HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC tế và CÔNG TY đa QUỐC GIA - Pdf 11

Quản trị Kinh doanh Quốc tế CI.1
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hùng Phong
CHƯƠNG I : HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ
CÔNG TY ĐA QUỐC GIA (MNC)

I. QUÁ TRÌNH QUỐC TẾ HÓA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 2

I.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh quốc tế 2

I.1.1 Hoạt động xuất nhập khẩu 2

I.1.2 Hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài 3

I.2 Lý do tiến hành các hoạt động kinh doanh quốc tế 4

I.2.1 Phản ứng chủ động 4

I.2.2 Phản ứng thụ động 6

I.3 Các hình thức quốc tế hóa hoạt động kinh doanh quốc tế 7

I.3.1 Cho thuê bản quyền 7

I.3.2 Xuất khẩu 8

I.3.3 Sản xuất tại chỗ 8

I.4 Lợi thế cạnh tranh quốc tế: 9

I.4.1 Lợi thế cạnh tranh và nguồn lực tạo lợi thế cạnh tranh 9


III.2.2 Thái độ tiêu cực: 19

III.3 Đo lường mức độ hấp dẫn của một nước khi ra quyết định đầu tư 20

III.3.1 Môi trường kinh tế vĩ mô và chính sách kinh tế của nhà nước 20

III.3.2 Rủi ro kinh tế và chính trị 20

III.3.3 Các định chế về thương mại và môi trường đầu tư 20

III.3.4 Điều kiện về thị trường của các nhân tố sản xuất 21

III.3.5 Cơ sở hạ tầng về kinh tế 21

III.3.6 Các yếu tố vật chất và văn hoá xã hội 21
Quản trị Kinh doanh Quốc tế CI.2
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hùng Phong
I. QUÁ TRÌNH QUỐC TẾ HÓA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
I.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh quốc tế
Kinh doanh quốc tế thể hiện các hoạt động giao dịch xảy ra giữa một nước với phần
còn lại của thế giới. Những giao dịch nầy bao gồm hoạt động mậu dịch quốc tế và hoạt
động đầu tư ra nước ngoài. Hiện nay khoảng 500 công ty lớn hàng đầu trên thế giới
chiếm khoảng 80% lượng đầu tư nước ngoài và trên 50% tổng giá trị mậu dịch trên toàn
thế giới. Do đó việc nghiên cứu hoạt động kinh doanh quốc tế chủ yếu đặt nặng vào các
hoạt động của các công ty kinh doanh quốc tế lớn nêu trên, những công ty nầy hiện nay
thường được gọi là các công ty đa quốc gia (MNCs), những công ty nầy ra đời và đặt văn
phòng chính tại một nơi nhưng tiến hành các hoạt động kinh doanh tại nhiều nơi trên thế

Việc nghiên cứu các số liệu về xuất nhập khẩu rất quan trọng trong lĩnh vực kinh
doanh quốc tế vì các lý do. Thứ nhất, mậu dịch quốc tế là một lĩnh vực cơ bản và truyền
thống của kinh doanh quốc tế và việc nghiên cứu nó sẽ cho phép chúng ta thấu hiểu được
thực tiễn hoạt động và chiến lược của MNCs. Ví dụ, các số liệu về mậu dịch quốc tế
trong vòng 10 năm trước đây đã cho chúng ta thấy những đối tác nhập khẩu hàng hóa của
Hoa Kỳ chính là Canada, Nhật Bản, Mehico, vương quốc Anh, và Đức. Các nước nầy
thường nhập computer, máy móc dùng trong nông trại, máy móc thiết bị sử dụng trong
các ngành nghề khác, và hàng điện tử. Ngược lại Hoa Kỳ nhập khẩu chủ yếu từ các đối
tác như Canada, Nhật Bản, Mehico, Đức, và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa các mặt
hàng như xe hơi, giầy dép, hàng điện tử tiêu dùng, phụ tùng thay thế, và đồ trang sức.
Các số liệu nầy cũng cho chúng ta biết rằng 10 đối tác nhập khẩu lớn nhất của Hoa Kỳ
cũng chính là 10 đối tác xuất khẩu lớn nhất, nói cách khác Hoa Kỳ đã mua và bán với
một tỷ trọng lớn nhất trong một phạm vi một số ít các quốc gia. Thứ hai, các số liệu về
mậu dịch quốc tế cũng giúp cho chúng ta thông hiểu được tác động của hoạt động kinh
doanh quốc tế đối với nền kinh tế của một quốc gia. Thật vậy bằng những số liệu nầy,
chúng ta có thể giải thích được các câu hỏi đặt ra như: Việc trở thành một nhà xuất khẩu
lớn sẽ tác động đến nền kinh tế của một quốc gia như thế nào? Việc lệ thuộc vào nguồn
hàng nhập khẩu sẽ tác động như thế nào đến nền kinh tế?
I.1.2 Hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài
Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thể hiện sự dịch chuyển vốn ra hải ngoại để
tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các quốc gia đã công nghiệp hóa đã đầu tư
với một tỷ trọng rất lớn vào các quốc gia đã công nghiệp hóa khác và với một tỷ trọng
nhỏ vào các nước kém phát triển, hoặc các nước mới công nghiệp hóa. Các số liệu trong
thời gian qua cho thấy phần lớn vốn đầu tư trực tiếp tập trung vào Hoa Kỳ, Cộng đồng
Châu Âu, và Nhật Bản. Ví dụ: vào năm 1990, Hoa kỳ đã tiếp nhận một lượng vốn đầu tư
xấp xỉ 1.500 tỷ USD và nó đã đầu tư ra nước ngoài khoảng 1.200 tỷ USD. Các nhà đầu tư
lớn nhất tại Hoa Kỳ vào năm 1992 bao gồm Nhật Bản, Anh, Hà Lan, Canada, và Đức;
vốn đầu tư của 5 nước nầy chiếm trên 70% tổng lượng vốn đầu tư mà Hoa Kỳ tiếp nhận.
Trong số những nhà đầu tư nầy, tốc độ đầu tư của Nhật Bản là nhanh nhất, tuy nhiên tổng
vốn đầu tư của Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EC) thì lớn gấp 3 lần so với Nhật Bản. Đồng

