TIỂU LUẬN:
Thương mại điện tử với sự phát
triển ngân hàng ở Việt Nam Lời nói đầu
Trong các xu hướng mang tính toàn cầu nổi lên trong mấy chục năm gần đây,
xu hướng thường được đề cập đến là tự do hoá, toàn cầu hoá, điện tử hoá. Thương
mại điện tử thế giới là xu hướng được khởi xướng từ các nước đang phát triển, nhưng
cho đến nay nó đã và đang cuốn hút tất cả các nước, kể cả những nước kém phát triển
Với tính cấp thiết và đối tượng nghiên cứu của đề án đã nêu ở trên, đề án chia
làm ba phần chính:
A. Tổng quan về thương mại điện tử.
B.Thương mại điện tử ở Việt Nam.
C.Giải pháp để phát triển thương mại điện tử và phát triển ngân hàng tại Việt
Nam.
chương I.
Lí luận chung về hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp
I. Kiểm tra, kiểm soát trong hệ thống quản lí
Kiểm tra là quá trình xem xét, đo lường và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm
đảm bảo cho các mục tiêu, kế hoạch được hoàn thành một cách có hiệu quả.Còn kiểm
soát là xem xét để nắm bắt hoạt động và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với qui
- Hướng dẫn và điều khiển đơn vị đi đúng hành lang pháp lí
- Bảo vệ tài sản, tiền vốn
- Tạo niềm tin cho người quan tâm
- Theo sát và đối phó với sự thay đổi của môi trường
- Tạo chất lượng tốt hơn cho hoạt động của đơn vị do tạo ra các chu kì đầu
tư nhanh chóng hơn nhờ đảm bảo thực hiện chương trình, kế hoạch có hiệu
quả cao.
II. Hệ thống KSNB.
1. Định nghĩa hệ thống KSNB
Như trên đã biết, kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quản lí. Nhưng
kiểm tra thường mang tính thứ bậc hành chính (cấp trên với cấp dưới) trong khi kiểm
soát có thể là của cấp trên với cấp dưới, cũng có thể là kiểm soát trong nội bộ doanh
nghiệp và thường được dùng với nghĩa KSNB nhiều hơn.
KSNB là việc tự bản thân doanh nghiệp thiết lập và tiến hành các thủ tục và
các bước kiểm soát nhằm điều hành các hoạt động của mình. Hoạt động KSNB sẽ có
hiệu quả hơn nếu chúng hình thành hệ thống. Trong văn bản chỉ đạo về kiểm toán
quốc tế, hệ thống KSNB được định nghĩa là một hệ thống các chính sách, các biện
pháp kiểm soát và các thủ tục kiểm soát nhằm các mục đích sau:
1. Bảo vệ tài sản và sổ sách kế toán
2. Bảo đảm tính tin cậy của thông tin
3. Bảo đảm duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến
hoạt động của đơn vị.
4. Bảo đảm hiệu quả của các hoạt động và hiệu năng của quản lí
Các chính sách trong KSNB bao gồm tất cả các chính sách về quản lí nhân sự,
quản lí tiền lương, vật tư, tài sản, chính sách về tài chính, kế toán, các chính sách về
hoạt động của đơn vị
- Tính liên tục của sự vận hành của qui chế đó trên thực tế.
2. Các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB.
Có nhiều cách phân loại khác nhau về những bộ phận của hệ thống KSNB,
chẳng hạn chia thành KSNB về kế toán và kiểm soát nội bộ về hành chính.Nhưng
thông thường hệ thống KSNB được cấu thành bởi các yếu tố sau:
2.1. Môi trường kiểm soát: Một tổ chức có được kiểm soát hiệu quả hay
không phụ thuộc vào thái độ của bộ phận quản lí. Bộ phận quản lí tạo ra môi trường
chung, nhờ đó xác lập thái độ của toàn đơn vị đối với hệ thống kiểm soát. Môi trường
kiểm soát bao gồm toàn bộ các yếu tố có tính chất môi trường tác động đến việc thiết
kế, sự hoạt động và tính hữu hiệu của các chính sách, thủ tục kiểm soát của đơn vị.
