TRƯỜNG ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA KINH TÊ NGOẠI THƯƠNG
POREION
TRÍ1DE
UNIVERSiry
KHOA
LUẬN TỐT
NGHIỆP
Đề tài
các
GIẢI
PHÁP PHÁT TRlêN
HOẠT
ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU DƯỢC PHÍM cùn Vlậ NAM
•
• •
Sinh
viên
thực hiện
Lớp
Giáo viên hướng.dẫn-—.
Í
T Hư
VIỆN
Ị
ỊnGOH
HÀ NỘI - 2005
đã và đang
thực
hiện
các
biện
pháp đê thúc
đẩy
nền
kinh tế
theo
hướng
xuất
khẩu
từ
đó
khẳng
định
vai
trò của
kinh
tế
Việt
Nam trên trường
quốc
tế.
Tuy
nhiên,
trong khi
nhiều
ngành
nghiệp
dược
của Việt
Nam
trong
thời
điếm
hiện nay:
một mặt thúc đấy
hoạt
động
xuất
khấu,
tạo
tiền
đề đế công
nghiệp
hóa, hiện đại
hóa ngành
dược,
mặt khác hỗ
trợ
cho
hoạt
động
nhập
khẩu
để đáp ứng nhu cầu điều
trị
trong
xuất
phát
điểm
thấp
nên chưa
thể
đáp ứng được nhu cầu điều
trị
của nhân
dân
cũng
như có
thể trở
thành một ngành
xuất
khẩu
mũi
nhọn.
Xuất
khẩu
dược
phẩm
trong
thời
gian
qua
mang
tính
tự
phát,
ra
tình
trạng
hỗn
loạn
về giá
thuốc
trong
thời
gian
gần đây, cơ cấu
thuốc
nhập
khẩu
chưa phù họp
với
mô hình bệnh
tật
của
Việt
Nam,
thuốc
nhập
về kém
chất
lượng,
không rõ
nguồn
gốc.
Đẩy
lượng
công
nghệ
cao cần
thiết
cho nhu cầu
chữa
trị trong
nước đang là một
yêu cầu bức xúc
đặt ra đối với
ngành dược
trong
quá trình
hội
nhập.
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -A6- KHOA KINH
TÉ
NGOẠI THƯƠNG
Ì
KHÓA L UẨN TÓT NGHIỆP
- ĐẠI
HỌC NGOẠI THƯƠNG
Mục đích nghiên
cứu:
Đe tài vận
dụng
lí luận
nước.
Đối
tượng
và phạm
vi
nghiên
cứu:
Đe tài nghiên cứu khả năng đẩy
mạnh
xuất
nhập
khẩu
dược phẩm của
Việt
Nam.
Đờng
thời
trọng
tâm của đề
tài là phân tích tình hình
xuất
nhập
khấu
dược phẩm của
Việt
Nam
trong
những
năm gần đây,
thực
và
Việt
Nam.
Chương
2:
Thực
trạng xuãt
nhập khâu dược phàm của
Việt
Nam.
Chương 3: Các giải pháp phát
triển hoạt
đỊng
xuất
nhập khẩu dược phẩm.
Phương pháp nghiên
cứu:
Dựa trên
việc
thu thập
tài
liệu
thực tế
và
kết
hợp
với
phương pháp
thống
kê,
hợp lí
đê dây
mạnh
và lành
mạnh
hóa
hoạt
động
xuất
nhập
khẩu
dược phẩm
nhàm đáp ứng nhu cầu
chữa
trị
của nhân dân
cũng
như thúc đẩy quá trình
công
nghiệp
hóa, hiện đại
hóa ngành
dược.
Tác
giả xin
chân thành cảm ơn sự giúp
đõ,
động viên của các
thầy
cô
ban lãnh đạo Công
ty
XNK Y tế ì, Cục Quản lí
dược,
Tổng
Cục
Thống
kê,
Phòng kế
hoạch
và hợp tác
quốc
tế
Tổng
công
ty
Dược
Việt
Nam
đã giúp đỡ
trong
quá trình
thực hiện
đề
tài
này.
Vói
thời
gian
nghiên cứu và trình độ có
VỀ
THỊ
TRƯỜNG
DƯỢC
PHẨM
THÊ GIỚI VÀ
VIỆT
NAM
ì. Vai trò, vị trí của dược phẩm.
1.
Khái niệm dược phẩm.
Theo
Thông
tư số
07/2004/TT-BYT ngày
31
tháng
5
năm
2004
của
Bộ
Y
tế
về
việc
hướng
dẫn
xuất
nhập
cấp số
đăng ký
tại
Việt
Nam
-
Thuốc
thành phẩm chưa có số đăng ký ở
Việt
Nam nhưng
cần
cho
nhu cầu
điều
trị.