quốc tế có lẽ là một con đường nhanh nhất để gia tăng doanh số, và như vậy nó sẽ tác
đông đến quy mô sản xuất của đơn vị. Trong một số ngành công nghiệp có tầm quan
trọng của hiệu quả kinh tế theo quy mô rất lớn thì việc đạt được điều nầy sẽ giúp cho
công ty hạ thấp phí tổn cho một đơn vị sản phẩm, làm gia tăng khả năng cạnh tranh của
công ty không những tại thị trường nội địa mà còn cả ở thị trường hải ngoại. Hiệu quả
kinh tế theo quy mô không chỉ diễn ra trong lĩnh vực sản xuất mà còn bao trùm sang
những chức năng khác của công ty. Ví dụ: chi phí nghiên cứu và phát triển phân bổ cho
một đơn vị sản phẩm sẽ nhỏ đi, các hoạt động quảng cáo trên tivi có thể sử dụng không
chỉ cho một thị trường.
• Hiệu quả kinh tế theo phạm vi: Thậm chí trong trường hợp hiệu quả kinh tề
theo quy mô không thể đạt được do công ty tiến hành hoạt động kinh doanh quốc tế phải
điều chỉnh sản phẩm nhằm thích nghi với yêu cầu riêng của từng quốc gia thì họ vẫn có
thể đạt hiệu quả kinh tế theo phạm vi bởi vì họ có thể sử dụng các nguồn lực, kỹ năng của
nhân công và kỹ thuật hiện có để tạo ra sản phẩm mới cho thị trường nước ngoài. Tuy
nhiên hiệu quả kinh tế theo phạm vi đôi lúc không xác thực một khi công ty mở rộng hoạt
động kinh doanh ra thị trường nước ngoài nó phải đầu tư mới hoàn toàn vào các nguồn
lực và kỹ năng.
• Hiệu ứng kinh nghiệm: Sự cần thiết để phát triển kỹ năng mới để có thể thành
công trên thị trường nước ngoài cũng có thể là một lợi thế của quá trình quốc tế hoá hoạt
động kinh doanh quốc tế nếu như những kỹ năng mới nầy có thể chuyển giao cho các đơn
vị hoạt động tại thị trường trong nước. Đối với một số công ty việc học tập kinh nghiệm
Quản trị Kinh doanh Quốc tế CI.5
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hùng Phong
từ thị trường hải ngoại đôi khi lại là một nhân tố chủ yếu quyết định hành vi quốc tế hoá
hoạt động kinh doanh.
B. Nhân tố bên ngoài
• Cơ hội sinh lợi: Một lý do cổ điển khiến các công ty đi vào hoạt động kinh
doanh quốc tế đó là việc có thể bán thêm nhiều hàng hoá ở thị trường nước ngoài với một
mức sinh lợi cao. Vì thế nếu công ty nhận định rằng thị trường hải ngoại có rất nhiều
thuận lợi cho phép công ty gia tăng thêm lợi nhuận từ việc bán hàng (khách hàng triển