Các nhân tố này liên quan đến thái độ và hành động của người quản lí cấp cao đối với
quá trình kiểm soát mà các nhân tố chủ yếu là:
2.1.1.Quan điểm, phong cách điều hành và tư cách của các nhà quản lý cao
cấp:
Các nhà quản lý cao cấp là người quyết định và điều hành mọi hoạt động của
đơn vị, vì thế quan điểm, đường lối quản trị, cũng như tư cách của họ là vấn đề trung
tâm trong môi trường kiểm soát.
Phong cách quản lý của các nhà quản lý có thể chia ra làm hai loại:
+ Nhà quản lí quá táo bạo và mạnh dạn, những người này có thể sẵn sàng mạo hiểm
để đổi lấy lợi nhuận cao. Đối với những doanh nghiệp này, khả năng gặp rủi ro lớn,
các chính sách thường không ổn định dẫn đến hoạt động của doanh nghiệp khó đi vào
nề nếp.
+ Nhà quản lí quá rụt rè, họ giữ thái độ thận trọng khi đưa ra bất cứ một quyết định
nào. Những doanh nghiệp này thường bị bỏ lỡ thời cơ và do đó ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động của đơn vị.
Qui mô và mức độ hoạt động phân tán từ đó ảnh hưởng đến cơ cấu quyền lực
trong đơn vị cũng là một vấn đề tiêu biểu của đặc thù quản lí ảnh hưởng quan trọng
trường của mình.
Phải có các chính sách rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, bố trí, đề bạt, khen
thưởng, kỉ luật đối với từng cá nhân, từng bộ phận. Động viên khích lệ kịp thời là bí
quyết thành công của chính sách nhân sự.
2.1.4. Công tác kế hoạch và dự toán.
Hệ thống kế hoạch và dự toán, bao gồm các kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, thu
chi quỹ, kế hoạch hay dự toán đầu tư, sửa chữa tài sản cố định…đặc biệt là kế hoạch
tài chính bao gồm những ước tính và cân đối tình hình tài chính, kết quả hoạt động và
sự luân chuyển tiền trong tương lai.
Lập kế hoạch là một chức năng quan trọng của công tác quản lí, nó cho biết
phương hướng hoạt động, giảm sự tác động của những thay đổi, tránh được sự lãng
phí, dư thừa trong quản lí. Nếu việc lập và thực hiện các kế hoạch được tiến hành
khoa học và nghiêm túc, thì nó trở thành một công cụ kiểm soát rất hữu hiệu.Chính vì
thế các nhà quản lý phải quan tâm xem xét về tiến độ thực hiện kế hoạch, định kỳ so
sánh giữa số liệu thực hiện và số liệu kế hoạch. Đây cũng chính là một khía cạnh mà
các kiểm toán viên rất quan tâm, đặc biệt là trong áp dụng thủ tục phân tích.
2.1.5. Uỷ ban kiểm toán.
Tại một số quốc gia lớn- chẳng hạn như Mỹ- thì các công ty cổ phần có quy
mô lớn thường thành lập một uỷ ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị. Uỷ ban
thường có 3 đến 5 uỷ viên, không phải là nhân viên của Công ty có nhiệm vụ, quyền
hạn như sau:
Giám sát sự chấp hành luật pháp của Công ty.
Xây dựng bộ máy kiểm toán nội bộ, kiểm tra, giám sát công việc của kiểm
toán viên nội bộ.
Giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính.
Đại diện Công ty mời kiểm toán viên độc lập và xác lập mối quan hệ với
các chủ thể kiểm toán bên ngoài.
kiểm soát các mặt hoạt động của đơn vị.Do đó, hệ thống kế toán là một bộ phận quan
trọng của kiểm soát nội bộ.Một hệ thống kế toán hữu hiệu sẽ đảm bảo các mục tiêu
tổng quát sau đây:
-Tính có thật: nghĩa là chỉ được ghi chép những nghiệp vụ có thực, không ghi
chép những nghiệp vụ giả tạo vào sổ sách của đơn vị.
