tiến hành nhằm xem xét hiệu quả hoạt động
kinh doanh của mình trong một thời gian nhất định. Các chỉ tiêu dùng để
đánh giá bao gồm chỉ tiêu về chi phí, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu. Cụ thể:
4.1. Chỉ tiêu về lợi nhuận và doanh thu:
Đây là hai thước đo phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh phổ biến
nhất của mỗi doanh nghiệp.
Doanh thu bán hàng đối với doanh nghiệp thương mại được tính theo
công thức:

1. Lịch sử hình thành
Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty TNHH thương mại và dịch vụ xuất nhập khẩu được thành lập
ngày 19.1.2001
Số đăng ký :0102002413, do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội
cấp.
Loại hình doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên trở
lên.
Tên giao dịch quốc tế: Import- Export and trading company limited
( PTC CO.,LTD)
Vốn điều lệ : 6.000.000.000 đồng
Người đại diện theo pháp luật: Giám đốc Trần Hiếu.
Trụ sở chính: Số 2B, tổ 5B, ngõ 73, đường Nguyễn Trãi, phường Khương
Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Số điện thoại: 5681175 Fax: 9721680
Khi mới thành lập năm 2001, với nguồn vốn không lớn, quy mô nhỏ,
chưa có uy tín, cùng với việc thiếu kinh nghiệm trong kinh doanh cũng như
hoạt động quản lý khiến cho công ty đã gặp không ít khó khăn trong việc
duy trì hoạt động. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của đội ngũ lãnh đạo và nhân
viên đã giúp cho công ty vượt qua được thời điểm khó khăn để từng bước có
được chỗ đứng trên thị trường và hoạt động sản xuất kinh doanh đi vào ổn
Hoàng Phương Dung – TMQT 46
22
Chuyên đề thực tập
định. Hiện nay, với phương châm phục vụ tốt nhất yêu cầu của khách hàng
cùng với sự đầu tư không ngừng về vốn, công nghê, con người công ty đã
đạt được những kết quả khả quan trong hoạt động kinh doanh và mở rộng
quan hệ làm ăn với đối tác nước ngoài trên nhiều thị trường khác nhau. Phần
dưới đây giới thiệu 1 số nét chính về công ty PTC.
1.2. Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của công ty.

luật.
- Ghi chép sổ sách theo đúng pháp lệnh về kế toán và chịu sự kiểm tra
của cơ quan tài chính.
b) Chức năng của các phòng ban và bộ phận.
Giám đốc: Do Hội đồng thành viên bổ nhiệm,là người đại diện pháp nhân
cho công ty, là người điều hành cao nhất các hoạt động hàng ngày của doanh
nghiệp, chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên và pháp luật các hoạt
động công ty.
Phòng quản lý hành chính tổng hợp: chịu trách nhiệm quản lý về nhân sự và
các tiến hành các thủ tục hành chính trong công ty.
Phòng kinh doanh XNK: chịu trách nhiệm về các hoạt đọng thăm dò thị
trường, nắm bắt thông tin, tìm kiếm các đối tác kinh doanh; tiến hành các
giao dịch thương mại, soạn thảo các hợp đồng, tiếp thị và giới thiệu hàng
hóa của công ty đến khách hàng…
Phòng kế toán: phụ trách việc quản lý theo dõi, giám sát, kiểm tra, toàn bộ
công tác kế toán và quản lý tài chính của công ty.
Phòng kỹ thuật: phụ trách các vấn đề liên quan đến kỹ thuật của các mặt
hàng.
Đứng đầu mỗi phòng ban là các trưởng phòng chịu trách nhiệm quản lý toàn
bộ những hoạt động của bộ phận mình và báo cáo kết quả trực tiếp lên giám
đốc.
1.3. Đặc điểm hoạt động của công ty.
Hoàng Phương Dung – TMQT 46
24
Chuyên đề thực tập
Nội dung hoạt động của công ty:
− Dịch vụ sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng các sản phẩm cơ khí.
− Dịch vụ vận tải và bốc xếp hàng hóa.
− Buôn bán vật tư, thiết bị phụ tùng hàng điện tử tin học, điện lạnh, thiết
bị viễn thông, hóa chất ( trừ hóa chất Nhà nước cấm).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status