cạnh tranh ngay chính thị trường của họ. Bằng cách nầy họ có thể nhận định những
phương thức cạnh tranh mà đối thủ sẽ thực hiện để có thể đưa ra các đối sách phù hợp
Quản trị Kinh doanh Quốc tế CI.6
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hùng Phong
trong hoạt động cạnh tranh không những tại thị trường quốc tế mà ngay chính tại thị
trường quê nhà của đối thủ cạnh tranh.
I.2.2 Phản ứng thụ động
A. Nhân tố bên trong
• Tác động kéo: Nếu như sự thúc đẩy của những động cơ về quản trị ở phần nêu
trên thể hiện một hành vi chủ động khi tham gia vào thị trường quốc tế của MNCs thì tác
động kéo thể hiện một hành vi thụ động của nhà quản trị. Một khi họ nhận thấy có rất
nhiều công ty trong ngành đi vào thị trường quốc tế thì nhiều nhà quản trị cũng cố gắng
làm theo để không phải mang tiếng là người lỗi thời hay là người đi sau các đơn vị khác
• Tồn kho quá mức : Là một lý do khá phổ biến ở nhiều công ty. Thật vậy, chỉ
có một số ít công ty thì hiếm khi đối đầu với việc thặng dư tồn kho, nhưng trong một số
ngành, tình trạng nầy luôn luôn phổ biếnở nhiều công ty. Thật vậy, những công ty với
chu kỳ sản xuất ngắn, ví dụ như ngành sản xuất quần áo thời trang hay sản phẩm điện tử
gia dụng, thường cố gắng tránh tình trạng sản phẩm của mình trở nên lỗi thời (bởi vì điều
nầy có thể huỷ hoại thị phần và danh tiếng của nó) do đó các nhà sản xuất cố gắng xuất
khẩu các hàng hóa trở nên lỗi thời sang thị trường nước khác. Mặt khác, trong một số
ngành mà chất lượng sản phẩm khó lòng đạt được sự ổn định trong quá trình sản xuất thì
họ sẽ cố gắng bán số sản phẩm không đạt chất lượng cao vào các thiị trường các nước
không có yêu cầu cao về phương diện chất lượng. Điều nầy cũng nhằm bảo vệ tiếng tăm
và mức giá ở các thị trường chủ yếu hay thị trường mục tiêu của họ.
• Dư thừa công suất : Để đối phó với vần đề tồn kho quá mức, nhiều công ty đã
chọn giải pháp hoạt động dưới mức công suất thiết kế; tuy nhiên giải pháp nầy là một giải
pháp kém hiệu quả bởi vì chi phí cố định tính cho một đơn vị sản phẩm sẽ cao. Ngoài giải
pháp nầy, MNC có thể chọn lựa cách giảm quy mô, sa thải công nhân. Tuy nhiên, có lẽ
giải pháp có lợi nhất chính là việc sử dụng phần công suất dư thừa cho thị trường hải
ngoại. Giải pháp nầy thường được ưa thích bởi các công ty mà việc giảm quy mô sản

động kinh doanh và cạnh tranh, sẽ tiến hành trận chiến ngay trên quê hương của đối thủ.
• Áp lực chính trị: Trong một số quốc gia, công ty còn bị áp lực của chính phủ
trong quá trình quốc tế hóa hoạt động kinh doanh quốc tế. Sự can thiệp nầy có thể xuất
phát từ những mục tiêu kinh tế ví dụ như chính phủ nầy mong muốn có nhiều ngoại tệ để
thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế thông qua xuất khẩu. Tuy nhiên nhiều công ty bị
áp lực quốc tế hóa hoạt động kinh doanh vì những lý do như tạo công ăn việc làm, hoặc
mục tiêu chính trị (địa vị và quyền lực quốc gia trên bình diện quốc tế).
I.3 Các hình thức quốc tế hóa hoạt động kinh doanh quốc tế
Quá trình quốc tế hóa hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty không những
khác biệt với nhau về phương diện lý do mà còn ở hình thức mà các công ty đó tiến hành
các hoạt động kinh doanh quốc tế. Một số công ty chỉ quốc tế hóa một số hoạt động tạo
giá trị gia tăng, trong khi đó một số khác thì quốc tế hóa toàn bộ các hoạt động của mình.
Điều nầy có thể được hình dung qua việc khảo sát các nội dung của các hình thức quốc tế
hóa hoạt động kinh doanh quốc tế như: Cho thuê bản quyền, xuất khẩu gián tiếp, trực
tiếp, và sản xuất tại chỗ.
I.3.1 Cho thuê bản quyền
Theo hình thức nầy công ty cho thuê bản quyền sẽ cho phép một công ty ở nước
ngoài sử dụng tên tuổi, nhãn hiệu sản phẩm để sản xuất và kinh doanh tại một khu vực
địa lý, hay quốc gia trong một thời gian nhất định. Những công ty tiến hành quốc tế hóa
hoạt động kinh doanh theo hình thức cho thuê bản quyền thì hiếm khi trở thành một đơn
vị kinh doanh quốc tế trọn vẹn theo ý nghĩa thực của nó, bởi vì hầu như không có hoạt
động chủ yếu nào của nó cần phải điều chỉnh cho thích hợp với điều kiện ở thị trường
nước ngoài. Nhìn chung lợi thế của hình thức cho thuê đó là nhu cầu thay đổi của tổ chức
thì tốt hơn, rủi ro thấp vì không cần phải tiến hành hoạt động đầu tư mới, tốc độ sản sinh
lợi nhuận cũng có thể nhanh hơn. Hình thức nầy được sử dụng khi chính phủ ở nước
Quản trị Kinh doanh Quốc tế CI.8
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hùng Phong
ngoài áp đặt những giới hạn về nhập khẩu, hoặc chi phí vận chuyển làm cho hoạt động
xuất khẩu của MNC trở nên khó khăn hơn.
Hạn chế của hình thức nầy đó là việc thương lượng cho thuê bản quyền có thể kéo dài