-Sự phê chuẩn: trước khi thực hiện mọi hoạt động nghiệp vụ, đều phảI đảm
bảo rằng chúng đã được phê chuẩn hợp lệ.
-Tính đày đủ:Nghĩa là không được loại bỏ, giấu bớt để ngoài sổ sách về mọi
nghiệp vụ phát sinh.
-Sự đánh giá: Không để xảy ra những sai phạm trong tính toán, trong việc áp
dụng chính sách kế toán.
-Sự phân loại: Bảo đảm số liệu được phân loại đúng đắn theo sơ đồ tài khoản
của đơn vị, và ghi nhận đúng đắn các loạI sỏ sách kế toán có liên quan.
-Đúng hạn: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải đúng kỳ.
-Chuyển sổ và tổng hợp chính xác.
*Khi xem xét hệ thống kế toán kiểm toán viên cần nghiên cứu về:
-Chính sách kế toán là các nguyên lý, các cơ sở các quy ước,các luật lệ,và các
thủ tục được Ban giam đốc công nhận để soạn thảovà trình bày các báo cáo tàI chính
một cách trung thực về tình hình tàI chính của đơn vị.
-Hình thức kế toán là phương pháp tổ chức và phối hợp giữa các loại sổ sách
kế toán.
Sự nghiên cứu đó giúp cho kiểm toán viên tiếp cận hệ thống kế toán, để hiểu
về quá trình xử lý thông tin và đánh giá về quá trình kiểm soát nội bộ của đơn vị qua
các giai đoạn của một quá trình kế toán.
2.2.1 Lập chứng từ :Đây là giai đầu tiên và rất quan trọng vì số liệu kế toán chỉ
chính xác khi việc lập chứng từ nghiêm túc,nghĩa là việc lập chứng từ đày đủ, hợp lệ,
hợp pháp và phản ánh trung thực mọi nghiệp vụ phát sinh.
soát trực tiếp:
Kiểm soát để đảm bảo chứng từ và sổ sách là đầy đủ và việc ghi sổ là đúng
đắn:
+ Sổ sách là bộ phận quan trọng trên đó các nghiệp vụ kinh tế được phản ánh
và tổng hợp.
+ Chứng từ: Trong toàn đơn vị và với các đơn vị bên ngoài, chứng từ là minh
chứng pháp lí cho các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, chứng từ phải đầy đủ để cung cấp
sự đảm bảo hợp lí là tất cả các tài sản đã được kiểm soát đúng đắn và tất cả các
nghiệp vụ kinh tế được ghi sổ chính xác.
+Sơ đồ tài khoản: Là một công cụ kiểm soát quan trọng vì nó bao gồm hệ
thống các tài khoản sử dụng, qui trình hạch toán các nghiệp vụ giúp cho việc phân
loại đúng các nghiệp vụ, cho thấy sự vận động của luồng thông tin kế toán tại các bộ
phận và qui trình tổng hợp thông tin để lên các báo cáo.
+ Cẩm nang thủ tục: Là tài liệu hướng dẫn về các thủ tục, về thời hạn lập và
luân chuyển chứng từ trong toàn đơn vị, các hướng dẫn về việc ghi sổ và duy trì sự
kiểm soát đúng đắn đối với tài sản. Tài liệu này sẽ giúp kế toán viên ghi chép, hạch
toán theo những chuẩn mực kế toán, giúp những người có thẩm quyền thực hiện sự
kiểm soát và tạo điều kiện kiểm tra tương hỗ giữa những người, những bộ phận có
liên quan.
Kiểm soát vật chất đối với tài sản và sổ sách:
Kiểm soát vật chất để bảo vệ tài sản và sổ sách là sử dụng những biện pháp đề
phòng vật chất như việc xây dựng các nhà kho, các két sắt chịu lửa, để bảo vệ tiền tệ
cũng như chứng từ, sổ sách, trang bị hệ thống báo cháy, báo nổ, trang bị các máy tính
tiền, máy đếm tiền hay sử dụng một số loại
thiết bị xử lí dữ liệu tự động là những công cụ KSNB hữu ích đối với mục đích bảo
vệ tài sản, sổ sách.