- Dược
liệu, tinh
dầu -
những
sản phẩm có
nguồn
gốc
thực vật
sẽ
được
chế biến
để
sử
dụng
trong
bệnh,
làm
giảm
triệu
chứng
bệnh,
chẩn
đoán
bệnh,
hoặc
điều
chỉnh
chức
năng
sinh
lý
cơ
thể.
-
Thuốc
thành phẩm là
dạng
thuốc
đã qua
tất
cả các
giai
đoạn
sản
xuất
cùa
sản
phẩm
trong
quá
trình
sản xuất.
- Thuôc Tân dược bao gồm:
+ Nguyên
liệu
hóa dược và
sinh
học
dùng làm
thuốc
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -A6- KHOA KỈNH
TẾ
NGOẠI THƯƠNG
3
KHÓA L UẨN TỐT NGHIỆP
- ĐẠI
HỌC NGOẠI THƯƠNG
+ Thành phẩm hóa dược và
sinh
học
Như
vậy, với
quan
xuất
các
loỏi
thuôc đông
dược,
nó có liên
quan
trực
tiếp
đến sức
khỏe
của nhân dân. Hơn thê nữa,
hằng
năm chúng ta
nhập
khẩu
một lượng
lớn
dược
liệu
từ
Trung
Quốc,
Lào để sản
xuất
thuốc
đông dược
hoặc
tái
xuất
tư 07/2000/TT-BYT có một số hỏn chế và khác
biệt
so
với
quan
niệm
của
các nước:
- Nó không bao gồm các
loỏi
vacxin
phòng
bệnh,
một số hóa
chất
trong
điều
trị,
một số
sinh
phẩm
học do
Vụ
Trang
thiết
bị y
tế
hoặc
Vụ y
tế
sản
xuất
kinh
doanh
dược
phẩm không
thống
nhất.
- Không
giống
như
quan
niệm
về dược phẩm của chúng
ta,
một số
nước
phát
triển
như EU, Mỹ, xem một vài sản phàm mà
hiện
chúng
ta
đang
xem là
trang
thiết
bị y
tế
(như
thị
trường
và
chịu
sự tác động của
qui
luật
thị
trường như:
qui
luật
giá
trị, qui
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -A6- KHOA KINH
TÉ
NGOẠI THƯƠNG
4
KHÓA L UẬN TÓT NGHIỆP
- ĐẠI
HỌC NGOẠI THƯƠNG
luật
cung
cầu, qui
luật
cạnh
tranh
.Tuy
nhiên ngoài
khác
biệt
cơ bản
nhất
của
mặt
hàng
thuốc
so
với
các
loại
hàng hóa khác. Do vậy đế đảm bảo an toàn
sức
khỏe
cho nhân dân và làm lành
mạnh
thử
trường
thuốc, hoạt
động sản
xuất,
kinh
doanh
thuốc
cần có sự
quản
lí, kiếm
tra
chặt
một cách đặc
biệt
dưới
sự
chỉ
đửnh
của
bác
sĩ,
dược
sĩ.
Do đó
trong
quá trình
tiếp
thử
và phân
phối thuốc phải
nhằm cả
hai
mục đích: một mặt
hướng
dẫn
người
tiêu dùng, mặt khác
phải
mang
lại
hiệu
quả
hạn sử
dụng,
liều
dùng, công
dụng.
Vì
thế
cần
phải
chú ý
tới
hạn sử
dụng
của
thuốc
và
thực hiện
tốt
công
tác dự
trữ
và bảo
quản
thuốc.
Nhu cầu tiêu dùng cũng như tác dụng sử dụng của thuốc rất đa dạng:
thuốc
có
loại
để
chữa
thuốc
cũng
gia
tăng.
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -A6- KHOA KINH
TÊ
NGOẠI THƯƠNG
5
KHÓA L UẨN TỐT NGHIỆP
- ĐẠI
HỌC NGOẠI THƯƠNG
3.
Vai
trò, vị trí
của
thuốc
chữa
bệnh.
Mong muốn và ước
vọng
trên
hết
của mỗi con
người
là được
khỏe
mạnh, không có
bệnh
tữn
tại
và phát
triển tới
đỉnh cao của
xã
hội
văn
minh
thì mỗi công dân của dân
tộc
đó
phải
khỏe
mạnh, không
bệnh
tật,
dân
tộc
đó không bị các
dịch bệnh
hoành hành. Vì vậy Chính phú
của
mỗi
quốc
gia
đều có
những
kế
hoạch,
quốc
gia
mà
nhiều khi phải
mang tính toàn
cầu.
