p
Ị
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
HÀ NỘI
KHOA
KINH
TÊ
NGOẠI
THƯƠNG
FOREIGN
TRADE
UNIVERSiry
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
mề
tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
QUAN
HỆ
KINH TẾ
THƯƠNG
MẠI
GIỮA
VIỆT
NAM
VỚI
Khoa
luận
tốt
nghiệp
mạc Lạc
Trang
LỜI
NÓI ĐẦU Ì
CHƯƠNG
ì:
Tổng
quan
về
thị
trường Nam Á 3
ì.
Điều
kiện tự
nhiên và xã
hội
3
1.
Vịtríđịa
lý
3
2.
Lịch
sử,
tôn giáo và văn hoa 5
li.
in.
Sự
cần
thiết
phát
triển
quan
hệ
kinh tế
-
thương mại
gia
Việt
Nam vói
các nước
khu vực
Nam Á 19
CHƯƠNG
li:
Quan hệ
kinh tế
thương mại
gia
Việt
Nam vói một số nước
khu vực
Nam Á 22
ì.
Quá trình phát
triển
Quan hệ
Việt
Nam —
Bangladesh
28
4.
Quan hệ
Việt
Nam
- Sri
Lanka 30
li.
Thực
trạng
quan
hệ
kinh tế
thương mại
giữa Việt
Nam
với
một
số
nước
khu
vực
Nam Á
trong
những
năm
CHƯƠNG
ni:
Giải
pháp nhằm phát
triển
quan
hệ
kinh
tê
thương mại
giữa
Việt
Nam
với
các nước khu
vực
Nam Á 51
ì. Triển
vọng
phát
triển
quan
hệ
kinh tế
thương mại
giữa Việt
Nam
với
các
nước
thuộc
khu vực
Nam Á 53
Ì .2.
Củng
cố khung
pháp
lý cho quan hệ
thương
mại
54
Ì .3.
Tăng
cường,
nâng
cao
chất
lưng
hoạt
động
của
các
tham tán
và
đại
diện
thương
mại
Việt
Nam ở
nghiệp
trong
hoạt
động mở
rộng thị
trường
xuất
nhập
khẩu
mới Nam Á 5!
Ì
.7.
Phát
triển
nguồn
nhân
lực
6(
1.8.
Cần đẩy
mạnh
hoạt
động xúc
tiến
thương mại (XTTM) ở
cấp
Chính
phủ
6]
2.
và
chiến
lưỗc
thị
trường 64
2.4.
Sử
dụng
các
dịch
vụ hỗ
trỗ
xuất
khẩu
65
2.5.
Nâng cao
vai
trò của
Hiệp hội
ngành hàng 66
IU.
Một số
kiến
nghị về phát
triển
quan hệ
kinh
tế
- thương mại
trọng
của chiến
lược
xuất
khẩu,
một
yếu tố
góp
phần
nâng
cao khả
năng
cạnh
tranh
của nền kinh
tế,
của
ngành,
doanh
nghiệp, của
các
sản
phẩm hàng
hoa
và
dịch
vụ trong
tiến
trình
hội
phát
triển
thị
trường
xuất
khẩu
một mặt cần
phải từng
bước nâng
cao
khả năng
chiếm
lĩnh
các
thị
trường
truyền
thống,
mặt khác
cần phải
tìm
cách thâm
nhớp
vào các
thị
trường
mới, thị
trường
tiềm
năng.
buôn bán còn ở
mức nhỏ
bé,
chưa tương
xứng
với tiềm
năng
vốn
có
của
các
bên.
Một
số
mặt
hàng nông
sản của
Việt
Nam như
gạo, hạt
tiêu,
chè,
cà phê và một
số
các mặt
hàng
tiêu
dùng khác như
da
giày,
sở
tại,
song
số
lượng
không đáng kể
lại
chưa đáp ứng được một cách ổn
định
thường xuyên nên chưa
tạo ra chỗ
đứng ưên
thị
trường.
Để
tăng cường
quan
hệ kinh
tế
thương
mại giữa
Việt
Nam
vói
các nước
khu vực
Nam
Á,
trước
hết cần phải
những
ưu
thế sẵn có,
thâm
nhớp
thành công
vào
thị
trường
Nam Á.
Xuất
phát
từ
nhớn
thức
trên,
sau
khi
tìm
hiểu
và nghiên
cứu,
em
xin lựa
chọn
đề
tài:
"Một số
giải
pháp nhằm
quan
về khu vực
thị
trường Nam Á, đánh giá
thực trạng
quan
hệ
kinh
tế
thương mại
của
một số nước tiêu
biểu trong
khu vực
với
Việt
Nam
thời
gian
gản đây,
từ
đó đề
xuất
một
số
giải
pháp và
kiến
nghị
nhằm thúc đẩy
xuất
nhập khẩu
hàng
hoa,
cơ
cấu
mặt hàng
xuất
nhập
khẩu,
các bạn hàng
chủ yếu của
một số
nước
thuộc thị
trường Nam Á.
