LUẬN VĂN:
Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm tại các
Doanh nghiệp chế tạo thiết bị sản xuất
Gạch trên địa bàn Hà Nội
Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
thành sản phẩm là cơ sở cho việc tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp. Hạch toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đúng, đủ, chính xác và kịp thời sẽ giúp
cho công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, kiểm tra tính hợp
pháp, hợp lệ của chi phí trong sản xuất, cung cấp thông tin cho quản lý. Mặt khác
việc hạch toán chi phí trong cácDoanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua đã có
nhiều sự biến đổi tích cực trong việc áp dụng và thực hiện đúng các chế độ, chuẩn
mực kế toán nhưng mới chỉ dừng lại ở công tác kế toán tài chính và còn có nhiều
mặt còn hạn chế như xác định nội dung các yếu tố chi phí, phân loại chi phí theo
yêu cầu của kế toán quản trị, hạch toán chi phí, tính minh bạch kịp thời của các
thông tin cung cấp cho nhà quản trị. Vì vậy, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm luôn là một vấn đề cấp bách đối với các Doanh nghiệp, đòi hỏi các
nhà kinh tế không ngừng bổ sung hoàn thiện lý luận làm cơ sở cho thực tiễn
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Trên giác độ Kế toán tài chính dựa trên cơ sở lý thuyết về hạch toán chi phí và
tính giá thành sản phẩm đê tài đi sâu nghiên cứu các lọai chi phí phát sinh trong sản
xuất để cấu tạo nên sản phẩm bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung về thực trạng xác định chi phí, cách
thức hạch toán, tính giá thành trong các Doanh nghiệp cơ khí
Trên giác độ kế toán quản trị cũng dựa trên cơ sở lý thuyết đề tài nghiên cứu
phân loại chi phí, phân tích các chỉ tiêu giá thành, các khoản mục chi phí để làm rõ
thực trạng chi phí, giá thành tại các Doanh nghiệp cơ khí
Đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện những nội dung hạch toán chưa phù
hợp với những chuẩn mực kế toán đồng thời xây dựng những nội dung hạch toán
chi phí giá thành phục vụ mục đích quản trị Doanh nghiệp
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Có rất nhiều Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cơ khí tuy nhiên nội dung
chính của luận văn tập chung nghiên cứu đối với các Doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực chế tạo thiết bị để sản xuất gạch tuynel và ceramic trên địa bàn Hà Nội, cụ
thể số liệu, các thông tin được lấy từ các Doanh nghiêp dưới đây để phân tích, so
Về mặt thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong các Doanh nghiệp cơ khí. Đưa ra các giải pháp hoàn
thiện phục vụ cho công tác quản lý Doanh nghiệp.
6. Kết cấu của luận văn
Đề tài: "Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
các Doanh nghiệp chế tạo thiết bị sản xuất Gạch trên địa bàn Hà Nội”
Kết cấu: Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo luận văn được
chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong các Doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
các Doanh nghiệp chế tạo thiết bị sản xuất gạch trên địa bàn Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hạch toán chí phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại các Doanh nghiệp chế tạo thiết bị sản xuất gạch trên địa bàn Hà
Nội
TSCĐ dùng trong sản xuất.
Các chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên và gắn liền với quá trình sản
xuất sản phẩm của một Doanh nghiệp.
1.1.2. Phân loại chi phí
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng
nhóm khác nhau theo những đặc tính nhất định.
Việc phân loại chi phí có tác dụng kiểm tra và phân tích quá trình phát sinh chi
phí và hình thành giá thành sản phẩm nhằm động viên mọi khả năng tiềm tàng
trong việc hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất của xí nghiệp.Tuỳ
theo việc xem xét chi phí ở góc độ khác nhau và mục đích quản lý chi phí mà chúng
ta lựa chọn tiêu thức phân loại chi phí cho phù hợp. Chi phí sản xuất được phân loại
theo một số tiêu thức sau :
1.1.2.1. Phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh
Căn cứ vào việc tham gia của chi phí vào hoạt động kinh doanh, toàn bộ chi phí
được chia làm 3 loại:
+ Chi phí sản xuất kinh doanh: Bao gồm những chi phí liên quan đến hoạt động sản
xuất, tiêu thụ và quản lý hành chính, quản trị kinh doanh.