Muốn phòng và
chữa bệnh
có
hiệu
quả cần
phải
có một nền y học
phát
triển
trên mọi phương
diện:
Chính sách y
tế
của Nhà
nước,
trình độ y
dược
học
cao, nhận
thức
về sức
khỏe
của xã
hội
tật
sẽ phát
triển
ảnh hường
đến sức
khỏe
và có
thể
gây
ra
những
hậu quả không
lường.
Ngày nay
khoa
học kỹ
thuật
phát
triển
mạnh
mẽ và đững bộ đã giúp
nền
y học
thế
giới
có
những
tiến
bộ
vượt bậc,
hiệu.
Mỗi
một
quốc
gia
trên
thế
giới
hiện
nay đều có nền y học của mình
tữn tại
dưới
hai
hình
thức:
Y học
hiện
đại
và y học cổ
truyền
dân
tộc.
Để
phòng và
chữa bệnh
cho nhân dân thì tùy
từng
trường hợp và
điều
kiện
và công
nghiệp
của các nước rát
khác
nhau,
đặc
biệt
là công
nghiệp
hóa dược (ngành công
nghiệp
sản
xuât
ra
nguyên
liệu
làm
thuốc)
và
lịch
sử y học cổ
truyền
của các dân
tộc.
Do nhu
cầu
và
vi
lợi
ích
lưu
rộng
rãi
khắp
thế
giới.
Do vậy
khi
một
quốc
gia
có nền y dược học phát
triển
thì không
những
đảm
bảo
được
việc
chăm sóc sức
khỏe
dân
tộc
mình mà còn đem
lựi
một nguôn
lợi
kinh tế
vô cùng
to lớn
cầu.
Có
những
căn
bệnh
cho đến
giờ
phút này toàn
thể
nhân
loựi
vẫn
chưa
tim
được phương
thuốc
điều
trị
hữu
hiệu
như AIDS hay
bệnh
cúm
gia
cầm,
lựi
có
những
đựi
dịch
họat
thường
nhật,
gây
ra
tâm
lí
hoang
mang,
lo lang
cho các Chính phủ
và mỗi
người
dân,
mà còn ảnh hưởng nghiêm
trọng
tới
nền
kinh tế
của mỗi
quốc
gia, tới
giao
lưu
kinh tế giữa
các nước trên
thế
giới.
Qua đó chúng
ta thấy
thuốc
mới
ra đời
đã
chặn
đứng
những
căn
bệnh
hiêm nghèo
làm cho con
người
yên
tâm,
tin
yêu
cuộc
sống.
4. Các nhân tồ ảnh hưởng tới giá thuốc và sự biến động về giá thuốc.
Theo
các nhà sản xuât và
kinh
doanh
thuốc
trên
thế
giới
đê một mặt
hàng
thuốc
yếu
tố
tích
cực:
là
thuốc
thiết
yếu,
là
thuốc
có
chất
lượng
cao,
giá thành đê
nghị
với
các cơ
quan chức
năng
thấp.
Thứ
hai,
thuốc
đó có
thế
được
cung
cấp
thường xuyên và đều đặn trên
nhầng
nhân
tố
đóng
vai
trò
rất
quan
trọng,
yếu
tố
này
thuộc
về chủ
quan
của nhà sản xuât
-
kinh
doanh.
Vì
vậy,
một
thuốc
được sản
xuất
ra hoặc nhập khẩu
về
muốn
lưu hành lâu
dài trên
tới
giá
thuốc.
Tinh toán giá
thành:
Nếu
là
thuốc
sản
xuất
thì
phải
tính toán hợp
lí
ờ
mọi
khâu
trong
dây
chuyền
sản
xuất
đế làm
thế
nào có được một giá thành
hợp lí
nhất.
Nếu là
thuốc
nhập khẩu
bao bì
khác
nhau, qui
cách đóng gói khác
nhau
thì giá cả
cũng
khác
nhau.
Nhầng
thuốc
có cùng
hoạt chất
nếu
mang
tên gốc
thì
giá thường
thấp,
nếu
mang
tên
biệt
dược giá cả thường cao
hơn.
Vì
vậy, khi
định giá một mặt hàng
phải
hết
và
nhóm
thuốc
có tác
dụng chầa bệnh
tương
tự.
Dựa vào mặt bàng giá
thuốc
trong
nước để định giá cho họp
lí,
không
thể
đặt
một
loại
thuốc
ờ giá quá
cao
hoặc
quá
thấp
so
với
giá
chung
về
thuốc
ờ
nhau thì
giá
khác
nhau.
