LUẬN VĂN:
Tính tất yếu khách quan về thời
kỳ quá độ lên cnxh ở việt nam
a-lời mở đầu
Chiến tranh, đây chính là nguyên nhân tạo cho con người Việt Nam bản lĩnh
kiên cường không chịu khuất phục trước kẻ thù dù có lớn mạnh đến đâu. Có lẽ cũng
chính chiến tranh làm cho cơ sở kinh tế của Việt Nam còn nghèo nàn lạc hậu so với
các nước trên thế giới trong giai đoạn hiện nay.Thế nhưng cuộc cách mạng khoa
học công nghệ trên thế giới diễn ra hết sức mạnh mẽ. Khi mà nền kinh tế thế giói
đang phát triển như vũ bão thì vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu để
giải quyết tốt vấn đề này chúng ta cần có những nhận thức đúng đắn về hội nhập
hay toàn cầu hoá. Phải biết tận dụng mặt tích cực và hạn chế mặt trái của nó, đi đôi
với phát triển kinh tế nâng cao lực lượng sản xuất thì còn cần xây dựng quan hệ sản
ạng dân tộc dân chủ với
cách mạng xã hội chủ nghĩa là cơ sở cho việc lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu của con đường xã hội chủ nghĩa là hoà bình độc lập dân tộc, tự do, dân
chủ, chống áp bức, bóc lột, bình đẳng phồn thịnh văn minh
2) Khả năng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản ở Việt Nam
Đặc điểm nổi bật nhất trong thời đại ngày nay là cách mạng kỹ thuật gắn với
cách mạng khoa học , tạo thành cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển hết
sức mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu sắc đến tốc độ phát triển kinh tế của các nước. Khoa
học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khoa công nghệ cho phép cải tạo điều
kiện phát triển con người, chuyển từ lao động cơ bắp sang lao động trí tuệ. Cách
mạng khoa học kỹ thuật đã làm đổi thay cơ cấu các ngành như công nghiệp nguyên
tử, công nghiệp hoá dầu, công nghiệp điện tử, công nghiệp vũ trụ, công nghiệp khai
thác đại dương, sự phát triển của máy tính điện tử, người máy, kỹ thuật vi điện tử,
vi sinh học Tất cả điều đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu tổ chức doanh các
doanh nghiệp, nâng cao trình độ xã hội hoá và chi phối sự biến đổi cơ bản về quan
hệ sản xuất và quan hệ kinh tế quốc tế. Trong điều kiện đó nó cho phép và buộc
chúng ta phải tận dụng , khai thác , sử dụng tất cả những thành tựu mà nhân loại đã
đạt được để rút ngắn thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Sự ủng hộ, giúp đỡ và hợp tác của các nước, các tổ chức phi chính phủ về
vốn, công nghệ, quản lý Tạo điều kiện sớm đổi mới cơ sở kỹ thuật, cơ cấu kinh tế,
phân công lao động,tạo thêm việc làm, chuyên môn hoá sản xuất Sự giúp đỡ và
hợp tác có hiệu quả bằng nhiều hình thức trong cá ngành, các lĩnh vực.
Nguồn lao động dồi dào, truyền thống lao động cần cù, chịu khó, thông minh
sáng tạo của dân tộc ta, tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi,
tiềm lực ban đầu về cơ sở vật chất – kĩ thuật, đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật, công
nhân lành nghề,kết cấu hạ tầng là những yếu tố hết sức quan trọng để mở rộng sự
hợp tác , tạo điều kiện cho nước ngoài đầu tư là thế mạnh cho tăng chưởng kinh tế
động thủ công, lạc hậu trong nền kinh tế quốc dân.Đó là bước chuyển căn bản từ
nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, trong đó then chốt là
nghành chế tạo tư liệu sản xuất sở dĩ như vậy là vì : theo quan điểm của chủ nghĩa
Mac – Lênin tái sản xuất mở rộng của khu vực sản xuất TLSX, quyết định quy mô
tái sản xuất mở rộng của toàn bộ nền kinh tế,sự phát triển của các nghành chế tạo tư
liếu sản xuất là cơ sở phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Phát triển khoa học công nghệ trong điều kiện Việt Nam hiện nay cần làm tốt
những vấn đề cơ bản sau:
Một là, phải xác định được những phương hướng đúng đắn cho sự phát triển
khoa học công nghệ. Sở dĩ như vậy là vì, khoa học công nghệ là lĩnh vực hết sức
rộng lớn, trong khi đó đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ nước ta còn nhỏ bé chất
lượng còn thấp, khả năng của chúng ta về vốn, phương tiện nghiên cứu còn rất hạn
hẹp.
