Một số vấn đề cơ bản về giải quyết và phòng ngừa tranh chấp thương mại ở việt nam - Pdf 11

Mục lục
Lời nói đầu: ………………………………………………………………..3
Chương1: Một số vấn đề cơ bản về tranh chấp thương mại: ……........5
Chương 2: Thực trạng về tranh chấp thương mại ở Việt Nam: ……….8

2.1. Thực trạng về tranh chấp thương mại ở Việt Nam:……………….....8

2.2. Các biện pháp giải quyết tranh chấp: ………………………………12

2.3. Thiệt hại về tài chính: ……………………………………………...35

2.4. Thiệt hại khác: ……………………………………………………..37
Chương 3: Một số giải pháp hạn chế TCTM ở Việt Nam: ……………39

3.1. Thẩm định tư cách, năng lực đối tác:……………………………….39
3.2. Soạn thảo và ký kết hợp đồng:...……………………………………40

3.3. Giám sát đối tác trong quá trình thực hiện hợp đồng: ……………..48

Lời kết : …………………………………………………………………..50
Lời nói đầu
Việc Việt Nam được kết nạp vào Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
là một sự kiện trọng đại, một bước ngoặt lớn của nền kinh tế. Cùng với
những cơ hội được giao thương với những nền kinh tế lớn của thế giới, Việt
Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức khó khăn khi tham gia vào một
sân chơi lớn trong khi nhiều doanh nghiệp Việt Nam không hiểu được rõ
luật chơi.
Một trong những khó khăn thách thức lớn mà các doanh nghiệp Việt
Nam phải đối mặt trong thời gian tới đó là những tranh chấp thương mại sẽ
phát sinh nhiều khi mở rộng các quan hệ thương mại quốc tế. Hầu hết, các
doanh nghiệp đều không muốn có tranh chấp nảy sinh trong hoạt động sản

chuyên đề này.
Vì khả năng và kiến thức có hạn trong khi lĩnh vực tranh chấp thương
mại lại rất rộng lớn nên không tránh khỏi một số nội dung trong Chuyên đề
có thể sẽ sơ sài. Vì vậy, em kính mong các thầy cô giáo và người đọc có
những ý kiến để em hoàn thiện và đi sâu nghiên cứu trong dịp khác.
Chương 1
3 3
Một số vấn đề cơ bản về tranh chấp thương mại
Nền kinh tế thế giới đang trên đà phát triển mạnh mẽ, có nhiều ngành
nghề, lĩnh vực mới ra đời, nền kinh tế đang dần được chuyên môn hóa.
Cùng với sự phát triển kinh tế là sự gia tăng các vụ việc tranh chấp thương
mại. Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực
hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ của các chủ thể
kinh doanh được thể hiện trong hợp đồng thương mại.
Như đã trình bày, trước tiên tranh chấp thương mại là một tranh chấp
nảy sinh trong lĩnh vực thương mại, trao đổi, mua bán hàng hóa nhằm tìm
kiếm lợi nhuận. Tranh chấp thương mại phát sinh khi một hoặc nhiều bên
tham gia hợp đồng thương mại vi phạm hợp đồng (không thực hiện/thực
hiện không đúng/thực hiện không đầy đủ/thực hiện không kịp thời những
quyền và nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng thương mại) và đã gây
thiệt hại cho bên bị vi phạm.
Các yếu tố cấu thành của tranh chấp thương mại:
- Có quan hệ thương mại và được thiết lập trên cơ sở của hợp đồng
thương mại;
- Có sự vi phạm hợp đồng thương mại;
- Sự vi phạm hợp đồng thương mại không phải là kết quả của sự kiện
bất khả kháng hay nói cách khác bên vi phạm hợp đồng thương mại
không phải vì nguyên nhân bất khả kháng.
- Bên bị vi phạm bị thiệt hại hoặc có thể bị thiệt hại về tiền, uy tín kinh
doanh …;