Mặt
khác,
cùng một
sản
phẩm
sản
xuất
ờ
một nơi nhưng bán
ở
các nước khác
nhau
thì
giá
khác
nhau.
Bởi
vì
có
rất
nhiều
yếu
tố chi phối
tới
giá
thuốc
sản xuất
và
kinh
doanh
khác.
Tính toán tới khối lượng
hàng
bán:
Khối
lượng
hàng bán được
rất
có
ý
nghĩa
tới
giá
hàng.
Khối
lượng
hàng bán
ra
thường
tỉ
lệ
nghịch
với
giá
hàng hóa.
Tinh tới
giá của
nhóm
thuốc
cùng
tác dụng.
Tính
tới
kinh tế
y
tế:
Giá
trị
kinh tế
của mặt hàng
đó
so
với thuốc
cùng nhóm
cao hay
thấp.
Đê có một
giá củnh
tranh
trên
thị
trường
nhà
sản
xuất kinh
doanh
TRONG
'
'
1
ĐÓ
Ở
CÁC
Nưa
í
KHÁC
GIÁ THÀNH
i
GIÁ
HỢP
LÍ
SỐ
LƯỢNG
BÁN
KINH
TẺ Y
GIÁ
TRỊ
TẾ
CHỮA BỆNH
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -A6~ KHOA KINH
TẾ
NGOẠI THƯƠNG
9
hết
sức
phức
tạp
và thường
là nhất
quán,
trong
đó
nhiều
điều
kiện
được
tính đến cùng
với
việc
áp
dụng
nhiều
phương pháp tính
toán.
Không
chỉ
có
một
cách duy
nhất
để định giá một sản phẩm mà thường có
nhiều
yếu tố
các chỉ
tiêu có tính
quyết
định của
người
kê đơn và
những
người
có ảnh hường đến
việc
ra
quyết
định đó,
doanh
số các
điều
kiện
khác như môi trường
thanh
toán bảo
hiểm
hiện
tại
và dự đoán
sau đó,
khả năng của bản thân các công
ty
sản xuất
và
những
quan
quản
lí
Y
tế
quốc
gia.
Tại
một số nước chính phủ định giá
thuốc
trên cơ sờ giá
trị
chữa
bệnh,
chi
phí
điều
trị
có so sánh, sự đóng góp
của
chính còng
ty
sàn
xuất
cho nền
kinh
tế
của nước đó, giá
thuốc
ở các
các công ty dược
với
chính
quyền
thường kéo dài và căng
thẳng.
Công
ty
dược thường đổ
lỗi
cho quá
trình này gây
ra
sự chậm
trễ
cho
việc
đưa
sản
phẩm
ra thị
trường.
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -A6~ KHOA KINH
TẾ
NGOẠI THƯƠNG
lo
KHÓA L UẨN TÓT NGHIỆP -ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
li.
cỏ,
muông thú và các khoáng
vật.
Người
đầu tiên
tập
hợp và đúc rút
các
kinh
nghiệm
dùng
thuốc
là
Hypocrat,
người
Hy Lạp ờ
thế
kỷ vu và
được
coi
là ông tố của ngành y
thế
giới.
Từ chỗ dùng các nguyên
liệu
ờ
dạng
nguyên
thế
đế ăn, dần dần con
cùng đa
dạng hơn:
xông
hơi,
xoa
bóp, uống,
đáp
tại
chò
Từ
sau
thế chiến lần thứ nhữt
và đặc
biệt
trong
chiến
tranh
thế
giới
lần
thứ
hai khoa
học kỹ
thuật
đã phát
triển
nhanh
chóng,
nhiều
ngành công
mô công
nghiệp.
Trong
thời
kỳ này
người ta
đã xác định được cữu trúc hóa học của một số
thuốc
và đã
chiết
xuữt
được
nó
từ
các nguyên
liệu
tự
nhiên.
Đặc
biệt,
người ta
đã sản
xuữt
ra
được
loại
khoáng
sinh
có
hoạt
là một thành
tựu
lớn của
y
học,
nhờ
vậy
mà
những
căn
bệnh
truyền
nhiễm
được
gọi
là
"tử
chứng
nan y" đã được
giải
quyết
dễ dàng.
Ngày
nay,
trên
thế
giới
sản
xuữt thuốc
đã
tạo
máy, hóa
học,
sinh
học Việc
sản
xuữt
thuốc
không còn đơn
thuần
là sự
chiết
xuữt hoạt chữt
từ động
thực
vật,
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -A6~ KHOA KINH
TẾ
NGOẠI THƯƠNG
li
KHÓA L UẨN TÓT NGHIỆP -ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
khoáng
vật
mà
từ
các
chất tự
nhiên
của
một
số
chất
đã được dùng,
người
ta
thiết
lập
nên các công
thộc
hóa học
theo
các tác
dụng
mong
muốn. Từ các công
thộc
hóa học này
người
ta
nghiên
cộu chất
nào có khả năng
thiết
lập
được trên
thực
tế,
và
đạt
yêu cầu thì mới đem nghiên
cộu qui
trình công
nghiệp
và sản
xuất
hàng
loạt.