Ngoài ra, việc hạn chế sự tiếp cận trực tiếp tài sản, sổ sách cũng là biện pháp
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm:
Sự cách li thích hợp về trách nhiệm là nguyên tắc cơ bản nhằm ngăn ngừa cả
sai phạm cố ý lẫn vô ý, tránh được các hành vi lạm dụng quyền hạn đồng thời cũng là
một biện pháp kiểm soát quan trọng (kiểm tra, kiểm soát giữa các bộ phận độc lập)
Ba sự cách li quan trọng nhất cần lưu ý:
Cách li quyền phê chuẩn nghiệp vụ với việc thực hiện nghiệp vụ kinh tế để
tránh sự lạm dụng quyền hạn sử dụng nguồn lực một cách tuỳ tiện.
Cách li việc bảo quản tài sản với kế toán: một người thực hiện cả hai chức
năng này sẽ có nhiều rủi ro là anh ta bán tài sản để thu lợi cá nhân rồi điều
chỉnh sổ sách để trốn tránh trách nhiệm, ví dụ người bảo quản tiền mặt và
ghi sổ tiền mặt, người ghi sổ vật tư và người bảo quản vật tư.
Cách li chức năng thực hiện nghiệp vụ và kiểm soát nghiệp vụ, có như vậy
chức năng kiểm soát mới có tác dụng và việc thực hiện nghiệp vụ mới
nghiêm túc.
Đảm bảo nguyên tắc bất kiêm nhiệm đã là thực hiện được một biện pháp kiểm
soát rất quan trọng, rủi ro xảy ra gian lận, sai sót đã giảm đi đáng kể. Vì thế trong
điều 9, Điều lệ tổ chức kế toán nhà nước qui định: “Cán bộ kế toán ở các đơn vị quốc
doanh, công tư hợp doanh, hợp tác xã và các đơn vị có sử dụng kinh phí của nhà
nước hoặc đoàn thể không được kiêm nhiệm làm thủ kho, thủ quĩ, tiếp liệu và công
tác phụ trách vật chất khác”
+ Nguyên tắc uỷ quyền, phê chuẩn.
Nhà quản lí không thể và cũng không nên trực tiếp quyết định mọi vấn đề mà
nên có sự phân công nhiệm vụ đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu
quả, mặt khác đảm bảo cho nhà quản lí có thể tổng quan kiểm soát được mọi hoạt
động. Nhưng muốn vậy, tất cả các nghiệp vụ kinh tế phải được phê chuẩn đúng đắn
bởi nhà quản lí hoặc người được uỷ quyền. Bởi nếu bất cứ ai trong tổ chức đều có thể
mua bán tài sản tuỳ tiện thì sự hỗn độn và phức tạp sẽ xảy ra dẫn đến lãng phí hoặc
hoặc giữa các nhân viên trong doanh nghiệp.
-Các thủ tục kiểm soát có thể không còn phù hợp vì đIều kiện thực tế đã thay đổi…
4 Mục tiêu của hệ thống KSNB
Có bảy mục tiêu chi tiết mà một cấu trúc KSNB phải thõa mãn để ngăn ngừa
sai sót trong sổ sách. Hệ thống KSNB phải đầy đủ để cung cấp sự đảm bảo hợp lí là:
1. Các nghiệp vụ kinh tế ghi sổ phải có căn cứ hợp lí (tính hiệu lực). Hệ thống
KSNB không thể cho phép việc ghi vào sổ những nghiệp vụ không tồn tại hoặc
những nghiệp vụ giả vào sổ sách kế toán.
2. Các nghiệp vụ kinh tế phải được phê chuẩn đúng đắn (sự phê chuẩn), tránh
làm lãng phí, phá hoại hoặc mất mát tài sản của công ty.