Trong
quan
hệ
kinh tế
thương mại
giữa
khu
vực thị
trường
này
với
Việt
Nam
thì
tài
là
các nước
thuộc thị
trường
Nam
Á,
tuy
nhiên đề tài chỉ tập
trung
vào bốn nước chủ yếu là Ấn Độ,
Pakistan,
Bangladesh
và
Sri
Lanka.
Dựa
trên
cơ
sở đó,
dề
tài của
em
bao
gồm
những
nội
dung chủ yếu
như
sau:
với
các
nước khu
vực
Nam Á
Trong
quá trình
triển
khai thực hiện
đề
tài,
em đã
nhận
được
rất
nhiều
sự
giúp đỡ
từ
phía Vụ Châu
Phi
-Tây Nam Á
(Bộ
Thương
mại), Viện Kinh
tế
thế
giói,
thư
viện
đây đã dành cho
em
suốt
thời
gian
qua.
2
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận
tốt
nghiệp
ClịươRS
3
TONG QUAN VE THỊ TRƯỜNG NAM Á
Để có thể thâm nhập thành công vào bất kỳ thị trường nào điều trước
tiên
là cần
phải
có những
hiểu biết nhất định
về
thị
trường
đó.
Trong
chương
này
tế
thương
mại
giữa Việt
Nam
với các
nước
Nam Á.
ì.
ĐIỂU KIỆN Tự NHIÊN VÀ XÃ HỘI
Ị. Vi trí
đìa lý:
Nam Á nằm ở phía Tây Nam các
nước
ASEAN,
phía Bắc gắn
liền
với
lục
địa
Châu Á
(Trung
Á),
phía Tây nhìn
ra
các
nước
Trung
Đông,
còn phía
bán đảo phía nam dãy
Himalaya,
tương ỷng
với
vùng
tiểu
lục địa
Ấn
Độ,
và các
quần
đảo:
Sri
Lanka,
Maldives.,
ở ngoài khơi mũi
Comorin.
Đây
là
khu vực
có mật độ dân cư
cao.
Diện
tích vào
khoảng
4.936.889
km
2
,
bằng
cao,
các
cao
nguyên đồ
sộ với
các
dải
đồng
bằng
và vùng
hoang
mạc
khô
cằn.
Độ
cao
thoải
dẩn
từ
Tây Bắc
xuống
Đông Nam
tại
các
nước
Ấn Độ,
1
en.wikipedia.org
3
Đinh
tình
trạng
ngập
lụt,
do đó ảnh
hưởng
nhiều
đến sản
xuất
nông
nghiệp.
Nam Á có khá
nhiều
núi
cao, nổi
tiếng
là dãy
Hymalaya
với
đẤnh Chômôlungma cao 8.882 mét so
với
mặt nước
biển
và được
mệnh
danh
là nóc nhà của
thế
giới.
Ngoài ra còn có
Indus
(sông Ân) và sông Ganga (sông
Hằng).
Sông
Indus
gồm có năm nhánh, nên đồng
bằng
lưu vực sông
Indus
được
gọi
là vùng
Punjab
nghĩa
là
"vùng năm
sông".
Còn sông Ganga ỏ phía Đông được
coi
là
dòng sông
thiêng.
Từ
xưa, nhiều
người
dân
trong
khu vực đã đến khúc sông
này để cử hành
lễ
là khu vực có tài nguyên thiên nhiên giàu có.
Khoáng sản ưong vùng chủ yếu là
than
đá, khí đốt (Ân Độ,
Pakistan,
Bangladesh),
quặng
sắt (Ấn Độ,
Pakistan),
đá
vôi.
Riêng ở
Maldives, đất
nước
với
hơn 1000 hòn đảo nhỏ hầu như không có mấy khoáng
sản,
tài nguyên
thiên
nhiên nơi đây
chủ yếu là cá.
Do các nước Nam Á có
vị trí địa lý
gần xích đạo nên khí
hậu
phẫn
lớn
mang
tính
nhiệt
nhiệt
độ
giữa
các mùa
trong
một vùng
và
giữa
các vùng
trong khu vực
không
lớn lắm.
2
217 quốc
gia
vá vùng
lãnh
thổ
trên
thí gia - NXB Thông kê 2003
4
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
2.
Lích
sử,
VeDan - một tác phẩm văn chương và tôn giáo
nổi
tiếng
bằng
tiếng
Phớn.