Theo
các nhà dược học
Pháp
thì
xác
suất
thành công là
1/10.000.
Nghĩa
là cộ
10.000
chất
được
thiết
lập
sau các quá trình nghiên cộu
thử
nghiệm
thì có một
chất
được dùng làm
bệnh
cũng
đã có
nhiều
loại
thuốc
chữa.
Ngày
nay, Intemet
đang làm
thay đổi
phương
thộc
mà các công
ty
dược
làm ăn
với
nhau
và
đối với
người
tiêu
dùng.
Intemet
đang làm
thay
đôi
quá trình nghiên cộu và phát
triển
có
nhiều
đặc
điểm
đáng đế tìm
hiếu.
Thực
tế không có một
thị
trường dược phẩm nào chuyên
biệt.
Khi nghiên
cộu
người
ta thấy
rằng
không có một mộc giá cố định cho một sản phẩm
nhất
định.
Trên
thị
trường có hệ
thống
khách hàng nhiêu
cấp,
các kênh phân
phối
nhiều tầng,
có
nhiều
xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa về
kinh tế,
thị
trường
dược phẩm
thế
giới
cũng
đã có
những
phát
triển
bước
nhảy
vọt,
nó
được
phản
ánh trước hết ở
doanh
sạ bán
thuạc,
tạc độ tăng trường của
doanh
sạ bán
tại
các khu
vực.
Mức tăng trưởng của ngành dược trên thế
giới
Nhật
Bản bán
ra với
doanh
sạ
chiếm
80%/tổng
doanh
sạ
thuạc
bán
ra
trên
thế
giới.
Trong
khi
đó dân sạ của 3 khu vực này
chiếm
30% dân sạ trên
thế
giới,
đây
cũng
là khu vực có nền
kinh
tế
và công
nghiệp
phát
7,6%/năm,
thị
phần
Châu Á
cũng
nhỏ bé
với
7%
trong khi
dân sạ Châu Á
chiếm
30% dân sạ
thế
giới.
Trong
khu vực Bắc Á
thì
Trung
Quạc và Hàn Quạc là
những
nước có
doanh
sạ bán thuôc
rất
cao
và có
tiềm
năng
lớn
cả về sức bán và sức mua. Chứng tỏ
vào một sạ
hãng và
tập
đoàn dược phẩm
lớn,
25 hãng hàng đầu trên
thế
giới
bán
ra
với
148
tì USD,
chiếm
60,8%
thuạc
được bán ra trên
thế
giới.
Thể
hiện
xu
hướng
tích
tụ
và
tập trung
hóa cao độ của nền
kinh tế
tư bản ở ngành dược
giới
là cơ sở
tất
yếu
đối với
sự tăng
trường,
phát
triển
và
lớn
mạnh
của các
tập
đoàn dược phẩm
lớn
trên
thế
giới.
2.2 Một số
thị
trường dược phẩm lớn
trên
thế
giới.
2.2.
Ì
Thị trường dược phẩm Pháp.
Pháp là nước sổn
xuất
Lực lượng
lao
động
trong
ngành có trên
100.000
người
và ngành dược bỏ
ra 12,1% tổng
doanh
thu
cho
hoạt
động
nghiên cứu và phát
triển.
Pháp là nước
xuất
khẩu
dược phẩm
lớn thứ
4 trên
thế
giới.
Thị trường Pháp có giá
trị
khoổng
5%
thị
trường toàn
cổ các công
ty
dược
phẩm hàng đầu đều có mặt
tại
thị
trường Pháp
trong
đó 3 công ty nước
ngoài có mặt
trong
danh
sách 6 công
ty lớn nhất
tại
Pháp và có
tới
34 công
ty
nước ngoài
trong
số 50 công
ty
hàng đầu
tại
nước này. Chỉ có 3 công
ty
của
Pháp là
Aventis,
72% sổn lượng so
với
63% sổn lượng của các công
ty
Pháp.
Từ Pháp các công ty nước ngoài dễ dàng tổ
chức
mạng
lưới
sổn
xuất
đã
được
toàn cầu hóa trên toàn lãnh
thổ
Châu Âu. Cũng chính nhờ sự năng
động
của các công
ty
nước ngoài mà Pháp
trở
thành nước
xuất
khẩu
dược
VŨ THỊ MINH PHƯƠNG -A6~ KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
14
KHÓA L UẨN TÓT NGHIỆP -ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
phẩm đứng hàng
thứ
vị
trí
của mình
trong
điều
kiện kinh
tế
không
thuận
lợi.