tại chỗ, chúng bao gồm:
• Sản xuất theo dự án (Projects): Trong trường hợp nầy công ty kinh doanh
quốc tế sẽ phái những đơn vị di động đến nước ngoài để thực hiện những hợp đồng
ngắn hạn
Quản trị Kinh doanh Quốc tế CI.9
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hùng Phong
• Hợp đồng sản xuất tại chỗ (Contract product) : Đối với dạng nầy, công ty
kinh doanh quốc tế sẽ tiến hành hợp đồng với một công ty nội địa để sản xuất các
mặt hàng mang nhãn hiệu và tên tuổi của mình.
• Thiết lập cơ sở sản xuất mới tại nước ngoài: Đơn vị mới nầy có thể thuộc sở
hữu 100% vốn của công ty kinh doanh quốc tế hoặc ở dạng liên doanh.
• Mua cổ phần: Theo hình thức nầy, công ty kinh doanh quốc tế sẽ tiến hành
việc mua cổ phần của một công ty nội địa hiện đang có sẵn. Thông qua việc nắm cổ
phần chi phối, công ty kinh doanh quốc tế có thể đưa dần việc sản xuất các mặt hàng
của mình đến thị trường của công ty nội địa.
Trong hình thức sản xuất tại chỗ, hàng loạt các hoạt động tạo giá trị gia tăng được
thực hiện tại nước ngoài, điều nầy đòi hỏi công ty kinh doanh quốc tế phải có những sự
thay đổi thích hợp trong cơ cấu tố chức. Thuận lợi của hình thức nầy chính là việc giảm
chi phí vận chuyển, rút ngắn thời gian phân phối, né tránh được các rào cản đối với mậu
dịch, tạo lập được mối quan hệ với khách hàng và các kênh phân phối hàng hóa tại địa
phương…. Tuy nhiên nhược điểm cơ bản của hình thức nầy đó là sự phức tạp của cơ cấu
tổ chức để thực hiện việc quản lý ra khỏi phạm vi quốc gia, hiệu quả kinh tế theo quy mô
có thể thấp, mức độ rủi ro trong đầu tư có thể cao hơn.
I.4 Lợi thế cạnh tranh quốc tế:
I.4.1 Lợi thế cạnh tranh và nguồn lực tạo lợi thế cạnh tranh
Sự thành công của một công ty bất kể ở thị trường trong hay ngoài nước sẽ lệ thuộc
rất lớn vào việc nó có tạo dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ của nó hay
không. Theo Michael Porter, có hai loại lợi thế cạnh tranh cơ bản: lợi thế dựa vào việc
duy trì một chi phí sản xuất thấp và lợi thế dựa trên việc khác biệt hóa sản phẩm so với
đối thủ cạnh tranh; trên cơ sở của việc khác biệt hóa đó, công ty có thể đặt một giá cao để

thể mua bán được. Nếu như yếu tố tài năng thể hiện những kỹ năng về phương diện kỹ
thuật, thì yếu tố thể hiện các kỹ năng về phương diện quản trị; yếu tố nầy thể hiện khả
năng quản trị quy trình kinh doanh của công ty. Ví dụ như công ty Mc Donald thì rất nỗi
tiếng trong lĩnh vực quản trị hệ thống đại lý độc quyền của mình, Honda thì nỗi tiếng
trong việc thực hiện và giới thiệu các sản phẩm của mình một cách nhanh chóng. Những
yếu tố thuộc về năng lực nầy thậm chí còn khó chuyển đổi, mua bán hơn cả yếu tố tài
năng bởi vì chúng được hình thành gắn liền với phong cách, văn hóa của công ty. Do đó
việc bắt chước một hệ thống quản lý mới và thành công của một công ty khác sẽ đòi hỏi
công ty đang xem xét phải thay đổi cách tiếp cận trong vấn đề kinh doanh và đây là một
quá trình vô cùng khó khăn.
I.4.2 Nhân tố tác động đến việc hình thành lợi thế cạnh tranh
Để có thể sử dụng các nguồn lực bên trong nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh của
mình trên thị trường quốc tế, các công ty không những cần phải cố gắng phát triển hay sở
hữu cho được những nguồn lực đặc thù riêng biệt từ đó mới có thể tạo lợi thế trên cơ sở
phí tổn thấp hay sự khác biệt về sản phẩm mà còn phải không ngừng nâng cao năng lực
học tập và cải tiến. Về nguyên tắc, mỗi công ty hình như đều có một cơ hội ngang bằng
nhau trong trong việc cải tiến và phát triển lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên thực tế cho thấy
trong mỗi ngành công nghiệp chỉ tồn tại một vài công ty thành công và chúng ít khi nào
phân tán một cách ngẫu nhiên trên thế giới. Thật vậy, trong nhiều ngành công nghiệp, các
công ty thành công thường phát sinh chỉ từ một số ít quốc gia dẫn đầu trong lĩnh vực nầy
trên thế giới. Ví dụ như ngành công nghiệp điện ảnh thì tập trung cao độ tại Hollywood,
việc sản xuất máy ghi hình thường tập trung vào một vài công ty hàng đầu của Nhật Bản,
và gần như 75% sản lượng hoa xuất khẩu thì xuất phát từ Hà lan. Điều nầy đã tạo nên
một giả thuyết đó là chỉ có một vài quốc gia hay khu vực thì thích hợp cho việc phát triển
lợi thế cạnh tranh đặc biệt cho một ngành nào đó so với các quốc gia và khu vực còn lại.
Quản trị Kinh doanh Quốc tế CI.11
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hùng Phong
Theo quan điểm truyền thống của các nhà kinh tế cổ điển, họ thường nhấn mạnh đến
tầm quan trọng của các nhân tố sản xuất như là một nguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh.
Họ thường coi trọng đến sự sẵn có của các yếu tố sản xuất như đất đai, vốn, và lao động