nhuận.
5 5
Tranh chấp thương mại đã gây tổn hại rất nhiều nguồn lực của xã hội
nói chung và làm ảnh hưởng nặng nề tới hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nói riêng.
Có nhiều cấp độ tranh chấp thương mại khác nhau như tranh chấp
thương mại giữa các quốc gia với nhau; tranh chấp thương mại giữa các chủ
thể kinh tế trong cùng một quốc gia… trong khuôn khổ hạn hẹp của Chuyên
đề này, em chỉ xin đề cập tới một khía cạnh nhỏ, đó là Một số vấn đề cơ bản
về giải quyết tranh chấp và và phòng ngừa tranh chấp thương mại ở Việt
Nam.
Chương 2
Thực trạng về tranh chấp thương mại ở Việt Nam
6 6
2.1. Thực trạng về tranh chấp thương mại ở Việt Nam
Từ khi Việt Nam vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường, các tổ
chức kinh tế được tự chủ trong hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp
được chủ động trong việc tìm kiếm đối tác, chủ động thỏa thuận các nội
dung hợp tác và chủ động ký kết hợp đồng thì cũng đồng nghĩa với việc các
tranh chấp thương mại phát sinh và tăng mạnh. Theo báo cáo tổng kết của
Tòa án nhân dân Tối cao, năm 2003 có 643 vụ tranh chấp thương mại đã
được tòa án các cấp để giải quyết theo trình tự sơ thẩm (đó là chưa kể nhiều
vụ tranh chấp không được khởi kiện ra tòa án hoặc được các bên giải quyết
tại Trung tâm Trọng tài thương mại). Năm 2006, số vụ kiện thương mại
được Tòa án nhân dân các cấp thụ lý giải quyết ước tính hơn một nghìn vụ.
Theo các chuyên gia, với việc Việt Nam trở thành thành viên chính
thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO thì các vụ việc tranh chấp
thương mại giữa các doanh nghiệp chủ nhà (Các doanh nghiệp có vốn
100% của Việt Nam) và các doanh nghiệp khách (doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài) sẽ “bùng nổ” và có lẽ phần thắng nghiêng nhiều về phía các

• Tranh chấp trong khối các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ:
Trong khối các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ thì lỗi chủ yếu thuộc
về bên đi vay đó là không trả nợ (cả nợ gốc và nợ lãi); trả nợ không
đúng thời hạn. Một dạng tranh chấp khá phổ biến trong khối các
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ đó là tranh chấp liên quan đến bên
thứ ba trong việc xử lý các tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ (tài
sản được cầm cố thế chấp). khi xảy ra những tranh chấp dạng này
8 8
thường thì thời gian đẻ xử lý kéo dài rất lâu và gây nhiều tổn hại về
chi phí cho doanh nghiệp.
2.1.2. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp
Nguyên nhân chủ quan: Việt Nam mới vận hành nền kinh tế thị
trường được khoảng hai mươi năm. Trong một thời gian khá dài, các chủ
thể kinh doanh đã thực hiện những hoạt động kinh doanh trong một môi
trường làm kìm hãm sự phát triển kinh tế đó là cơ chế kế hoạch hóa, cơ chế
bao cấp. Mọi hoạt động của doanh nghiệp được các cơ quan chủ quản “bao”
cho từ thị trường đầu vào, thị trường đầu ra, kế hoạch sản xuất, mua sắm
trang thiết bị máy móc công nghệ … nhìn chung là các nhà quản lý doanh
nghiệp bị triệt tiêu tính chủ động trong kinh doanh. Đến khi thực hiện nền
kinh tế thị trường, xóa bỏ bao cấp thì doanh nghiệp không khỏi bỡ ngỡ,
choáng ngợp trước một nến kinh tế thị trường đầy năng động nhưng cũng
đầy khắc nghiệt. Doanh nghiệp nhiều khi không thoát khỏi những cạm bẫy
tinh vi luôn rình rập dẫn đến thực hiện những giao dịch mà trong đó ẩn
chứa nhiều những rủi ro.
Hoặc là do bối cảnh của nền kinh tế nước ta hiện nay, có nhiều doanh
nghiệp (nhất là những doanh nghiệp nhỏ) được ra đời và hoạt động dưới sự
điều hành bởi những ông chủ không có trình độ về quản lý kinh tế, không
am hiểu về kinh doanh nên khi vào chơi trong một sân chơi lớn đã không đủ
trình độ để phân biệt được đâu là cơ hội kinh doanh và đâu là cạm bẫy do
vậy đã đưa ra những quyết sách sai lầm hoặc tham gia vào những giao dịch