3. Các nghiệp vụ kinh tế phải được ghi sổ đầy đủ (tính đầy đủ hay trọn vẹn).
Các biện pháp, thủ tục kiểm soát phải ngăn ngừa sự gạt bỏ các nghiệp vụ kinh tế ra
ngoài sổ sách.
4. Các nghiệp vụ kinh tế phải được đánh giá đúng đắn (sự đánh giá). Một cơ
cấu KSNB đầy đủ gồm các thể thức để tránh các sai số khi tính toán và ghi sổ.
5. Các nghiệp vụ kinh tế phải được phân loại đúng đắn (sự phân loại) đảm bảo
các khoản mục trong báo cáo tài chính được trình bày đúng đắn.
6. Các nghiệp vụ kinh tế phải được phản ánh đúng thời kì (tính thời kì):
nghiệp vụ kinh tế xảy ra ở kì nào phải được ghi sổ đúng ở kì đó đảm bảo nguyên tắc
phù hợp.
7. Các nghiệp vụ được ghi sổ, chuyển sổ và tổng hợp đúng đắn.
III. KSNB đối với một số khoản mục trọng yếu.
1 KSNB đối với vốn bằng tiền.
Vốn bằng tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển.
a) Tiền mặt bao gồm các khoản tiền Việt Nam (kể cả ngân phiếu), ngoại tệ,
vàng bạc, kim khí quí, đá quí của doanh nghiệp tại quĩ.
Uỷ quyền: ngoài trách nhiệm của chủ tài khoản, có thể uỷ quyền cho một hoặc
hai người để duyệt chi. Việc uỷ quyền là bắt buộc phòng khi chủ tài khoản đi vắng,
cũng là để chia sẻ công việc với chủ tài khoản, nhưng cũng không được uỷ quyền quá
rộng rãi, có thể uỷ quyền cho Phó giám đốc tài chính hoặc Kế toán trưởng hoặc cả
hai có phân cấp duyệt chi theo mức chi.
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: đối với vốn bằng tiền thì cách li trách nhiệm là vô
cùng quan trọng để ngăn ngừa sai phạm:
Cách li giữa thủ quĩ và kế toán.
Cách li giữa người duyệt chi với người thực hiện các khoản chi, giữa người
được kí phát hành séc với người chi tiêu.
Cách li giữa người ghi sổ với người kiểm soát thu, chi.
Ba là: Biện pháp kiểm soát vật chất đối với tiền mặt: trang bị các két sắt an
toàn để giữ an toàn để giữ tiền mặt, ngân phiếu , trang bị các máy tính tiền cũng là
một biện pháp kiểm soát để bảo vệ tiền mặt.
Bốn là: Đối với kế toán:
Nguyên tắc cơ bản là phải cập nhật, hàng ngày kế toán và thủ quĩ phải ghi sổ
các nghiệp vụ tiền mặt phát sinh đồng thời phải đối chiếu với nhau.
Phải ghi sổ chi tiết cho từng loại tiền, từng loại quĩ.
Kết hợp ghi sổ đơn (nhật kí thu, chi) với ghi sổ kép.
Phải đối chiếu thường xuyên đề phòng những chênh lệch phát sinh.
Lập danh sách hoá đơn thu tiền tại thời điểm và nơi nhận tiền.
Năm là: Công tác quản lí:
-Hạn chế lượng tiền tại két ;
-Hạn chế đến mức tối thiểu các đầu mối thu, chi tiền mặt.
-Hạn chế lưu giữ tiền mặt ở nhiều địa điểm khác nhau để đảm bảo an toàn cho
- Kiểm soát độc lập các nghiệp vụ thu
Các khoản chiết khấu tiền
mặt đã được phê chuẩn
“Phê chuẩn”
-Một chính sách chiết khấu tiền mặt phải được tồn tại.
- Sự phê chuẩn các khoản chiết khấu tiền mặt.
Tất cả các nghiệp vụ liên
quanđến tiền mặt nhận
được đều được ghi sổ
“Tính đầy đủ”
-Cách li trách nhiệm giữa quản lí tiền mặt với sổ sách.
