TIỂU LUẬN:
Quản lý nhà nước về thương
hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam
L ỜI M Ở ĐẦU.
Thương hiệu là vấn đề mà không chỉ các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay quan
tâm, nó còn được cả xã hội quan tâm. Nó là yếu tố tất yếu mà giúp cho các doanh
nghiệp thành công trong kinh doanh, thu lại hiệu qủa cao cho các chủ doanh
nghiệp.
1.1 .Khái niệm về thương hiệu.
Thương có nghĩa là kinh doanh buôn bán, thuộc sở hữu củ ai đó mà cụ thể là
doanh nghiệp.
Hiệu có nghĩa là ký hiệu của một doanh nghiệp trên thưong trường.
Thương hiệu có nghĩa là một sản phẩm hay đặc trưng của một sản phẩm cụ thể nào
đó dùng để nhận biết hoặc phân biệt với sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh
tranh. Thương hiệu còn có nghĩa là một tên thương mại hay một nhãn hiệu.
1.2. Sự khác nhau giữa thương hiệu và nhãn hiệu.
Nhãn hiệu là tên hay các biểu tượng dùng để phân biệt hàng hóa đuợc sản xuất
hoặc phân phối của một doanh nghiệp với hàng hóa được sản xuất hay phân phối
của đối thủ cạnh tranh. Nhãn hiệu đuợc chính thức đăng ký thì đuợc pháp luật bảo
vệ và vì vậy được gọi là nhãn hiệu đăng ký.
Vậy đôi khi một số tính chất của thương hiệu cũng nằm trong nhãn hiệu như: nó
là một tên, nói về một sản phẩm của hay dịch vụ .
Một số các nhà kinh tế khác cho rằng: “Phillip Kotler(1997)” thương hiệu là nhãn
hiệu được đăng ký , việc đăng ký nhãn hiệu làm cho nó trở thành thương hiệu hay
dịch vụ hiệu cho người sở hữu quyền duy nhất được sử dụng nó.
Còn theo Gilbert A.Cherchill, thương hiệu là nhãn hiệu đuợc cho một danh phận
pháp lý bằng cách đăng ký với cơ quan có thẩm quyền của chính phủ’.
Trong một số tài liệu về luật thì thượng hiệu được định nghĩa một cách cụ thể hơn
là: bất kỳ một ký hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một doanh
nghiệp này với doanh nghiệp khác đều có thể trở thành thương hiệu”.
Vậy thương hiệu và nhãn hiệu khác nhau chủ yếu ở chỗ: chủ thể của luật về quyền
sở hữu trí tuệ thuộc về nhãn hiệu, nhưng không phải là thương hiệu.
Đăng kí là thuộc về nhãn hiệu chứ không thuộc thương hiệu.Thể hiện uy tín, danh
tăng tích lũy từ đó có nhiều điều kiện hơn cho việc mở rộng quy mô sản xuất cả số
lượng và chất lượng. Từ những khoản lợi nhuận đó còn là khoản tiền vô cùng ý
nghĩa cho doanh nghiệp thay đổi công nghệ, áp dụng ngày càng nhiều công nghệ
hiện đại sản phẩm tạo ra ngày càng hoàn thiện và đáp ứng được cao hơn nhu cầu
của người tiêu dùng. Chính tầm quan trọng của thương hiệu đã làm cho nhiều
doanh nghiệp ăn cắp thương hiệu của các đối thủ cạnh tranh nhằm thu được ngày
càng nhiều hơn lợi nhuận mà không phải mất chi phí để tạo ra nó. Từ đó cần có sự
quản lý của nhà nước trong vấn đề này để tránh tình trạng ăn cắp thương hiệu lẫn
nhau của các công ty kinh doanh trên cùng một loại sản phẩm.
2.2. Vai trò của thương hiệu.
- Đối với người tiêu dùng.
+thương hiệu giúp khách hàng nhanh chóng phân biệt được hàng hóa cần mua
trong hàng vạn hàng hóa có cùng loại khác, góp phần xác định được nguồn gốc
của nó.Mỗi hàng hóa do một nhà cung cấp khác nhau, vì thế thông qua thương
hiệu người tiêu dùng có thể nhận dạng dễ dàng hàng hóa và dịch vụ của từng nhà
cung cấp.Khi thương hiệu của doanh nghiệp đã được khẳng định thì khách hàng
của họ hoàn toàn yên tâm về chất lượng hàng hóa, những dịch vụ kèm theo và thái
độ cư xử của nhà cung cấp với các sự cố xảy ra đối với hàng hóa, dịch vụ.