Pháp có một hệ
thống
định giá
chặt
chẽ
nhất
Châu Âu đểng
thời
với
những
biện
pháp
rất tốn
kém cho Chính phủ
tiến
hành để duy trì mức giá
thấp
hơn
15%
so
hiệu
khả
quan.
Theo số
liệu
điều
tra
lực
lượng
lao
động
trong
ngành dược tăng 3
lần
trong
20 năm qua
và hàng năm có thêm
Ì
.000
chỗ làm
việc
mới được
tạo ra
trong
ngành.
Hiện
tại
có 18%
trong
tổng
các
loại
thuốc
thông
thường.
Pháp được
coi
là có bước đi chậm
trong
lĩnh
vực này
do
một
số
nguyên nhân như giá các
loại biệt
dược
thấp
và sự
ngần
ngại
cùa
cả
ngành công
nghiệp
dược phẩm
cũng
như của bác sĩ và
bệnh
nhân. Thị
một mặt hàng thông
thường
bằng
một mặt hàng
thuốc
biệt
dược do bác
sĩ
kê đơn. Chính
quyền
cũng
đểng
thời
khuyến
khích các bác
sĩ
kê đơn
với nhiều
loại
thuốc
thông
thường
bằng
cách nâng phí kê đơn. Tuy nhiên không
phải tất
cả các
biện
pháp trên đều không
thuận
lợi
Italy
và Tây ban
nha.
Các
loại
thuốc
thông thường
hiện
nay
chiếm
trên 6%
tổng
doanh
số và còn
tiếp
tục
tăng
trường.
Tuy vậy
theo
dự báo của IMS tăng trưởng của
thị
trường dược phẩm Pháp chấ đạt
mức 5% so
với
mức
chung
7,1% của
cả Châu Ầu.
2.2.2 Thị trường dược phàm Mêhicô.
liên
kết
kinh
doanh
khác, nâng cấp trình độ
chuyên môn cho
lực
lượng
lao
động
trong
ngành. Thị trường dược Mêhicô
có sự tăng trường liên
tục
trong
những
năm gần đây nhờ nền
kinh
tế
tăng
trưởng
ổn định và
trao
đổi
thương mại
với
các nước
NAFTA
và EU
cũng
giới.
Tuy
nhiên
tại
Mêhicô các
loại
thuốc
tương đương
sinh
học thông thường
chưa được sử
dụng
rộng rãi
và
chấ chiếm dưới
3%
thị
phần.
Mêhicô
cũng
có
thể
đáp ứng một số nhu cầu của các
thị
trường
nổi
tiếng
như Mỹ, Canada và
với
các
thống
luật
và
những
cải
cách
trong
hệ
thống
chăm sóc sức
khỏe
cộng
đồng.
Tháng Ì năm
2005,
Thượng
viện
Mêhicô đã thông qua
việc
sửa
đối
điều
376 của
Luật
Y
tế
Chung
theo
đó đăng ký dược phẩm có giá
trị
tạo
ra
khả
năng có một
khối
lượng
lớn
bệnh
nhân cừn
phải
điều
trị.
Năm
2003
Mêhicô có
tới
26.000
bệnh
nhân được
điều
trị
thường xuyên
tại
các
bệnh
viện
và con số này tăng lên
37.000
người
trong
đang
chịu
áp
lực
ngày càng tăng từ các công
ty
nước ngoài.
Phừn
lớn
các
công
ty
dược phẩm
quốc
tế
hàng đừu đều có mặt
tại
thị
trường Mêhicô và
hoạt
động chủ yếu
tại
khu vực thủ đô Mêhicô cùng các
bang
lớn như
Morelos,
Puebla
và
Jalisco.
Một
khó áp
dụng
tại
phừn
lớn
các nước Châu
Mỹ-La
tinh.
Các công
ty
quốc
tế lớn
và
chi
nhánh
tại
Mêhicô nhìn
chung
chiếm
lĩnh
phừn
lớn thị
phừn
nhưng các công
ty nội
địa
cũng
cố
gắng
đế
những
mật hàng
thuốc
thông thường có
chi
phí
thấp
và chưa
phải đối
đừu
với
những
thách
thức
của
quá trình nghiên cứu và phát
triển
các
sản
phẩm mới.
3.
Tình hình
phân
phoi
và
nhu
cầu
thuốc
của
thế
của họ
và tình hình chính
trị
-
xã
hội
-
kinh
tế
của
quốc
gi
C^aặng^ệng.