của các công ty luôn được hỗ trợ và khuyến khích bởi tình trạng hoàn hảo của các nhà
cung cấp. Một công ty có quan hệ cùng phối hợp hoạt động với những nhà cung cấp
hàng đầu tại địa phương thì càng có điều kiện và cơ hội thực hiện các cải tiến của
mình. Ví dụ những hãng sản xuất phim tại Hollywood luôn có những cải tiến trong
phim ảnh bởi vì nó có mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung cấp các
phương tiện hoạt động hàng đầu tại địa phương, đội ngũ những diễn viên đóng thế, và
các công ty xây dựng chuyên thiết kế phim trường theo những yêu cầu đặc biệt khác;
hoặc các nhà trồng hoa Hà Lan có thể đạt được vị thế dẫn đầu nhờ vào một mối quan
hệ rất tốt với các nhà cung cấp giống mới, các nhà xây dựng nhà kính để trồng hoa,
Quản trị Kinh doanh Quốc tế CI.12
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hùng Phong
các công ty sản xuất thuốc diệt côn trùng. Bên cạnh những nhà cung cấp (hay các
ngành công nghiệp hỗ trợ), sự phát triển của các ngành có liên quan cũng tạo động
lực cho việc thực hiện các cải tiến liên tục, ví dụ trong trường hợp ngành công nghiệp
giải trí tại California đã được hỗ trợ rất nhiều bởi các ngành có liên quan như: các
công viên văn hóa, hệ thống các ban nhạc rock, hệ thống trò chơi điện tử.
• Chiến lược công ty, cấu trúc ngành, mức độ cạnh tranh: Mức độ cạnh tranh
mà một công ty phải đối đầu tại thị trường trong nước cũng là một động lực thúc đẩy
các công ty cải tiến không ngừng. Nếu công ty phải tiến hành một cuộc đấu tranh lâu
dài với các đối thủ đầy tiềm năng và năng động thì tình huống nầy đòi hỏi công ty
phải thực hiện mọi nỗ lực tốt nhất để thực hiện các cải tiến, thậm chí một công ty vẫn
có thể có lợi ích từ những cải tiến của các đối thủ cạnh tranh khác nếu như công ty có
thể kiểm soát chặt được những đối thủ cạnh tranh của mình. Ngoài ra công ty có thể
thu được những ích lợi từ cách thức tiến hành các hoạt động kinh doanh tại một quốc
gia nào đó nếu như phương thức quản trị và cấu trúc tổ chức tại các quốc gia đó phù
hợp với nhu cầu của ngành đó. Ví dụ các nhà trồng hoa của Hà Lan thường hoạt động
với một quy mô nhỏ và linh hoạt, tuy giữa họ có sự cạnh tranh với nhau nhưng họ lại
phối hợp hoạt động với nhau trong một tổ chức bán đấu giá và điều nầy đã đảm bảo
chất lượng và danh tiếng của ngành trồng hoa tại Hà Lan
• Các cơ may và chính sách của Nhà Nước: Những cơ may đột xuất trong lịch