Trải
qua
nhiều
thời
đới,
khu vực
này ngày càng phát
triển
và
rực rỡ
nhất
dưới
thời
đế
chế
Mughal.
Từ
thế
kỷ
XVI,
hầu
hết
các
noi
hết
các
quốc
gia
này đều được tách
ra từ
An Độ
(Pakistan,
Bangladesh,
Nepal ).
Chính vì
lẽ
đó văn hoa Ấn có ảnh
hưởng
rất
lớn
đến
các nước này. Trừ Ân
Độ,
các nước khác nhìn
chung
mới được hình thành
trong
vòng
100
năm
trở
lới
đây.
Quá trình hình thành và phát
C.N. Sự
dung
hợp
giữa
Phật
giáo,
Kì
na
giáo và Bà
la
môn giáo đã hình thành một tôn giáo
mới,
Ân Độ
giáo,
lưu
hành ở Ấn Độ
từ thế
kỷ vn và được
truyền
bá đến
nhiều
miền
thuộc
Châu Á
và Châu
Phi
vào
thế
kỷ XIX.
Cho đến
Phật.
Nhưng chính sự
đa
dớng
này
lới
là nguồn gốc
và nguyên nhân gây nên
sự
bất
ổn
định
về
chính
trị
trong
khu
vực.
Suốt
từ thập
niên
50,
các
vấn
để
nổi bật trong
vùng
vẫn
là
Ị *
từng
là
thuộc
địa của Anh
trong
một
khoảng
thời
gian
khá
dài.
Do vậy
tiếng
Anh ở đây
rất
phát
triển.
Bên
cạnh
các ngôn ngữ chính
thống
của các
quốc
gia, tiếng
Anh vẫn được sử
dớng
trong
giao
tiếp
thông
cùng
tồn
tại
nhiều
đảng phái
khác
nhau,
đặc
biệt
ở
Pakistan
có đến hàng trăm đảng phái chính
trị.
Các
đảng
phái luôn phân
tách,
Hèn
kết
để thành
lập
chính phủ
trung
ương và địa
phương,
gây nên
nhiều
màu
thuẫn
và
trên
thực
tế
người
dân ở
các nước khác
nhau của
thị
trường này
lại
có
những
thói
quen
giống
nhau
về
văn hoa và tiêu
dùng.
Đó là một đặc
điểm
đáng chú ý
trong
quan
hệ thương
mại với
các nước này.
n. TÌNH HÌNH
KINH
TẾ
ổn về chính
trị
là
một
trong
những
nguyên nhân kìm hãm sự
phát
triển
của khu vực này.
Để
thoát
ra
khỏi
tình
trạng
đó,
các
quốc
gia
Nam
Á đã không
ngừng
nỗ
lực
trong việc cải
cách nền
kinh
tế,
minh bạch
khiến
cho
khu
vực
Nam Á
trong
mấy năm gần đây có
nhiều
chuyển
biến
tích
cực.
6
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
Từ năm
2003
cho đến
nay,
tốc
độ tăng trưởng GDP
trung
bình
của
toàn khu
vực
đối
cao
trong
GDP của các
nước.
Đặc
biệt
ở
Nepal
và
Buhtan
-
hai
quốc
gia
nghèo
nhất
khu vực và kém phát
triển
nhất thế
giới,
tằ
trọng
nông
nghiệp
chiếm
tới
40% GDP và hơn 80% dân số
sống
bằng
gắng
cải
tiến
trong
lĩnh
vực này, song
nhìn
chung
phương
thức
canh
tác và
dịch
vụ
phục
vụ nông
nghiệp
còn
lạc
hậu,
sản
lượng
do đó phụ
thuộc
nhiều
vào
điều
kiện
tự
nhiên.
trở
nên
thuận
lợi
hơn,
sản
lượng
mới có
xu
hướng
phục
hồi
trỏ
lại
với
mức tăng bình quân
4,1%
5
.
Xét trên toàn khu vực
thì
công
nghiệp
vẫn
chưa
thực
sự phát
triển.
Tằ
trọng
đóng góp
nhiều
nhất
vào
sự
tăng
trưởng
chung của
toàn ngành ở
các
nước
này.
Tuy
vậy,
trong
những
năm
qua,
nhờ hàng
loạt
các
biện
pháp
cải
cách,
đầu tư sâu
rộng
hơn vào
lĩnh
vực
nghiệp
là
7%,
chiếm
28,4%
GDP năm
2004
7
.