Vậy phương pháp chung cho sự phát triển khoa học công nghệ ở nước ta :
phát huy những lợi thế đất nước, tận dụng mói khả năng để dạt trình độ tiên tiến,
đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng nhiều
nghành khoa học hơn, ở mức cao hơn, và phổ biến hơn những thành tựu khoa học
công nghệ, từng bước phát triển nền kinh tế tri thức.
Hai là, phải tạo được một điều kiện cần thiết cho sự phát triển khoa học –
công nghệ, việc xác định những phương hướng đúng đắn cho sự phát triển khoa
học - công nghệ chỉ phát triển được khi đảm bảo điều kiện kinh tế – xã hội cần
thiết. Những điều kiện đó là : đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ có số lượng đủ
lớn, chất lượng cao, đầu tư ở mức cần thiết, các chính sách kinh tế xã hội phù hợp.
Trong qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, người lao động – lực lượng
sản xuất không chỉ phải nâng cao trình độ văn hoá và khoa học công nghệ mà còn
phải trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến. Họ vừa là kết quả của sự phát triển
của lực lượng sản xuất đồng thời là người tạo ra sự phát triển đó.
2. Xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN
phân phối một cách thích ứng trong các thành phần phù hợp với điều kiện của nền
kinh tế vận hành theo cơ chế mới.
b. Xây dựng và hoàn thiện QHSX đòi hỏi phải nâng cao hiệu lực điều tiết của
nhà nước, thực hiện phân phối theo nguyên tắc kinh tế thị trường, đẩy mạnh phúc
lợi xã hội
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đa hình thức sở hữu đang làm nảy
sinh những quan điểm mới về quan hệ phân phối.
Quan hệ phân phối trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phải kết hợp
phân phối theo lao động và hưởng lợi theo tài. Phấn đấu để tạo điều kiện để mỗi
người lao động đều có một phần tài sả, vốn đóng góp cổ phần của mình vào các cơ
sở sản xuất, dịch vụ để tạo điều kiện phát huy vai trò của họ trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội. Mục tiêu là phải đảm bảo đời sống của người lao động từng
bước được nâng cao góp phần xoá đói giảm nghèo. Chấp nhận sự phân hoá giầu
nghoè trong từng tầng lớp dân cư và giữa các vùng nhưng có giới hạn. Khuyến
khích mọi người tạo việc làm chính đáng. Nghiêm cấm những hành vi bất chính,
bòn rút của công, hà hiếp quần chúng lao động làm mất lòng tin của nhân dân và
triệt tiêu động lực của người lao động. Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều
hình thức sở hữu độc lập và đan xen sẽ tạo ra nhiều hình thức phân phối, tỷ lệ phân
phối khác nhau về nguồn lực sản phẩm
Quan hệ đối với tài sản bao gồm nhiều quyền khác nhau. Do vậy, cần phân
biệt rõ các quyền này và gắn chúng với việc hưởng lợi trong phân phối kết quả sản
xuất kinh doanh
Phân phối vật phẩm vật phẩm tiêu dùng phải căn cứ vào lao động giản đơn và
lao động phức tạp, khuyến khích nâng cao tay nghề lao động giản đơn, chú ý tới lao
động của các nhà khoa học và quản lý.
Phân phối dựa theo nguyên tắc thị trường không tránh khỏi sự bất bình đẳng
trong thu nhập , mà hậu quả của nó là sự mất ổn định kinh tế, chính trị, xã hội như
các mặt của QHSX để tạo cho nó nhanh chóng giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
nhiều thành phần của Việt Nam.
Đồng thời với việc thiết lập vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước,
hoàn thiện QHSX phải bảo đảm tính dân chủ và bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế (TPKT) tạo điều kịên phát huy đầy đủ năng lực và vị trí của mỗi TPKT, hình
thành hệ thống kinh tế quốc dân thống nhất. Với điều kiện kinh tế nước ta hiện nay,
nền kinh tế chỉ có thể phát triển bền vững nếu các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế hoạt động một cách bình đẳng, có hiệu quả, có sức phát triển và cạnh
tranh cao. Vấn đề này cần được thể hiện trong việc hoạch định các chính sách của
nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc hai mặt : đối xử công bằng với mọi thành phần
kinh tế để đảm bảo công bằng theo chiều ngang và đối xử khác nhau với các thành
phần kinh tế để đảm bảo công bằng theo chiều dọc.
d. Xây dựng và hoàn thiện QHSX phải tính đến yếu tố thời đại mà đặc trưng
của nó là quá trình mở cửa và hội nhập với xu thế quốc tế hoá và khu vực hoá
Trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế, hiện nay không một quốc gia nào
đóng cửa mà có thể phát triển. Trong điều kiện mới, thông qua việc mở rộng các
quan hệ kinh tế quốc tế, các nước có thể tranh thủ, tận dụng nguồn lực của nước
ngoài tạo ra những bước những bước nhảy vọt, đột biến trong sự phát triển rút ngắn
của mình.
Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam những nguồn lực thu hút
được từ bên ngoài sẽ góp phần tạo ra lực lượng sản xuất mới,năng suất lao động cao
hơn đảm bảo cho sự phát triển thắng lợi của đất nước. Về quan hệ sản xuất, điều đó
có nghĩa là rút ngắn sự phát triển mang tính chất tuần tự theo tiến trình lịch sử, đẩy
nhanh quá trình xây dựng nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy,
cần phải có chính sách thông thoáng để thu hút các nguồn lực đó và biến chúng
thành nhân tố tích cực góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đất
nước.
3. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Kinh tế đối ngoại của mỗi quôc gia là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là
tổng thể các quan hệ kinh tế khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một quốc gia nhất
định với các quốc gia khác còn lại hoặc các tổ chức kinh tế quốc tế khác, được thể
hiện với nhiếu hình thức, hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng
sản xuất và phân công lao động quốc tế.
a. kinh tế đối ngoại có vai trò to lớn:
- Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao đổi
quốc tế , nối liền thị trường trong nước với thị trư
ờng quốc tế và khu vực.
- hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư - Góp
phần tích luỹ vốn phục vụ quá trình CNH-HĐH - Góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện công cuộc mở rộng hoạt động kinh tế đối
ngoại trước hết chúng ta cần quán triệt những nguyên tắc cơ bản sau nhằm đảm
bảo bình đẳng và chủ quyền quốc gia về lãnh thổ, kinh tế, chính trị:
.,bình đẳng
.,Tôn trọng độc lập chủ quyền không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
.,Giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc và củng cố định hướng xã hội chủ
nghĩa đã trọn
b. Những hình thức chủ yếu của kinh tế đối ngoại
Việt nam cần phát triển tất cả các hình thức như:
., Ngoại thương (xuất khẩu,nhập khẩu)
., Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất ( nhận gia công xây dựng xí nghiệp với sự
hùn vốn và công nghệ nước ngoài, hợp tác sản xuất quốc tế
., Hợp tác khoa học kỹ thuật
., Đầu tư quốc tế
hiện đại của một nền sản xuất lớn thì còn thiếu. Qua đó ta thấy được sự lãng phí
không nhỏ của lực lượng sản xuất và sự mất cân đối mang tính chất tiêu cực làm tổn
hại đến quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Hiện nay, đã có rất nhiều các trường dạy nghề và trung học chuyên nghiệp
được xây dựng nhằm đảm bảo lực lượng sản xuất được đào tạo cho nền kinh tế
hiện nay. Nhưng lực lượng đào tạo này còn chưa đáp ứng được nhu cầu của nền
sản xuất cả về số lượng và chất lượng bởi một số nguyên nhân sau đây:
- Vẫn còn tư tưởng học đại học và không chịu học các bậc học thấp hơn trong
lớp trẻ nên vẫn chưa có nhiều học sinh thi vào các trường hệ dạy nghề và trung
học chuyên nghiệp.
- Các trường dạy nghề và bậc học trung học chuyên nghiệp chưa nhiều so
với nhu cầu của xã hội hiện nay.
- Cơ sở vật chất cho đào tạo còn nghèo nàn hầu hết là các trang thiết bị máy
móc có từ thời bao cấp còn quá lạc hậu so với giai đoạn hiện nay.
- Trình độ chuyên môn của giáo viên giảng dạy còn một số vấn đề như thiếu
kinh nghiệm thực tế, nặng về lý thuyết.
- Nạn tiêu cực trong giáo dục còn xảy ra phổ biến.
Không chỉ có vậy mà ngay cả bậc học đại học đào tạo ra lực lượng tri thức
cho nền sản xuất xã hội cũng còn rất nhiều yếu kém từ những nguyên nhân chủ
quan và khách quan tương tự như ở trên. Điều này làm cho các công ty nước ngoài
cũng như các công ty trong nước khi nhận lao động vào làm việc đều phải thực hiện
cái việc mà không ai muốn là đào tạo lại cho lực lượng này. Những lý do trên chính
là những trở ngại mà nước ta gặp phải trong thời kì quá độ về lực lượng sản xuất
làm xấu đi hình ảnh lao động trong nước. Làm cho các nhà đầu tư nước ngoài
chuyển hướng đầu tư sang một số nước trong khu vực có lực lượng sản xuất phát
triển hơn như: Trung Quốc, Thái lan, Malaysia
2. Vấn đề xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
thấp, GDP/người của nước ta trong năm 2005 chỉ là khoảng 550$ trong khi đó
Singgapor là hơn 24000$ vào năm 1999, Bruney là hơn 14000$ năm 1999, thái lan
2650$ năm 1999.