viên của EC. Tổng doanh số hàng năm của các công ty nầy (số liệu 1992) chiếm trên
5.000 tỷ USD và chúng sử dụng trên 25 triệu lao động. Những công ty nầy hoạt động trên
các lĩnh vực như ô tô, hóa chất, computer, hàng hóa tiêu dùng, thiết bị công nghiệp, dầu
hỏa và sản xuất sắt thép.
Một trong những phương thức được sử dụng để nhận dạng các đặc điểm của MNC
chính là việc nhìn vào môi trường mà chúng hoạt động. Môi trường hoạt động nầy có thể
được xem xét theo sơ đồ sau:
Nước chủ nhà Cổ đông Nước khách
1. Đối thủ cạnh tranh MNC 1. Đối thủ cạnh tranh
2. Khách hàng 2. Khách hàng
3.Chi nhánh trong nước 3. Chi nhánh nước ngoài
4. Nhà cung ứng Các ngân hàng 4. Nhà cung ứng
5. Nhà nước 5.Nhà nước
Đối với một MNC chúng ta cần xem xét hai địa bàn quan trọng: nước chủ nhà là nơi
mà MNC ra đời và đặt trụ sở chính tại đó, và nước khách là nơi mà MNC tiến hành hoạt
động kinh doanh. Riêng các cổ đông không thể hiện ở hai khu vực/địa bàn nêu trên bởi vì
những cổ đông nầy có thể đến từ bất kỳ nơi nào trên thế giới. Ví dụ, một nhà đầu tư tại
Thụy Sĩ có thể mua cổ phần của công ty Sears Roebuck mặc dù công ty nầy không hề
tiến hành hoạt động kinh doanh tại Thụy Sĩ.
Một trong những đặc điểm của MNC chính là các chi nhánh của nó phải chịu tác
động của các áp lực môi trường quan trọng như các đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà
cung ứng, các tổ chức tài chính, và nhà nước kể cả trong và ngoài nước. Trong một số
trường hợp, các áp lực tương tự nhau cùng hiện hữu tại nước nhà và nước khách. Ví dụ,
rất nhiều đối thủ cạnh tranh của công ty GMC tại thị trường Hoa Kỳ thì cũng tương tự
như tại thị trường Châu Âu: Ford, Chrysler, Honda, Volkswagen, và Volvo. Tương tự
như vậy, các công ty thường sử dụng cùng một nhà cung ứng kể cả cho thị trường trong
và ngoài nước.
Một đặc điểm thứ hai của MNC đó là các chi nhánh của chúng cùng sử dụng một
nguồn lực chung, các nguồn lực nầy bao gồm các tài sản hữu hình, sáng chế, nhãn hiệu,
thông tin, và nhân lực. Do các chi nhánh là một bộ phận của MNC cho nên nó được

tăng từ những đối thủ cạnh tranh bên ngoài và bảo vệ thị phần của mình trên thị trường
thế giới. Sử dụng chiến lược “theo đuổi các đối thủ cạnh tranh”, MNCs sẽ thiết lập các
chi nhánh của mình tại quê hương của đối thủ cạnh tranh. Cách tiếp cận nầy nhằm hai
mục đích: (i) Giành lấy thị phần từ đối thủ cạnh tranh; (ii) Cảnh báo cho đối thủ cạnh
tranh rằng nếu họ tấn công MNC tại thị trường nội địa của MNC thì đối thủ cạnh tranh sẽ
bị một hành động trả đũa tương tự tại quê nhà của nó.
Lý do thứ tư xuất phát từ động cơ muốn giảm phí tổn. Bằng cách đặt những cơ sở
kinh doanh gần với khách hàng, MNC có thể giảm chi phí vận chuyển, tránh được những
chi phí phát sinh cho những kênh phân phối trung gian, đáp ứng được những thay đổi về
thị hiếu của khách hàng, và cuối cùng là việc sử dụng được những nguồn lực rẻ tiền tại
địa phương.
Lý do thứ năm xuất phát từ mục tiêu vượt qua rào cản thuế quan. Thị trường của EC
là một ví dụ rất tốt cho lý do nầy. Thật vậy, các công ty không hoạt động sản xuất tại EC
Quản trị Kinh doanh Quốc tế CI.15
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hùng Phong
luôn là một đối tượng chịu thuế cao và một hạn ngạch nhập khẩu nghiêm ngặt nhưng nếu
công ty nầy hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp tại EC thì nó có thể vận chuyển hàng
hóa dễ dàng sang các nước khác thuộc EC mà không vấp phải một rào cản nào. Tình hình
tương tự như vậy tại thị trường Bắc Mỹ với khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ ( gồm Hoa
Kỳ, Canada, và Mehico)
Lý do thứ sáu khiến một công ty mong muốn trở thành MNC xuất phát từ việc muốn
nắm lấy lợi thế về phương diện kỹ thuật và công nghệ bằng cách sản xuất hàng hóa một
cách trực tiếp ở nước ngoài thay vì cho phép người khác làm việc đó thông qua việc cho
thuê bản quyền về công nghệ. Một thỏa thuận cho thuê bản quyền là một dạng hợp đồng
mà ở đó người cho thuê sẽ cho phép người đi thuê được sử dụng bản quyền về nhãn hiệu,
phát minh, hoặc công nghệ để sản xuất và họ sẽ thu một lệ phí đối với người đi thuê.
Khoản lệ phí nầy là một khoản thu cố định, hoặc một khoản thu tính theo một tỷ lệ phần
trăm so với doanh thu phát sinh và có thể kéo dài trong một thời gian thông thường từ 5 –
7 năm, sau thời gian đó hợp đồng cho thuê có thể được xem xét để kéo dài thêm. Mặt dù
ích lợi của hình thức cho thuê bản quyền thì rất rõ ràng, nhưng trong thời gian gần đây,