3
Kinh
tế thế
giới
và
Việt
Nam
2004
vò dụ
đoán 2005
- Bộ
thương
mại
*•
7
.intracen.org
1
Kinh
tế thí
giới 2003
-
lại
chiếm
tỷ
trọng
cao
nhất
trong
GDP của các nước
thuộc
khu vực Nam Á. Năm
2004
doanh
thu
trong lĩnh
vực
dịch
vụ
của
Pakistan
là 53,3%
GDP và
của Bangladesh
là
51,7%
GDP
8
.
Các
loại
hình
lịch
đã
trở
thành
ngành mũi
nhọn
trong
nền
kinh
tế,
chiếm
20% GDP và hơn 60%
ngoại
hối
của
quốc
gia
này.
Trên 90%
nguần
thu thuế
của
chính phủ là
từ
thuế
nhập
khẩu
và
thuế
liên
xu
thế
toàn
cầu
hóa và
tự
do hóa thương
mại,
các
quốc
gia
Nam
Á đã
tiến
hành mò
cửa nền
kinh
tế,
dỡ bỏ dần hàng rào
thuế
quan
và
phi thuế
quan,
đơn
giản
hóa các
thủ tục
và
qui
kinh
tế
chưa phát
triển,
khả
năng
cạnh
tranh
thấp,
nên
buộc
các nước
phải
thi
hành
mọi
chính sách để bảo hộ
sản
xuất trong
nước,
mở
cửa
từ từ
để duy
trì
chính
sách
bảo
hộ
của
nhập khẩu đạt
90
tỷ
USD. Đến năm
2003,
tổng
kim
ngạch
ngoại
thương của toàn khu vực vào
khoảng
189
tỷ
USD, tăng
48,3%,
trong
đó
xuất
khẩu khoảng
85
tỷ
USD và
nhập khẩu khoảng
104
tỷ
USD".
Riêng các nước Ấn
Độ,
Pakistan,
Bangladesh
tế thế
giới 2003-2004:
Dặc
điểm
và
triền vọng
8
Đinh
Thị
Thu
Hiền
-
Lớp
A4 -K
40A - KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
2
tỷ
USD,
đặc
biệt
là
Buhtan,
tổng
kim
ngạch
còn
chưa đến
Á,
sản
xuất
nông
nghiệp
vốn là
ngành chủ đạo nên các mật hàng
xuất
khẩu chủ
lực
phần
lớn
là
các mặt hàng nông
sản
như
lúa
gạo,
chè
đen,
cà
phê,
hạt
tiêu Ngoài
ra
còn có các
sản
phẩm khác như hàng
may
mặc, dược
xuất từ
dầu
lửa
hay các
sản
phẩm
chế
tạo
như
máy móc
thiết
bị là
rất
lớn.
niêm vào đó các
quốc
gia
này
vẫn nhập khẩu
một
số
mặt
hàng lương
thực thực
phẩm
đừ
thỏa
mãn
nhu cầu
tiêu
với
các nước này
chiếm
gần
70%
kim ngạch
ngoại
thương
của
các nước
trong
khu
vực
13
.
Tuy nhiên trước xu
thế hội
nhập quốc
tế
như
hiện
nay,
cùng
với
sự
tăng
trưởng
thần
kỳ
của khu vực
thì quan hệ
ngoại
thương
trong
khu vực
lại
chưa
mấy
tiến triừn.
Nguyên nhân chính
của
tình
ữạng
này
là xung
đột
về lãnh
thổ,
sắc
tộc.
Liên
tiếp
những
vụ đụng
độ,
tranh
chấp
chính
tri,
thậm
thực
hiện
chính sách
bảo
hộ
thay
thế
nhập khẩu
cùng cơ
cấu
kinh
tế
tương
đồng,
nên
việc
chuyừn sang
hợp tác
theo
xu
hướng
tự
do hoa thương
mại
vừa gặp
phải
sự
chống
đối
của
vùng lãnh
thổ
trên
thế
giới
- NXB
Thống
kẻ
Hà
Nội
2003
13
www.ccionline.org
9
Đinh
Thị
Thu mền-LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
Thực
tế
ở Nam Á đã hình thành một
vài
tổ
chức
kinh tế
thương mại khu vực
như
Hiệp hội
Độ).
Song
nhìn
chung
do
nhiều
hạn chế
như
trình
độ phát
triển
kinh tế,
các
yếu
tố
liên
quan
đến chính
trị,
tôn
giáo
nên các
tổ
chức
này chưa phát
huy
được
vai
trò của
mình.
vai
trò chủ
chốt
trong
khu vực là
Ân Độ
,
Pakistan,
Bangladesh
và
Sri
Lanka.
Sau
đây, tác
giả xin
điểm
qua
một
số
nét
nổi bật
về
tình hình
kinh tế
thương
mại của
các
quốc
gia
này.