+ Chi phí hoạt động tài chính: Gồm những chi phí liên quan đến hoạt động về vốn
và đầu tư tài chính như: lãi vay, chiết khấu thanh toán, các khoản lỗ do chuyển
nhượng vỗn góp liên doanh, đầu tư vào công ty con, công ty liên kết, đầu tư ngắn
hạn, dài hạn khác…
+ Chi phí khác: Bao gồm những chi phí ngoài các chi phí kể trên, nó không thường
xuyên diễn ra như: chi phí thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, tiền phạt do vi
phạm hợp đồng kinh tế, bị phạt thuế, truy nộp thuế…
Theo cách phân loại này giúp kế toán có thể xác định và hạch toán chi tiết chi
phí, doanh thu, thu nhập của tong loại hoạt động, qua đó thấy được những đóng góp
của từng loại hoạt động vào lợi nhuận chung của toàn doanh nghiệp.
1.1.2.3. Phân loại theo chức năng trong sản xuất kinh doanh
Dựa vào chức năng của các hoạt động trong quá trình kinh doanh và chi phí liên
quan đến việc thực hiện các chức năng mà chia chi phí sản xuất kinh doanh làm 3
loại
- Chi phí sản xuất: Là toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hoá liên quan
đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong một thời kỳ nhất định. Những khoản chi
phí này thưòng phát sinh trong phân xưởng sản xuất, chế tạo sản phẩm. Nó là cơ sở
hình thành nên chỉ tiêu giá thành sản xuất hay giá thành công xưởng. Chi phí sản
xuất bao gồm ba khoản mục chi phí là: Chi phí nguyên vật liêu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu
chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu tham gia trực tiếp vào việc chế tạo, sản
xuất sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ. Chi phí này thường có giá trị lớn và có
thể xác định được một cách rõ ràng, tách biệt , cụ thể cho từng loại sản phẩm
Chi phí nguyên vật liệu chính là những loại nguyên vật liệu trực tiếp tạo nên
thực thể sản phẩm và chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí nguyên vật liệu. Loại chi phí
này thường dễ nhận biết vì nó thể hiện hình thái trong thành phẩm được sản xuất ra.
Vì vậy khi tiến hành hạch toán chi phí sản xuất, người ta tập hợp ngay, trực tiếp các
chi phí nguyên vật liệu chính cho các đối tượng cụ thể.
Nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu cũng tham gia tạo nên thực thể của sản phẩm
hoặc kết hợp với nguyên vật liệu chính nhằm làm tăng thêm chất lượng vẻ đẹp, yêu
cầu kỹ thuật của sản phẩm. Chi phí này thường có giá trị nhỏ, chiểm tỷ trọng không
lớn trong giá thành sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp thường được tâp
hợp chung sau đó phân bổ cho tong đối tượng cụ thể theo một tiêu thức nhất định
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lương, phụ cấp lương và các khoản trích
cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo tỷ lệ với tiền
loại nỳ chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị trong việc xác
định cac xu hướng biến động và mối quan hệ giữa chi phí phát sinh, sản lượng,
doanh thu thực hiện và lợi nhuận thu được, lập kế hoạch và lựa chọn các phuơng án
kinh doanh hiệu quả nhất. Việc phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí thường
được áp dụng trong kế toán quản trị. Cách phân loại này sẽ khắc phục được những
hạn chế nêu trên. Nguyên tắc phân loại dựa trên mối quan hệ của chi phí phát sinh
với mức độ, quy mô của hoạt động làm phát sinh chi phí ấy. Theo cách phân loại
này, người ta phân chi phí ra thành ba loại bao gồm:
- Biến phí: Là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến động của mức
độ hoạt động, ổn định khi tính cho một đơn vị hoạt động nó bao gồm hai loại biến
phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm và nội dung cụ thể của hoạt động mà người ta lựa chọn
tiêu thức phù hợp để xác định mức độ hay quy mô của hoạt động tương ứng. Chẳng
hạn, với hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, mức độ hoạt động có thể được
xác định qua sản lượng sản xuất hoặc sản lượng tiêu thụ.
Biến phí có đặc điểm là: tổng biến phí tỷ lệ thuận với mức độ của hoạt động và
biến phí đơn vị mang tính ổn định, không biến động khi mức độ hoạt động thay đổi.