ISJC>C
CA' "0-Ị
, _,0A' IKIICNGỊ
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -Ấ6- KHOA KINH TÉ NGOA
17
KHÓA L UẨN TÓT NGHIỆP -ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Cho đến nay hơn
Vì
dân số
thế
giới
vẫn không được
cung
cấp đều đặn
những
thuốc
vừa
thiếu,
vừa không đọng
đều,
giá
thuốc
không phù hợp và sử
dụng
thuốc
không hợp
lí
làm cho tình
trạng
cung
cấp
thuốc trờ
nên
trầm trọng
ờ
các nước này.
Trong
khi
có
tới
75% dân số
sống
trong
các nước nghèo thì
chì có 20% sản lượng
10% số dân
thế
giới.
Thị
trường châu Á, châu
Phi
và châu Mỹ
la-tinh
chỉ
chiếm
12%
doanh
số.
Giá
thuốc,
đặc
biệt
là các
thuốc
mới phát
minh
ngày càng cao
vượt
quá sức
chịu
đựng của các nước đang phát
triển.
Các
thuốc
mới phát
sản xuất
những
thuốc
thiết
yếu nhất
phục
vụ mô
hình
bệnh
của nhân dân và xây
dựng
một chính sách sử
dụng
thuốc
đúng
đắn
và
hợp lí.
IU.
Khái quát
chung
về
thị
trường dược phẩm
Việt
Nam.
1.
Đặc điểm của
thị
trường dược phẩm
nước và nước ngoài.
Việt
Nam là nước có
tốc
độ phát
triển
kinh
tế
cao và ổn định 7-7,7%,
trong
đó ngành dược
Việt
Nam tăng trường bình quân 15-20%/năm. Cùng
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -A6~ KHOA KINH
TẾ
NGOẠI THƯƠNG
18
KHÓA L UẨN TÓT NGHIỆP -ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
với
sự tăng lên của
thu nhập
bình quân đầu
người
thì mức tiêu
thụ
thuôc
bình quân
hằng
2004
554,6
8,5
(Nguồn: Niên giảm Thống
kê
năm
1998,
2000, 2002,
2004)
Qua đó
ta
có
thể
thấy
mức tiêu
thụ
thuốc
bình quân đầu
người
tăng
nhanh
hơn so
với
mức
thu nhập
bình quân. Với
qui
mô dân số hơn 80
triệu
dân như
Như vậy
qui
mô
thị
trường dược phừm
Việt
Nam sẽ
đạt
từ
1,4 - 1,5
ti
USD. Đây là một
thị
trường mà
tiềm
năng còn
rất
lớn,
cần được
tổ
chức
khai
thác
tốt.
Sự phát
triển
của
thị
trường dược phừm
Việt
chọn sản
phừm để sản
xuất,
kinh
doanh
là vấn
đề cần được
nghiện cứu,
tính toán
trong
chính sách
sản
phừm của chúng
ta.
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -A6~ KHOA KINH
TẾ
NGOẠI THƯƠNG
19
KHÓA L UẨN TÓT NGHIỆP -ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Hệ
thống
phân
phối thuốc
tại
thị
trường
Việt
Nam
Việt
Nam.
Báng 2: Các doanh nghiệp dược Việt Nam và nước ngoài hoạt động
tại
Việt
Nam năm 2004
SÍT
Loai
doanh
nghiêp
Sô lượng
1
Doanh
nghiệp
dược
Trung
ương
20
2
Công
ty
xuât khâu dược
địa
phương
126
3 Công
ty
xuât khâu dược
thuộc
Bộ ngành khác
với
mặt hàng dược phẩm.
Thuốc
chữa
bệnh
là một
loại
hàng hóa đặc
biệt,
nó ảnh hường
trỏc
tiếp
tới
sức
khỏe
người
tiêu dùng. Chính vì vậy
Đảng
và Nhà nước có chủ
trương
rất
rõ ràng,
nhất
quán về
việc
quản
lí
trong
sản
xuất,
là đơn vị
quàn
lí
mọi
hoạt
động
trong
lĩnh
vỏc
dược:
quản
lí
về vấn đề cấp phép
xuất,
nhập
khẩu
thuốc,
cấp và
gia
hạn
visa
những
sản phẩm được sản
xuất
trong
nước,
cấp phép
-
đình
chỉ,
y dược tư
nhân,
là
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -A6~ KHOA KINH
TẾ
NGOẠI THƯƠNG
20
KHÓA L UẨN TÓT NGHIỆP -ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
cơ
quan tham
mưu cho Bộ Y
tế
để đề
ra
luật,
các chính sách và
nghị
định
liên
quan
về
việc
quản
lí lĩnh
vực
dược,
cụ
thế:
trong
nước
phải
được cấp phép
(số
visa)
của Cục
quản
lí
dược
mói được lưu hành trên
thị
trường.