địa
trải
dài trên 3.000
km
từ
Bắc đến
Nam, phía Bắc
giáp
dãy
Himalaya,
phía
Nam và
phía
Tây giáp
Ấn
Độ Dương, phía Đông giáp
vịnh
Bengal.
Đây là
quốc
gia lớn
nhất
khu
vực
Nam Á
với diện
tích
3.287.590
km
2
độc
lập,
thực
hiện
đường
lối
phát
triển
kinh
tế
độc
lập,
tự lực
cánh
sinh,
Ân Độ đã xây
dựng
một
nền
kinh
tế
cân
đối,
đồng
bộ
với
một hệ
thống
công
nghiệp
tiên
tiến
ngang
tẩm
quốc
tế
(năng
lượng
hạt
nhân,
khoa
học
vũ
trụ, tin
học.)
và
tự
túc
được lương
thực
cho
hơn
Ì
tỷ
dân.
Trong
những
năm
qua,
chỉ số
trên 25% GDP của Ấn
Độ.
Các ngành công
nghiệp
chế
tạo
chiếm
80%
từng
giá
trị
sản phẩm ngành công
nghiệp
nước
này,
dạt
mức tăng
truồng
7,2%,
đây
cũng
là
nhân
tố
quan
trọng
nhất
đóng góp
tăng trưởng cho khu vực Nam Á. Các ngành công
nghiệp
quan
trọng
nhờ
kết
quả
của
cuộc
cách
mạng
xanh,
nhưng về cơ
bản vẫn
phụ
thuộc
vào
điều
kiện
tự
nhiên.
Ngành nông
nghiệp
của
ấn độ
hiện
chiếm
24%
trong
GDP, và
với
mức tăng
súc
16
.
Khu
vực
phi
nông
nghiệp
của
An Độ có
những
bước
chuyển
biến
mới
nhờ
hàng
loạt
các
biện
pháp
cải
cách của chính
phủ,
đặc
biệt
quá trình tư
nhân hóa khu vực
doanh
nghiệp
ngành này
chịu
sự
suy
giảm
do
những
xung
đột sắc
tộc
trong
nước và
tình hình chính
trị
căng
thẳng
với
Pakistan,
dẫn đến ngành du
lịch
bị ảnh
hưởng.
Từ
2002,
sự
phục
hồi
của
ngành du
lịch
15
Một số
độc
điểm tăng trưởng kinh
tế ấn Độ
hiện
nay
-
Những
vấn để
kinh
tế thể
giới số'3110712005
IS
Tái liệu cơ bàn ấn Độ - Ban quan
hệ
quốc
tếvccí
li
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
vực
có mức tăng trưởng cao hơn mức
trung
bình ngoài ngành du
lịch
viỉc
cấp
giấy
phép
xuất
nhập khẩu
cho
hầu
hết
các mặt
hàng,
chỉ
trừ
một
số
ít
mặt hàng có tính
chiến
lược liên
quan
đến an
ninh
quốc
phòng
hoặc
có tầm
quan
trọng
thiết
yếu
50% và đến năm 1997 còn
35%
18
.
Hiỉn
nay Ấn Độ
vẫn
đang
trong
quá trình
cải
cách nói
trên.
Mục tiêu
giảm
thuế
của
Ấn Độ
là phấn
đấu
giảm
thuế
bằng
mức
của
các nước
ASEAN
vào năm
2005.
Nhờ chính sách
của
Ấn Độ như Mỹ,
Nhật,
Trung
Quốc và
Đông Nam
Á.
Để đáp ứng nhu
cầu
trong
nước,
Ấn Độ
nhập khẩu
than đá,
dầu
thô,
hóa
chất,
máy móc và
linh
kiỉn
điỉn
tử,
một số
sản
phẩm nông
sản
Đồng
thời,
Ấn Độ
2004,
Ấn
Độ
xuất
khẩu
một
khối
lượng
phần
mềm và
dịch
vụ thông
tin
khổng
lồ
tri
giá 9,5
tỷ
USD. Đáng chú ý
là
ngoài
viỉc xuất
khẩu
các
sản
phẩm
chế tác
Ân
Độ
hiỉn
300.000
người
làm
viỉc
ở nước
ngoài,
đến năm
2003
con
số
này đã tăng hơn gấp
đôi,
tói
650 nghìn
người
19
.
" Những vấn đề kinh lí thế giới số3110712005
18
www.dei.gov.vn
" Ấn Độ
với
chính sách hướng
Dông
-
Tạp
chí
thương
mại
số2012005
2002
chỉ
tăng có 2,2% và năm
2004
chỉ đạt
mức tăng
trưởng
trung
bình
là
11,2%
20
.