10 10
2.2.1. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, đàm phán, trung gian
hòa giải:
Một câu ngạn ngữ của phương Tây rất có ý nghĩa đó là: “Một thoả
hiệp tồi còn hơn một bản án tốt” đã cho thấy khi có tranh chấp xảy ra, nếu
các doanh nghiệp tự thoả thuận giải quyết được với nhau thì vấn tốt hơn so
với việc kiện nhau ra cơ quan tài phán (Trọng tài hoặc Toà án).
Đưa một tranh chấp ra cơ quan tài phán tất nhiên sẽ tốn kém tiền bạc
và thời gian của cả hai bên. Mặt khác hệ thống toà án của Việt Nam hiện
nay là quá tải, đồng thời với nó là chất lượng của các thẩm phán chuyên về
thương mại ở nước ta còn rất thấp, những thẩm phán kinh nghiệm và đủ khả
năng giải quyết các tranh chấp lớn hợp tình hợp lý chỉ tính trên đầu ngón
tay và tập trung chủ yếu ở hai thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh, còn
các địa phương khác và toà án cấp huyện nhìn chung đội ngũ thẩm phán có
đủ năng lực và kinh nghiệm để giải quyết các tranh chấp thương mại là
không nhiều. Như vậy khi có tranh chấp thương mại xảy ra thì các bên tốt
nhất nên ngồi lại thương lượng, hoà giải với nhau để tìm ra một phương án
giải quyết tối ưu cho vấn đề của mình. Chỉ trong truờng hợp không thể
thương lượng, hoà giải được nữa, thì các bên mới nên đưa tranh chấp đó ra
giải quyết tại một cơ quan tài phán..
Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất trong
lịch sử loài người. Bản chất của hình thức giải quyết tranh chấp này là các
bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để đi đến thống nhất một
phương án giải quyết bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện phương án
đó.
Ở Việt Nam, việc hoà giải các tranh chấp trong đó có cả các tranh
chấp thương mại luôn được coi trọng. Khi tranh chấp phát sinh các bên
thường tự thương lượng, hoặc nhờ một cá nhân, tổ chức trung gian hoà giải
cho việc tranh chấp. Nếu không hoà giải được các bên mới lựa chọn
11 11

tín của đối tác và uy tín của chính mình.
- Thứ ba: Khả năng thu hồi tài sản cao hơn và đồng vốn quay vòng
trong kinh doanh sẽ nhanh hơn, vì thương lượng hòa giải thành công thì khả
năng tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của bên vi phạm sẽ cao hơn.
- Thứ tư: Việc giải quyết tranh chấp bằng hoà giải, các bên có thể
kiểm soát được việc cung cấp chứng cứ và sử dụng chứng cứ qua đó giữ
được các bí mật kinh doanh và uy tín của các bên, bởi vì việc thương lượng
trực tiếp chỉ có hai bên tham gia (Trung gian hoà giải có thêm bên thứ ba
nhưng bên thứ ba thường là tổ chức, cá nhân mà cả hai bên đều tin tưởng và
có uy tín cao) nên nội dung vụ tranh chấp không được công khai và không
tiết lộ ra bên ngoài.
- Thứ năm: Hoà giải xuất phát từ sự tự nguyện của các bên bởi vậy
khi đạt được phương án hoà giải các bên thường nghiêm túc thực hiện
Tuy nhiên việc giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng
trực tiếp hay trung gian hoà giải cũng có một số nhược điểm, đó là:
- Thứ nhất: Việc hoà giải rất dễ dẫn đến đổ vỡ nếu chỉ cần một trong
hai bên không thiện chí hoặc hai bên không thể thống nhất được cách thức
giải quyết vụ việc.
- Thứ hai: trong nhiều trường hợp việc hoà giải chỉ là cái cớ để bên vi
phạm kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ làm cho bên kia nản chí hoặc đôi
khi cả mất quyền khởi kiện vì hết thời hạn nhưng nếu bên bị vi phạm khéo
léo trong thương lượng thì có thể thu hồi được tài sản
- Thứ ba: Việc hoà giải thành không có nghĩa là kết quả hoà giải sẽ
được các bên thực thi một cách nghiêm túc bởi vì không có một biện pháp
13 13
cưỡng chế nào để thi hành nếu bên có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện
nghĩa vụ. Đây chính là hạn chế lớn nhất của phương pháp này làm cho nó
kém hiệu quả. (Trừ trường hợp hoà giải trong tố tụng)
Việc hoà giải có thể được thể hiện:
- Tự hoà giải: Là việc các bên tranh chấp tự bàn bạc đi đến thống