California, nhưng chi tiết được tạo ra tại Anh, lắp ráp tại Michigan và Mehico, loại xe hơi
nầy lại sử dụng các bộ phận điện tử được sáng chế tại New Jersey và được chế tạo tại
Nhật Bản. Tương tự như vậy, loại xe ăn khách của Chevrolet – Geo Metro – được thiết kế
tại Nhật Bản, và chế tạo tại Canada bởi một nhà máy do công ty Suzuki sở hữu. Hoặc
trong trường hợp của Boeing thì loại máy bay nầy được thiết kế tại bang Washington và
Nhật Bản, nhưng lắp ráp tại Seatle với chóp đuôi làm từ Canada, một số chi tiết phần
đuôi lại được sản xuất tại Trung Quốc và Italy, và đầu máy thì được làm từ Anh. Nói
cách khác, MNC sẽ tiến hành các hoạt động và thoả thuận sao cho nó có lợi nhất, thậm
chí điều nầy sẽ dẫn đến sự hợp tác của nhiều công ty thuộc từ 3 cho đến 4 quốc gia khác
nhau. Điều nầy là một thực tế hiển nhiên được tiến hành bởi các MNC bất kể quy mô của
nó là lớn hay nhỏ.
II.2 Các hình thức hoạt động của MNC
Để tiến hành quá trình đầu tư trực tiếp và kinh doanh tại hải ngoại, MNCs có nhiều
cách lựa chọn hình thức sở hữu, từ việc sở hữu 100% vốn cho đến việc mua cổ phần từ đa
số đến thiểu số. Với sự cạnh tranh quốc tế ngày càng mãnh liệt, rủi ro khi bước vào thị
trường, sự phát triển sản phẩm ngày càng đa dạng…, nhiều công ty xem xét việc hợp tác
hay liên minh quốc tế giữa các công ty như là một cứu cánh để giảm thiểu rủi ro. Các
hình thức hoạt động đó sẽ được phân tích sau đây.
II.2.1 Sở hữu 100% vốn
Đối với nhiều MNC giải pháp lập một chi nhánh 100% vốn là một giải pháp được
nghĩ đến đầu tiên khi tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp. Điều nầy xuất phát từ một số
lý do: (i) Tư tưởng vị tộc khi định hướng chiến lược kinh doanh quốc tế; (ii) Vấn đề tài
chính. Ví dụ, một số quản trị gia của IBM cho rằng nếu họ chia sẻ một phần sở hữu của
họ cho phía đối tác nước ngoài, họ sẽ tạo ra một tiền lệ cho việc chia sẻ quyền sở hữu và
kiểm soát với đơn vị kinh doanh bản xứ và điều nầy thường dẫn đến một sự gia tăng phí
tổn cao hơn là những lợi ích có thể có được.
Để có thể có một quyết định hợp lý khi quyết định mức độ mở rộng quyền sở hữu,
quản trị gia của các MNC thường phải xem xét một mức độ kiểm soát như thế nào là cần
thiết cho sự thành công của công ty trong hoạt động kinh doanh và marketing quốc tế.
Thông thường việc sở hữu 100% vốn là một điều mong đợi nhiều nhất nhưng không phải