Về
đối
ngoại,
từ
khi
độc
lập
đến
nay,
Ấn Độ
theo
dường
lối
đối ngoại
hoa
bình,
độc
điều
chỉnh
chính sách
đối ngoại theo
hướng
cân
bằng
các nước
lớn,
đa
dạng
hoa
quan
hệ,
trong
đó có ưu tiên
cải
thiện
quan
hệ
với
các nước láng
giềng,
chú
trọng
điều
chỉnh
và
cải
thiện
chính sách
"hướng
đông" là
kim
chỉ
nam
cho hoạt
động đó.
2.2.
Pakistan
Nước
cộng
hòa
hồi
giáo
Pakistan
nằm ở khu vực Nam Á, phía Đông
giáp
với
Ân
Độ,
phía Tây giáp
với
Iran
và
Afghanistan,
phía Nam giáp
biển
Ả
Rập,
và ngoài
nước,
cải
cách ngân
hàng,
phá giá đồng
Rupi
(tiền
Pakistan),
khuyến
khích đầu tư vào các ngành
hướng
về xuất
khẩu.
Cho đến nay nông
nghiệp vẫn là
ngành
kinh
tế lớn
nhất
và có ý
nghĩa
quan
trọng
đối
với
quốc
gia
này.
Năm
Do
20
www. ficci.com
21
Kinh tế thế
giới
2003 -2004: đặc điểm và
triền
vọng
13
Đinh
Thị
Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
luận tốt
nghiệp
nông
nghiệp
còn phụ
thuộc nhiều
vào
điều
kiện
tự
nhiên nên
sản
lượng
hàng
năm thường không ổn
định,
bò
Sind nổi
tiếng
thế
giỉi.
Ngành công
nghiệp Pakistan
mỉi chỉ
chiếm khoảng
25% GDP,
song
trong
những
năm gần đây đã
bắt
đầu có dấu
hiệu
tăng trưởng vói
tốc
độ bình
quân 3,5 đến
5%/năm
22
.
Ngành
dệt
may, ngành
xuất
khẩu
chủ
điện,
xi
măng
là
những
ngành dẫn đầu
về
tốc
độ tăng
trưởng
sau
ngành
dệt
may,
trong
đó
sản
lượng
thép tăng
11,5%,
ximăng tăng
16,2%.
Các ngành công
nghiệp
khác như
chế
biến
nông phẩm,
thúy,
hải
tăng
69,8%, tủ
lạnh
và
các
thiết
bị
lạnh
tăng
18,9%
24
.
Những Bên
cạnh đó,
Pakistan
đang có chính
sách
thu
hút đầu tư vào ngành
khai
khoáng và dầu
khí.
Hàng năm
Pakistan
sản xuất
trên
16
triệu
thùng
dầu
bắt
đầu
từ
năm
2001, hiện
nhà nưỉc
chỉ
còn
kiểm
soát không quá
100
doanh
nghiệp,
trong
đó có hãng hàng không
quốc
gia
và
hai
ngân hàng
thương
mại. Trong
thời
gian
tỉi
Pakistan
sẽ
tập
trung
cải
trong
đó kim
ngạch
xuất
khẩu đạt
10
tỷ
USD và kim
22
Tài liệu cơ bẩn Pakistan - Bộ thương mại
23
•
25
Tài
tiêu
cơ bản
Pakistan
- Bộ
ngoại giao
24
Kinh
tế thế
giới 2003 -2004:
đặc
điềm
và
triền vọng
14
Đinh Thị Thu Hiên -LớpA4-K40A-KTNT
Khoa
khẩu
13,038
USD
26
.
Các mặt hàng
xuất
khẩu
chủ yếu của
Pakistan
là thúy
sản, gạo,
bông,
sợi
bông,
len,
thảm
len,
giày dép và hàng may mặc. Các mặt hàng
nhập
khẩu
chủ yếu của Pakistan
là lúa mỳ,
chè,
đường,
mật
ong, sợi tổng hợp,
dầu thô,
nhiên
liụu,
chính sách
đối
ngoại
hoa bình và
trung
lập.
Trong
thời
kỳ
chiến
tranh
lạnh Pakistan
thân
Mỹ và phương
Tây,
tham
gia
các
khối
quân sự do Mỹ
lập
ra,
có
quan
hụ
tốt
với
Trung
Quốc và các nước
Hồi
hướng cân
bằng
hơn
trong
mối
quan
hụ
với
các nước
lớn,
cố
gắng
cải
thiụn
quan
hụ
vói
Mỹ, mở
rộng
quan
hụ
với
Tây Âu và
Nhật,
tiếp
tục
quan
hụ
tốt
với
lục
địa
Ẩn
Độ,
phía
Tây,
phía
Bắc,
phía Đông giáp Ấn
Độ,
phía Đông Nam giáp
Myanmar, phía Nam giáp
vịnh
Bengal.