Biến phí thường bao gồm các khoản mục chi phí trực tiếp trong quá trình sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, giá vốn của hàng mua vào để bán, hoa hồng bán hàng
- Định phí: Là những khoản chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt động thay đổi,
biến động khi tính cho một đơn vị hoạt động, bao gồm hai loại định phí bắt buộc và
định phí tuỳ ý
Định phí có đặc điểm là: Tổng định phí ổn định, không biến động khi mức độ
hoạt động thay đổi và định phí đơn vị tỷ lệ nghịch với mức độ của hoạt động
Định phí thường bao gồm các khoản chi phí gián tiếp như khấu hao máy móc,
thiết bị, nhà xưởng, chi phí thuê nhà xưởng, cửa hàng, văn phòng, lươngvà các
nhiều phân xưởng, tổ đội sản xuất khác nhau, ở từng địa điểm sản xuất lại có thể
sản xuất chế biến nhiều sản phẩm, nhiều công việc lao vụ khác nhau, theo các quy
trình, phát sinh ở nhiều địa điểm, nhiều bộ phận liên quan đến nhiều sản phẩm,
công việc.
Để xác định đúng đắn đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trước hết phải
căn cứ vào đặc điểm phát sinh cuả chi phí và công dụng của chi phí trong sản xuất.
Tùy theo cơ cấu tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh,
yêu cầu hạch toán kinh doanh của Doanh nghiệp mà đối tượng kế toán tập hợp chi
phí sản xuất có thể là toàn bộ quá trình công nghệ sản xuất của Doanh nghiệp, hay
từng giai đoạn, từng quy trình công nghệ riêng biệt, từng phân xưởng, tổ đội sản
xuất. Tuỳ theo quy trình công nghệ sản xuất và đặc điểm của sản phẩm mà đối
tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng nhóm sản phẩm, nhóm cây
trồng, từng mặt hàng sản phẩm, từng công trình xây dựng, từng đơn đặt hàng, từng
loạt hàng hoặc từng bộ phận, cụm chi tiết hoặc chi tiết sản phẩm.
Thực chất của việc xác định đối tưọng tập hợp chi phí sản xuất là xác định hoạt
động hay phạm vi của chi phí phát sinh làm cơ sở cho việc tập hợp chi phí sản xuất.
Tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng đã được quy định hợp lý có tác dụng
phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác
tính giá thành sản phẩm được kịp thời và đúng đắn .
1.1.4. Giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, là một chỉ tiêu quan
trọng của quản lý theo nguyên tắc hạch toán kinh tế. Giá thành sản phẩm được tính
toán, xây dựng theo từng loại sản phẩm, dịch vụ hoàn thành cụ thể:
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá mà Doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến khối
lượng sản phẩm, công việc, lao vụ và dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp rất quan trọng của doah
nghiệp. Sau khi phân tích, so sánh chỉ tiêu này với chỉ tiêu tương ứng của các doanh
định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí thực tế phát
sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế của sản phẩm là chỉ tiêu
kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của Doanh nghiệp trong việc tổ chức
và sử dụng các giải pháp kinh tế, tổ chức, kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất
sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của Doanh nghiệp.
1.1.5.2. Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
+ Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưỏng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả
những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm
vi phân xưởng sản xuất.
Giá thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất :chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính cho
những sản phẩm, công việc, lao vụ hoàn thành. Giá thành sản xuất của sản phẩm
được sử dụng ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thành nhập kho bàn giao cho khách
hàng. Giá thành sản xuất của sản phẩm cũng là căn cứ để tính toán giá vốn hàng
bán và lãi gộp ở các Doanh nghiệp sản xuất .
+ Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi
phí phát sinh liên quan tới việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí sản xuất, quản
lý và bán hàng). Giá thành tiêu thụ của sản phẩm là căn cứ để tính toán lãi trước
thuế lợi tức của Doanh nghiệp. Giá thành tiêu thụ còn được gọi là giá thành đầy đủ
và được tính theo công thức:
Giá thành toàn bộ
của sản phẩm
=
Giá thành sản xuất của
sản phẩm
Doanh nghiệp giúp cho kế toán tổ chức mở sổ kế toán, các bảng tính giá và tính giá
thành sản phẩm theo từng đối tượng cần quản lý và kiểm tra tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành sản phẩm có hiệu quả đáp ứng nhu cầu quản lý nội bộ Doanh
nghiệp.