giải/thương lượng thành công mỗi bên phải tự tìm ra được giới hạn của
điểm điều hòa lợi ích của mình và xem xét đến điểm điều hoà lợi ích của
phía bên kia để có thể tìm ra điểm điều hoà lợi ích chung giữa các bên. Hiểu
được điểu này thì mỗi bên có thể giải thích/tập trung và nhận biết được
ngay việc thương lượng với phía bên kia sẽ có kết quả và đạt được những gì
mình mong muốn hay không, trong nhiều trường hợp việc hiểu rõ này cũng
giúp mỗi bên tự xác định nên kết thức sớm thương lượng, nếu thấy bên kia
không thiện chí và không thể đạt được quyền lợi đặt ra.
- Để có thể xác định được điểm điều hoà trên thì mỗi bên cần xác
định rõ tình trạng pháp lý, nguyên nhân cũng như bản chất của các tranh
chấp, bất đồng giữa các bên. Các bên cũng phải tự nhận thức về trách nhiệm
pháp lý của mình khi thương lượng/hoà giải không thành từ đó đưa ra quyết
định phù hợp trên cơ sở so sánh những “cái được” so với những “cái mất”
khi thương lượng không thành.
- Trong quá trình tư vấn lựa chọn thương lượng/hoà giải mỗi bên và
cả hai bên nên phối hợp/lấy ý kiến tư vấn của các chuyên gia chuyên môn
kinh tế - kỹ thuật để giúp mình hiểu rõ hơn bản chất của sự việc.
- Trong suốt quá trình thương lượng/hoà giải để bảo đảm an toàn mỗi
bên nên ghi lại các kết quả hoà giải bằng hình thức văn bản.
15 15
2.2.2. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng tố tụng trọng tài:
Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong
hoạt động thương mại được các bên thoả thuận và được tiến hành theo trình
tự, thủ tục do Pháp lệnh trọng tài thương mại (PLTTTM) quy định (Khoản 1
điều 2 của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003)
Cũng giống như thương lượng và hoà giải, việc giải quyết bằng trọng
tài bắt nguồn từ sự thoả thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện (Thoả thuận
này có thể được thể hiện trước hoặc sau thời điểm xảy ra tranh chấp), các
bên phải có thoả thuận trọng tài.
Trọng tài phi chính phủ ở nước ta được thành lập từ tháng 9/1994.

nhau, giữa các tviên của công
ty với cty liên quan đến việc
thành lập, hoạt độngvà giải thể
cty
- Tranh chấp liên quan đến việc
mua bán cổ phiếu, trái phiếu
- Tranh chấp phát sinh trong
hoạt động thương mại theo sự
thỏa thuận của các bên: Hoạt
động thương mại là việc thực
hiện một hay nhiều HVTM của
cá nhân,tổ chức kinh doanh bao
gồm:mua bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ, phân phối, đại
diện, đại lý thương mại, ký gửi,
thuê, cho thuê, thuê mua, xây
dựng, tư vấn, kỹ thuật, li xăng,
đầu tư, tài chính, ngân hàng,
bảo hiểm, thăm dò, khai thác,
vận chuyển hàng hóa, hành
khách bằng đường biển, hàng
không, đường sắt hoặc đường
bộ và các hành vi thương mại
khác theo quy định của pháp
luật
Thỏa
thuận
trọng
tài
- K2Đ3: Trung tâm trọng tài

của
trọng
tài
- Chỉ quy định trọng tài thể chế
hay trọng tài thương trực
- Trọng tài thể chế hay trọng tài
thường trực
- Trọng tài vụ việc hay trọng tài
do các bên thành lập.(Đ19)
Quyền
chọn
trọng
tài viên
- Chỉ được chọn trọng tài viên
nằm trong danh sách trọng tài
của Trung tâm trọng tài mà họ
đã lựa chọn
- Nếu là tổ chức, cá nhân tranh
chấp Việt nam thì họ không
được chọn trọng tài viên là
người nước ngoài
- K4Đ26: Trọng tài viên do các
bên lực chọn hoặc do tòa án chỉ
định có thể nằm trong danh
sách hoặc ngoài danh sách của
các trung tâm trọng tài tại Việt
Nam
- Được lựa chọn cả trọng tài
nước ngoài
(Chỉ AD trong Trọng tài ad-

thời nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho trọng tài trong việc giải
quyết tranh chấp – Đ33
3. Tòa án giúp trọng tài lưu trữ
hồ sơ
4. Tòa án có quyền xem xét lại
tính hợp pháp của thỏa thuận
trọng tài – Đ30
5. Tòa án cso quyền hủy quyết
định trọng tài theo yêu cầu của
bên không đồng ý trong trường
hợp vi phạm thủ tục tố tụng
trọng tài- Đ50 và Đ54
Tính
cưỡng
chế của
các
phán
quyết
trọng
tài
- Trọng tài là tổ chức phi chính
phủ nên các phán quyết của
trọng tài không đương nhiên có
tính quyền lực nhà nước, không
đương nhiên được bảo đảm
thực hiện bằng các biện pháp
cưỡng chế của nhà nước. Do
vậy việc thi hành quyết định
- Quyết định trọng tài là chung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status