Đất
nước đến 87% dân số
theo
đạo
Hồi,
số
còn
lại
theo
Ấn Độ giáo
,
Phật
giáo và Thiên chúa
giáo.
Đây
là
vẫn là
nước nông
nghiệp
chưa phát
triển.
Trong
năm
2003-2004,
GDP tăng
trưởng
5%, năm
2004-2005
GDP tăng 5,7%
27
.
Nông
nghiệp
là ngành
kinh
tế
được chính phủ ưu tiên hàng đầu đóng
góp 24% GDP và
62,93%
nhân
lực
làm
việc
28
.
Hiện nay
đại
để tăng năng
suất
cây
trồng
và
sản xuất
lương
thực.
Nông
nghiệp
gồm các ngành
nghề
chính:
trồng
trọt,
chăn
nuôi,
thủy hải sản
và lâm
nghiệp.
Một
trong
những
sản
phẩm nông
nghiệp chủ
đạo
của
nước này
được
nhiều
kết
quả
tốt,
được
nhiều
nước
học tập.
Công
nghiệp
ở nước này mới
chỉ chiếm tỷ
trọng
26 % GDP và
thu
hút
khoảng
12%
lực
lượng
lao
động. Các ngành công
nghiệp
chính là công
nghiệp chế
biến
đay,
đường,
chế
lao
dộng
rẻ
nên đã
thu hút
được các nhà
đầu tư
nước
ngoài vào
lĩnh vực này.
Trên
khắp
cả
nước
Bangladesh,
một
mạng
lưới
kinh
doanh
trong
ngành
dệt
may đã hình
thành,
từ tơ,
sợi,
nguyên phụ
liệu
dệt
1993,
chính phủ
Bangladesh
ban hành chính sách
khuyến
khích nước ngoài đầu
tư
vào
lĩnh vực
khai
thác
dầu
mỏ.
Hiện
nước này đang trong
tiến
trình
cải
cách khu vực kinh
tế
nhà nước,
dự
định tư nhân hóa 60% các
doanh
nghiệp
đang có và
kiểm
soát
chặt
chẽ
nghiệm
chương trình tư nhân hóa
của
mình
bằng
việc
bán công
ty
Admajee
Jute
Min, công
ty khai
thác
than
lòn
nhất thế
giới
hiện nay.
Bangladesh cũng
rất
quan
tâm đến
việc
phát
triển
ngoại
thương.
Từ
khi
tiến
rảo
cản
nhập
khảu.
Mức
thuế
cao
nhất
từ
350% năm 1991 đã
giảm
xuống
còn 40% năm
1999
và năm
2000
là 37,5%
31
Năm
tài
chính
2003-2004,
giá
trị
xuất
khảu
đạt
khoảng
5
tỷ
sắt
thép,
hóa
chất,
hàng
dệt
may,
sợi
bông,
dầu
thô,
xi
măng,
thực
phảm
32
Về
đối ngoại,
Bangladesh
thi
hành chính sách
đối ngoại
hòa
bình,
hữu
nghị
hợp
tác
với
các
2001,
Bangladesh
triển
khai
mạnh
chính sách
hướng
Đông,
tăng
cường
quan
hệ
với
các nước
ASEAN.
Bangladesh
là thành viên
của
Liên hợp
quốc,
tổ
chức
các nước
hồi
giáo loe và
khối
liên
hiệp
Anh và
các
đường
bờ
biển
bao bọc dài
Ì
.340
km,
không có biên
giới
đất
liền.
Địa
hình nhìn
chung
thấp
hơn mực nước
biển,
có
đổng
bằng bằng
phang.
r~ — —,
31
www.wto.org
32
tài
liệu
cơ bản
Băngladesh
- Bộ
đế
quốc
xâm lược như Bồ Đào Nha
(1505),
Hà
Lan
(1658),
Anh
(1796).
Ngày
4/2/1948,
thực
dân Anh
trao
trả
quyền
tự
trị
cho
Sri
Lanka (lúc
đó còn
gọi
là
Ceylon)
nằm
trong khối
liên
hiệp
Anh.
60%
nguồn
thu từ xuất
khấu.
Hiện
Sri
Lanka
đứng đấu
thế giới
về sản
xuất
cao su
bán thành phấm và
xuất
khấu
chè
đen,
xơ
dừa.
Năm
1977,
Sri
Lanka bắt
đầu xoa bỏ chính sách
kinh tế tập trung
và
chuyển
sang
chính sách thương mại
thay thế
"thập
kỷ
xuất
khấu".