- Sự chênh lệch về mức sống của người dân giữa các vùng miền, giữa đồng
bằng và miền núi, giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn dần cùng với sự phát
triểnn của nền kinh tế thị trường
- Hệ thống tiền lương, phụ cấp cho cán bộ công nhân viên chức còn ít chưa
khuyến khích được sự đóng góp của họ cho xã hội. đây cũng là một trong những
nguyên nhân dẫn đến sự tiêu cực của bộ máy nhà nước.
- Phúc lợi xã hội như y tế, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng chưa
được quan tam đúng mức.
II. Giải pháp
1. Vấn đề phát triển lực lượng sản xuất
Cần thúc đẩy tăng cường việc đào tạo đội ngũ công nhân thợ lành nghề cũng
như đội ngũ khoa học kĩ thuật ở nước ta hiện nay.
Tiếp tục việc xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục mà đảng và nhà nước
ta đã trọn lựa. Chúng ta cần đổi mới phương pháp giáo dục từ bậc học phổ thông
đên đại học. Tiếp tục phổ cập giáo dục đến những bậc học cao hơn, đặc biệt là vùng
núi và các dân tộc thiểu số.
Chúng ta cần đưa thêm nhiều những thiết bị giáo dục cũng như giáo trình
hiện đại tiên tiến hoà nhập với thế giới bên ngoài. Xây thêm nhiều các trường dậy
nghề trung học chuyên nghiệp và đưa vào các máy móc hiện đại phù hợp với điều
kiện sản xuất hiện nay thay thế dần cho những trang thiết bị đã cũ kĩ lạc hậu.
Tiếp tục xây dụng mô hình các trường đại học theo tiêu chuẩn quốc tế để
nâng cao dần chất lượng đào tạo bậc học này ở nước ta, chánh tình trạng lý thuyết
suông khi ra ngoài làm việc phải đào tạo lại. Đưa thêm nhiều cán bộ khoa học kĩ
thuật trong nước ra nước ngoài học tập tiếp thu khoa học công nghệ. Có những
Trong quân hệ kinh tế đối ngoại phải đa dạng hoá các lĩnh vực, các nghành,
các bên và các hình thức. Yêu cầu đó đòi hỏi bức thiết hình thành luật pháp, sự ổn
định và nhất quán luật pháp, sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, đặc biệt nâng cao
vai trò của tài chính ngân hàng, cơ sở hạ tầng và dịch vụ cũng như kiến thức trình
độ cho cán bộ về quan hệ kinh tế quốc tế.
4. Vấn đề nâng cao đời sống vật chất văn hoá tinh thần của nhân dân.
Song song với việc thực hiện phát triển và tăng chưởng kinh tế cần gẵn hữu
cơ ngay từ đầu với tiến bộ công bằng xá hội nhằm cho mỗi thành viên trong xã hội
thoả mãn ngày càng tăng nhu cầu vật chất và văn hoá, tạo điều kiện cho sự phát
triển tự do và sự hoàn thiện của mỗi con người, cần có những chính sách phát triển
văn hóa, giáo dục đặc biệt là nông thôn và miền núi, tránh tiếp thu toàn bộ văn hoá
nước ngoài mà phải tiếp thu có chọn lọc. Duy trì và p hát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
B.3 Kết Luận
Từ những phân tích đánh giá ở trên cũng như thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
Để chúng ta có thể thực hiện thời kì quá độ thành công thì việc đầu tiên chúng ta
phải xây dựng cho mình một nền tảng lý luận vững chắc, Lấy chủ nghĩa Mac- Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động, ngoài ra tuỳ thuộc
vào điều kiện mới hiện nay chúng ta đang cần có những điều chỉnh, những nhận
thức cho phù hợp với su thế của thời đại .
Cụ thể là chúng ta cần phải biết tiếp thu cái mới cái tiên tiến của nhân loại,
phải hội nhập cùng nền kinh tế thế giới, khu vực với phương trâm hoà nhập chứ
không hoà tan. Chúng ta cần phải biết phất huy những cái thuộc về mặt tích cực của
toàn cầu hoá đồng thời loại bỏ những mặt trái của nó. Để xây dựng thành công nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Một điều quan trọng nữa là đi đôi với việc phát triển kinh tế, nâng c cao trình
độ lực lượng sản xuất chúng ta cũng phải quan tâm nhiều đến công bằng xã hội, bảo
II. Những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
xã hội.
1. Phát triển lực lượng sản xuất.
2. Xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
3. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
4. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinhh thần của nhân dân
B2. Thực trạng và giải pháp.
I. Thực trạng.
1.Vấn đề Phát triển lực lượng sản xuất
2.Vấn đề Xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
3. Vấn đề Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
4. Vấn đề Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinhh thần của nhân
dân
II Giải pháp
1.Vấn đề Phát triển lực lượng sản xuất
2.Vấn đề Xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
3. Vấn đề Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
4.Vấn đề Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinhh thần của nhân dân