Cục
quản
lí
dược còn có
nhiệm
vụ
quản
lí
Nhà nước về dược như
sau:
- Xây
dựng
và trình cơ
quan
Nhà nước có
thạm quyền
ban hành chính
quan
tới
thuốc.
- Ban hành pháp
lệnh
hành
nghề dược,
cấp và
thu hồi
giấy
chứng
nhận
thành
lập
cơ sờ
được,
cấp và
thu hồi
giấy
phép
kinh
doanh dược.
-
Giải
quyết
các
khiếu nại,
tố cáo của các tố
chức
và cá nhân
biệt,
có liên
quan
trực
tiếp
đến sức
khỏe
của
người
dân và có tính
thiết
yếu
trong
đời sống
của nhân dân.
Điều
đó có
nghĩa
là dù
thu nhập
của
người
dân có
thế
cao
thấp
khác
nhau,
tiêu dùng
những
chi
một
phần
ngân sách của mình cho nhu cầu cùa
người
dân về
thuốc,
tối
thiêu
là
thuốc
thiết
yếu.
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -A6~ KHOA KINH
TẾ
NGOẠI THƯƠNG
21
KHÓA L UẨN TÓT NGHIỆP -ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Dược
phàm có ảnh hường
trực
tiếp
đến sức
khỏe
của
người
dân nên
tất
lí
cụ
thể của
nước sờ
tại.
Thuốc
và nguyên
liệu
sản xuất thuốc
đã qua bào chế là
kết
quả của quá
trình nghiên
cứu, thử
nghiệm
và sản
xuất
phức
tạp với
công
nghệ
sản
xuất
cao
nên
chi
những
người
có
kiến
và có tác động
quyết
định
trong việc
sử
dụng
thuốc của
người
tiêu dùng
cuối
cùng.
Vì sản
xuất thuốc
đòi
hỏi
công
nghệ
cao nên đa số các nước đang
phát
triền
phải
nhập
khâu
thuốc
cho nhu cầu tiêu dùng của mình là chủ
yếu.
Cũng chính vì công
nghệ
và
nhất
dược
liệu
xuất
khửu
chính là
các nước phát
triển.
Các
loại
dược
liệu,
tinh
dầu có
quan
hệ phụ
thuộc chặt
chẽ vào
điều
kiện
khí hậu và
đất đai.
Chính vì
vậy,
một số
loại
dược
liệu
chỉ
có
thể
chất
của
ngành
công nghiệp
dược
Việt
Nam.
Cho
tới
nay
Việt
Nam có 165 cơ sở sản
xuất
dược phửm do
trung
ương các
tỉnh,
thành phố và các Bộ ngành khác (Bộ Quốc Phòng, do Bộ Nội
Vụ )
quản
lí,
hầu
hết
các xí
nghiệp
này là xí
nghiệp
bào chế
thuốc
mà
chiến tranh,
một số xí
nghiệp
đã có dây
chuyền
công
nghệ
có
trình độ tương đương
với
các nước
trong
khu vực nhưng
việc
đầu tư chưa
theo
một quy
hoạch
tống thế
và dài hạn.
Khi
chuyến
đối
sang
nền
kinh
tế thị
trường các
doanh
nghiệp
xuất.
Việc
sản
xuất, kinh
doanh
đã
phần
nào cân
bằng
được
cung
cầu sử
dụng
thuốc
trong
nhân dân.
Nhiều
xí
nghiệp
đã
cải tạo,
xây
dựng
mới cơ sờ
vật
chất,
kho tàng,
đôi mới
trang
thiết
thuốc.
Theo
phân
loại
chung
của nước
ta
hiện
nay thì các xí
nghiệp
của
ta
được
phân làm 2
loại:
- Xí
nghiệp
nhỏ có vốn
dưới
Ì
tỷ
đồng và
dưới
100
lao
động
- Xí
nghiệp vừa
có
vốn từ Ì
lâu
đời,
có một
truyền
thống
văn hóa
phi vật thể
của dân
tộc
được hình thành
từ
những
ngày
dựng
nước.
Bắt
nguồn
từ
những
kinh
nghiệm
đơn
giản
như ăn
gừng
để
chống
ho, ăn
giềng,
tía tô để
và nghiên cứu các
VŨ
THỊ
MINH PHƯƠNG -A6~ KHOA KINH
TẾ
NGOẠI THƯƠNG
23