tác trên lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu và phát triển, marketing…. Nestle và General Mills
đã ký một thỏa thuận để sản xuất hai loại sản phẩm Honey Nut Cheerios và Golden
Grahams tại nhà máy của General Mills tại Hoa Kỳ, các sản phẩm nầy sẽ được vận
chuyển không đóng thành bao đến Châu Âu để đóng gói ở nhà máy của Nestle và sau đó
sẽ được bán tại Pháp, Tây Ban Nha, và Bồ Đào Nha bởi hãng Nestle. Thỏa thuận nầy cho
phép cả hai có thể thực hiện được các mục tiêu của cả đôi bên. Các công ty cũng có thể
thực hiện các thỏa thuận hai chiều để mỗi bên có thể khai thác thị trường lẫn nhau. Ví dụ,
AT & T và Olivetti đã có những thỏa thuận về marketing chéo cho nhau tại cả hai thị
trường Hoa Kỳ và Châu Âu. Trong lĩnh vực dịch vụ, các hãng hàng không đã có những
thỏa thuận cho phép đối tác sử dụng các trung tâm bay của nhau, phối hợp lịch bay, và sử
dụng chung loại vé.
Mua cổ phần: Nhiều MNC đã thực hiện việc mua cổ phần thiểu số tại những công ty
có tầm quan trọng chiến lược với họ nhằm đảm bảo việc gắn bó lợi ích với những nhà
cung cấp. Ví dụ IBM đã mua 12% cổ phần của Intel; Ford đã mua 25% cổ phần của
Mazda. Các đối tác nầy vẫn tiếp tục hoạt động một cách riêng lẻ như một thực thể độc lập
nhưng sẽ thụ hưởng thế mạnh được cung cấp từ đối tác của mình. Ví dụ, nhờ vào sự hợp
tác với Mazda, Ford đã có một sự hỗ trợ rất tốt trong việc thiết kế và sản xuất các loại xe,
trong khi đó Mazda đã gia tăng khả năng xâm nhập thị trường tại Hoa Kỳ. Tương tự như
Quản trị Kinh doanh Quốc tế CI.18
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hùng Phong
vậy, trong lĩnh vực xe hơi, Mitsubishi Motor đã sở hữu 10.2% cổ phần của Chrysler,
Honda sở hữu 20% cổ phần của Rover (Anh)
II.2.3 Liên doanh
Liên doanh là một hình thức mà hai hay nhiều hơn hai công ty cùng góp vốn để hình
thành nên một đơn vị kinh doanh, mức độ kiểm soát của mỗi bên tùy thuộc vào mức độ
góp vốn của họ và họ sẽ chia sẻ rủi ro trong phạm vi phần góp vốn của mình. Các lý do
khiến một MNC phải thực hiện hình thức liên doanh là do: (i) Luật pháp của nước sở tại
buộc MNC phải thực hiện hình thức liên doanh trong một số ngành; (ii) Một phía đối tác
phải cần đến kỹ năng hoặc các tài sản hữu hình và vô hình của phía bên kia; (iii) việc
thực hiện liên doanh cho phép các đối tác có thể thực hiện được mục tiêu chiến lược của

(xii) Xác định rõ các hỗ trợ từ phía Nhà Nước (nếu có).
Quản trị Kinh doanh Quốc tế CI.19
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hùng Phong
II.3 Quy trình quản trị chiến lược của MNC
Nhận dạng nhiệm vụ của công ty
Phân tích môi trường kinh doanh
Thiết lập mục tiêu và kế hoạch tổng thể
Thực hiện kế hoạch
Đánh giá và kiểm soát hoạt động
III Đầu tư trực tiếp của MNC
III.1 Động lực quyết định dòng đầu tư trực tiếp
Lý thuyết về đời sống sản phẩm quốc tế
Các khiá cạnh về quản trị
Nhân tố thị trường
Nhân tố chi phí
Nhân tố mậu dịch quốc tế
Các yếu tố chính trị xã hội
III.2 Thái độ của nước khách trong việc tiếp nhận đầu tư quốc tế
III.2.1 Thái độ tích cực:
Thừa nhận sự đóng góp của FDI trên các lĩnh vực:
• Vốn
• Công nghệ
• Kỹ năng quản trị
• Việc làm
• Phát triển vùng và khu vực
• Tăng trưởng kinh tế
III.2.2 Thái độ tiêu cực:
Cho rằng FDI có những tác động tiêu cực đến quốc gia tiếp nhận trên các lĩnh vực:
• Tác động đến cơ cấu kinh tế quốc gia
• Tạo một sự hay đổi về văn hoá

* Thái độ dân cư đối với đầu tư nước ngoài, vấn đề chủ nghĩa dân tộc
• Những đe doạ về môi trường chính trị thế giới
III.3.3 Các định chế về thương mại và môi trường đầu tư
• Các định chế về thương mại
• Thuế quan nhập khẩu
Quản trị Kinh doanh Quốc tế CI.21
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hùng Phong
• Hàng rào phi thuế quan
• Giấy phép nhập khẩu
• Vấn đề thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng riêng
• Các điều khoản quy định về marketing và bán hàng
• Các điều khoản về phân phối hàng hoá
• Quan hệ về mậu dịch giữa nước chủ nhà và nước khách
• Môi trường đầu tư
• Trợ cấp cho đầu tư hoặc cho sản xuất
• Những ưu đãi về tài chính
• Chính sách bảo hộ hàng sản xuất nội địa
• Các quy định về ngành nghề và lĩnh vực được phép đầu tư
III.3.4 Điều kiện về thị trường của các nhân tố sản xuất
• Thị trường lao động và phí tổn sử dụng nhân công
* Sự sẵn có của nguồn nhân lực không có kỹ năng
* Nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ giáo dục
* Nguồn lực nhân viên có kỹ năng quản trị
* Chi phí nhân công và xu hướng thay đổi về tiền lương
* Năng suất lao động
* Sức mạnh mặc cả của tổ chức công đoàn
• Các yếu tố sản xuất khác
* Sự sẵn có và giá cả của các nguồn vật tư, nguyên liệu
* Sự sẵn có và chi phí sử dụng vốn
* Khả năng tiếp nhận và ứng dụng kỹ thuật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status