-Sử dụng các thư báo tiền gửi hoặc các bảng kê trước
tiền mặt
Các khoản thu tiền mặt
được ghi sổ theo số tiền
nhận được
“Sự đánh giá”
-Giống mục tiêu trên.
Các khoản thu tiền mặt
được phân loại đúng đắn
“Phân loại”
-Sử dụng một sơ đồ tài khoản
-Xem xét lại và kiểm tra nội bộ.
Các khoản thu tiền mặt
được ghi sổ theo căn cứ
thời gian.
“Đúng hạn”
-Qui định thể thức ghi sổ các nghiệp vụ thu tiền mặt hàng
ngày.
-Kiểm tra nội bộ
-Cách li trách nhiệm giữa người duyệt chi và người thực
hiện chi.
-Kiểm soát độc lập nghiệp vụ chi.
Các khoản chi tiền mặt đã
được phê chuẩn
“Sự phê chuẩn”
-Một chính sách qui định cấp phê chuẩn.
-Sự phê chuẩn các khoản theo qui định.
Các khoản chi tiền mặt
được ghi sổ đầy đủ.
“Tính đầy đủ”
-Cách li trách nhiệm ghi sổ và quản lí tiền.
-Kiểm tra nội bộ việc ghi sổ.
Các khoản chi tiền mặt
được ghi sổ theo đúng số
tiền thực tế chi ra trong các
nghiệp vụ
“Sự đánh giá”
-Cách li trách nhiệm ghi sổ và quản lí tiền.
-Cách li giữa người duyệt chi và người thực hiện chi.
-Kiểm tra độc lập việc thực hiện.
Các khoản chi tiền mặt
được phân loại đúng đắn
“Sự phân loại ”
-Sử dụng 1 sơ đồ tài khoản.
TSCĐ bao gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.
TSCĐ hữu hình bao gồm nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện
vận tải, truyền dẫn, thiết bị, dụng cụ quản lí, cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản
phẩm và TSCĐ khác.
TSCĐ vô hình bao gồm quyền sử dụng đất; chi phí thành lập doanh nghiệp;
bằng phát minh, sáng chế; chi phí nghiên cứu, phát triển, chi phí về lợi thế thương
mại và TSCĐ vô hình khác.
Giá trị TSCĐ thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
Tuy nhiên do số lượng TSCĐ không nhiều, các nghiệp vụ tăng giảm phát sinh ít
trong 1 năm nên việc KSNB chủ yếu nhằm vào mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng
và đầu tư TSCĐ.
Ngoài ra, KSNB phải giúp xác định chính xác các chi phí cấu thành nguyên
giá TSCĐ, chi phí sửa chữa, chi phí khấu hao tài sản do sai sót trong việc xác định
các chi phí này có thể dẫn đến sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính. Chẳng hạn nếu
không phân biệt những chi phí nào sẽ làm tăng nguyên giá TSCĐ hay đưa vào chi phí
niên độ sẽ làm cho khoản mục TSCĐ và chi phí niên độ bị sai lệch. Hoặc nếu không
có qui định chặt chẽ liên quan đến việc mua sắm, bảo dưỡng, thanh lí tài sản thì chi
phí phát sinh có thể sẽ lớn hơn nhiều so với thực tế.
Các công cụ kiểm soát TSCĐ bao gồm:
Một là: Kế hoạch và dự toán TSCĐ: Các Công ty hàng năm phải lập kế hoạch
và dự toán ngân sách cho TSCĐ. Trong kế hoạch này, người ta vạch ra những vấn đề
có liên quan đến việc đầu tư, mua sắm, thanh lí, nhượng bán TSCĐ và các nguồn vốn
tài trợ cho việc đầu tư, mua sắm đó.
Kế hoạch và dự toán TSCĐ là một công cụ quan trọng trong KSNB đối với
TSCĐ. Kế hoạch này là cơ sở để xây dựng kế hoạch sản xuất, kế hoạch tài chính của
đơn vị.