Những thành
phần
năng động
nhất
trong
nền
kinh tế hiện
nay
là
chế
biến
thực
phấm,
dệt
và đồ thêu may, lương
thực,
đồ
uống,
viễn
thông,
bảo
hiểm,
ngân
hàng.
Du
lịch
trưởng
kinh tế
âm,
nguyên nhân chủ yếu do
nội chiến
bùng
phát,
thâm
hụt
ngân sách
trầm
trọng,
thiếu
nội lực
phát
triển
.
Trong
năm
2002,
với nhiều
nỗ
lực
của
chính phủ và quá
trình
hòa
giải
dân
tộc
Năm
2002
tổng
kim ngạch đạt
lo tỷ
USD,
trong
đó
xuất
khấu
4,6
tỷ
USD và
nhập
khấu
5,4
tỷ
USD. Đến năm
2004,
tổng
kim ngạch
tăng lên
12,5 tỷ
USD,
xuất
khấu
5,2 tỷ USD,
nhập khấu
7,3 tỷ
USD
sản
phẩm khoáng
sản,
xăng
dầu,
lương
thực thực
phẩm, máy móc
thiết
bị.
Các bạn hàng chủ yếu là Mỹ, các nước
phương Tây,
Trung
Cận Đông,
Nhật
Bản,
nay đã
bắt
đầu phát
triển
với
các
nước
Trung
Quốc,
Đông Á và Đông Nam Á.
Về
đối
ngoại,
Sri
Quốc, các nước phương
Tây, các nước
trong
khu vực và liên khu
vực.
Từ đầu
những
năm
90, Sri
Lanka
điều
chỉnh
chính sách
đối ngoại theo
hướng đa phương
hóa,
đa
dạng
hóa
quan
hệ.
Từ sau
khi
chính phủ của
thủ
tướng
Wickramesinghe
ký
hiệp
định
các nước và các
tổ
chức
tài
trợ
nhằm hỗ
trợ
cho
quá trình hòa đàm và
đẩy
mạnh
tốc
độ phát
triển
kinh
tế
- xã
hội.
Sri
Lanka
chú
trọng
và
tích
cực
đẩy
mạnh
quan
hệ
với
của
APEC.
Sri
Lanka
tích cực
hoạt
động
trong
các
tổ
chức
quốc
tế,
khu
vực
và
liên
khu
vực
như
SAARC
(hợp
tác các nước
khu
vực Nam
Á),
BIMST-EC
(nhóm hợp
tác
kinh tế
Nam,
những
thành
tựu
đã
đạt
được sau hơn 10 năm
thực
hiện
công
cuộc
đổi
mới đã và đang
tạo thế
và
lực mới, tạo
tiền
đề mới để
chuyển
sang
thời
kỳ công
nghiệp hóa,
hiện
đại
hóa (CNH-HĐH)
đờt
nước.
Sự
19
tất
yếu đối với lịch sử, là đòi hỏi cấp
bách
đối với Việt
Nam
trong
quá
trình
hội
nhập.
Sự
nghiệp
CNH_HĐH đó đã được nêu
ra
một cách có hệ
thống
từ hội
nghị
đầi biểu
toàn
quốc
nhiệm
kỳ khóa vu
(1/1994)
và
đầi hội
Đảng
lần thứ
VUI
về
lực
nước
ta là
chính,
đi
đôi
với tranh thủ
tối
đa
nguồn
lực
bên
ngoài,
xây
dựng
nền
kinh tế
mở,
hội
nhập
với
khu vực và
thế
giói,
hướng
mầnh
về
xuất
khẩu.
Đồng
kinh tế
vững
mầnh
đó chính
là hội
nhập
vào nền
kinh tế thế
giới
và khu
vực,
là đẩy
nhanh
hàng hóa
Việt
Nam
ra thị
trường
quốc
tế.
Để có
thể
tăng kim
ngầch
hàng
xuất
khẩu,
một mặt
phải
tìm cách
vị trí địa
lý gần
với
Việt
Nam hơn
cả.
Đây
là
một
thị
trường
rộng
lớn với
lượng dân cư đông,
mức tiêu
thụ
manh,
thu
nhập
bình quân đầu
người
ở mức
trung
bình,
không
đòi
hỏi
khắt
khe về
chất
khai
thác và thúc đẩy
quan
hệ hợp
tác.
Việc
thâm
nhập
thành công
thị
trường
này không
những
góp
phần
tăng kim
ngầch
buôn
bán,
tìm được
thị
trường
mói cho
sản
phẩm
hiện
tầi
và
sản
phẩm mới