1.1.7. Kỳ tính giá thành
Là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công việc tính giá thành cho
các đối tượng tính giá thành. Xác định kỳ tính giá thành cho từng đối tượng tính giá
thành thích hợp, sẽ giúp cho tổ chức công việc tính giá thành sản phẩm được khoa
học, hợp lý, đảm bảo cung cấp số liệu thông tin về giá thành thực tế của sản phẩm,
lao vụ kịp thời trung thực phát huy được vai trò kiểm tra tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành sản phẩm của kế toán.
1.1.8. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Xét về mặt nội dung, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt của quá
trình sản xuất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giống nhau về chất vì đều là
những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà Doanh nghiệp đã chi ra
trong quá trình sản xuất và chế tạo sản phẩm.
Xét về mặt kế toán, thì kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm là hai bước công việc liên tiếp và gắn bó hữu cơ với nhau. Tuy nhiên, chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm lại không giống nhau về lượng, sự khác nhau đó thể
hiện ở các điểm sau:
+ Chi phí sản xuất luôn gắn với từng thời kỳ đã phát sinh chi phí, còn giá thành lại
gắn với khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành.
+ Chi phí sản xuất trong kỳ: Bao gồm cả những chi phí sản xuất đã trả trước trong
kỳ nhưng chưa phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ trước nhưng kỳ này
mới phát sinh thực tế, nhưng không bao gồm chi phí trả trước của kỳ trước phân bổ
cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ này nhưng thực tế chưa phát sinh. Ngược
lại, trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm một phần chi phí thực tế đã phát sinh (chi
hữu cơ với nhau. Quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.
1.1.9. ý nghĩa của việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường các thành phần kinh tế được khuyến khích
phát triển đã thu hút được các nguồn vốn trong và ngoài nước, tạo công ăn việc
làm, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta hoà
nhập với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên nền kinh tế trong cơ
chế thị trường lại có những đòi hỏi riêng của nó. Đó là nó đặt ra một loạt các yêu
cầu về tổ chức quản lý, về hiệu quả kinh doanh buộc các Doanh nghiệp phải tự
nghiên cứu tìm cho mình con đường tồn tại và phát triển. Đứng trước yêu cầu cấp
bách đó công tác kế toán nói chung và công tác tập hợp chi phí sản xuất, tính giá
thành sản phẩm nói riêng đóng vai trò quan trọng trong quản lý kinh doanh ở các
Doanh nghiệp, nó cung cấp thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
không chỉ cho Doanh nghiệp và nhà nước mà còn cho các bên có quan tâm (bên thứ
ba).
Đối với Doanh nghiệp: Khi chuyển sang cơ chế quản lý mới theo mô hình kinh
tế thị trường có định hướng XHCN như hiện nay, công tác hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm trong các Doanh nghiệp cũng cần được đổi mới
nhằm cung cấp lượng thông tin đầy đủ, kịp thời cho việc tính toán hiệu quả của một
hoạt động kinh doanh hàng ngày, hàng kỳ, hàng năm, của Doanh nghiệp, từ đó giúp
Doanh nghiệp nhìn nhận một cách đúng đắn thực trạng, tình hình sản xuất kinh
doanh của mình để đưa ra chính sách thích hợp nhằm tiết kiệm tối đa chi phí sản
xuất, tăng lợi nhận cho Doanh nghiệp, giúp cho lãnh đạo Doanh nghiệp xác định
được định hướng kinh doanh,mặt hàng chiến lược của Doanh nghiệp để tìm được
chỗ đứng trên thị trường và tạo tiền đề phát triển trong điều kiện nền kinh tế cạnh
tranh.
Về phía Nhà nước: Luồng thông tin nhanh nhạy, chính xác từ hệ thống kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Doanh nghiệp giúp nhà nước có cái
hợp lý của tài sản đó và thời điểm tài sản được ghi nhận, Giá gốc của tài sản không
được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán
- Nguyên tắc phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau.
Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng
có liên quan đến việc tạo rakhoản doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu
gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải
trả nhưng có liên quan đến doanh thu của kỳ đó
- Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toầnm doanh nghiệp
lựa chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhẩttong một kỳ kế toán năm. Trường hợp
có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã lựa chọn thì phải giải trình lý do
và sự ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuýêt minh báo cáo tài chính.
- Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc phán đoán cần thiết
dể lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc này
đòi hỏi:
+ Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn
+ Không đánh giá cao hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và các khoản thu nhập
+ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có các bằng chứng chắc chắn về
khả năng thu được các lợi ích kinh tế. Ngược lại, chi phí phải được ghi nhận khi có
bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.
- Nguyên tắc trọng yếu: Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu
thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo
tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế củ người sử dụng báo cáo tài
chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai
sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu phải được xem xét trên
cat phương diện định lượng và định tính.
Những khái niệm và nguyên tắc nêu trên là cơ sở lý luận quan trọng. Nắm vững nội
dung các khái niệm, vận dụng triệt để các nguyên tắc là yêu cầu và điều kiện để tổ
Biên bán đánh giá sản phẩm dở
dang Trong quá trình sản xuất, kế toán căn cứ vào các chứng từ đã lập hoặc thu nhận
được, tiến hành phản ánh, tập hợp các chi phí sản xuất theo từng khoản mục chi phí.
1.2.3. Tài khoản sử dụng
Theo Quyết định số: 15/2006/QĐ - BTC ban hành hệ thống kế toán áp dụng
chung cho tất cả các Doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực mọi thành phân kinh tế. Để
hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, kế toán sử dụng các tài
khoản sau:
Tài khoản TK621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Tài khoản TK622: Chi phí nhân công trực tiếp
Tài khoản TK627: Chi phí sản xuất chung
Tài khoản TK642: Chi phí quản lý Doanh nghiệp
Tài khoản TK641: Chi phí bán hàng
Tài khoản TK154: Chi phí sản phẩm dở dang (theo phương pháp kê khai thường
xuyên)
Tài khoản TK632: Giá vốn hàng bán
Tài khoản TK631: Giá trị sản phẩm dở dang (theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
1.2.4. Trình tự hạch toán chi phí sản xuất
1.2.4.1. Theo phương pháp kê khai thường xuyên
Theo phương này, toàn bộ chi phí sản được tổng hợp trên tài khoản TK154. Tài
khoản này được mở chi tiết cho từng nơi phát sinh chi phí, hay từng loại sản phẩm,
nhóm sản phẩm, từng loại lao vụ, dịch vụ của các bộ phận kinh doanh chính, sản
xuất kinh doanh phụ.
Nội dung phản ánh của TK154:
khoản trích theo
lương của
CNTTSX
TK 334, 338
CPNVL, CCDC
dùng cho PXSX
TK 152, 153
Kết chuyển
CPNVL trực tiếp
TK 621
Kết chuyển
CPNC trực tiếp
TK 622
Kết chuyển
CPSX chung
TK 627
Nhập kho sản phẩm
hoàn thành
TK 155
Gửi bán sản
phẩm hoàn thành
Các khoản ghi
Bên có: Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
TK631 không có số dư cuối kỳ
Trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp
kiểm kê định kỳ được khái quát trên sơ đồ sau:
Sơ đồ: 1.2. Trình tự hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp kiểm kê định kỳ
TK 627
TK 631
TTK 632
Giá trị sản phẩm, dịch
vụ dở dang cuối kỳ
TK 154
Tổng giá thành SX
của SP, dịch vụ hoàn
thành nhập kho, gửi
bán hay tiêu thụ trực
ti
ếp
1.2.5. Kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến, còn đang
nằm trong quá trình sản xuất. Để tính được giá thành sản phẩm, doanh nghiệp cần
thiết phái tiến hành kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang. Tuỳ theo đặc điểm tổ
chức sản xuất, quy trình công nghệ và tính chất của sản phẩm mà doanh nghiệp có
thể áp dụng một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang sau
trong kỳ theo mức độ hoàn thành cách tính như sau:
Giá trị
sản
phẩm
dở
dang
cuối kỳ
=Chi phí đầu kỳ + Chi phí phát sinh trong kỳ
x
Số
lượng
sản
phẩm
dở dang
cuối kỳ
x
Tỷ lệ
hoàn
thành
Số lượng
sản phẩm
hoàn
Cách tính: Giá thành được tính bằng cách trực tiếp lấy tổng số chi phí sản xuất
cộng hoặc trừ số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ so với cuối kỳ,
chia cho số lượng sản phẩm hoàn thành.