- Đối với doanh nghiệp.
+Thương hiệu tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí người
tiêu dùng.Ngưòi tiêu dùng sẽ lựa chọn hàng hóa thông qua sự cảm nhận của mình.
Khi một hàng hóa có thương hiệu lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường, nó hoàn
toàn chưa có một hình ảnh nào trong tâm trí những người tiêu dùng.Những kết cấu
hình dáng, kích thước, màu sắc…Qua thời gian, bằng kinh nghiệm sử dụng và
những thông điệp mà thương hiệu truyền tải đến người tiêu dùng, vị trí và hình
ảnh của hàng hóa được định vị dần trong tâm trí người tiêu dùng.
-Nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp làm ăn chân chính, đang và
đã ngày càng mở rộng thị trường và thu được lợi nhuận cao.
-Tăng cường và thúc đẩy hơn nữa cho các doanh nghiệp về tầm quan trọng của
thương hiệu đến sự thành bại của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam
nói chung.
-Tránh tình trạng vi phạm bản quyền thương hiệu, không để tình trạng bất công
bằng trong môi trường kinh doanh.
4. Nội dung của quản lý nhà nước về thương hiệu và nhiệm vụ.
Nội dung của quản lý bao gồm quản lý các doanh nghiệp trong vấn đề nhãn hiệu
đăng kí bản quyền trí tuệ về thương hiệu là quảnlý tất cả các mặt, các ngành nghề
như công nghiệp vận tải, du lịch…trong những lĩnh vực đó lại bao gồm quản lý về
nhãn hiệu, đăng kí bản quyền sở hữu trí tuệ, kiểu dáng công nghiệp, xử lý những
sai phạm đối với những cơ sở sản xuất vi phạm bản quyền của các doanh nghiệp
khác bên cạnh đó còn phải quản lý tài sản của các thương hiệu của các sản phẩm
để dễ dàng hơn trong công tác giúp các doanh nghiệp cổ phần hóa, sát nhập hay
tách công ty, xác định vị thế của doanh nghiệp và sức cạnh tranh, mua bán thương
hiệu.
II. TH ỰC TR ẠNG QU ẢN L Ý NH À N ƯỚC ĐỐI VỚI THƯƠNG HIỆU
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM.
1. Thực trạng
1.1. Những điều đáng mừng.
-Trước sự phát triển không ngừng trong nền kinh tế của các nước. Sự tràn ngập thị
trường Việt Nam những sản phẩm mang nhãn mác nước ngoài. Từ đó Nhà nước
đã thay đổi quan điểm trong quản lý và đã quan tâm không ngừng đến các doanh
nghiệp trong việc khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu cho chính
doanh nghiệp của họ.Bằng một loạt các chính sách mới, cùng với sự quan tâm sâu
sắc hơn của ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong việc khuyến khích các doanh
nghiệp xây dựng thương hiệu cho sản phẩm: cụ thể là liên tục các cuộc thăm hỏi,
hội nghị đã được diễn ra giưã Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng các ban ngành
triển, đến nay nó đã trở thành một thương hiệu phát triển và có uy tín trên thị
trường, ngoài việc sản xuất các mặt hàng truyền thống công ty còn sản xuất thêm
cả nước hoa và mỹ phẩm từ các nguyên liệu trong nước, sản xuất nước tinh khiết,
kinh doanh dược phẩm chế biến, lưu thông trang thiết bị y té, hóa chất xét nghiệm
và sản xuất thuốc. Nếu như năm 2001, doanh thu là 355,513 tỉ đồng. trong đó,
doanh thu từ sản xuất 69 tỉ đồng thì đến năm 2005 đã lên tới 569,380 tỉ đồng,
doanh thu từ sản xuất đạt 258,884 tỉ đồng.Mặt hàng sản xuất ngày càng mở rộng.
Trong giai đoạn từ 2001-2005, tổng lợi nhuận đã tăng từ 13,2 tỉ đồng lên 45,159 tỉ
đồng. thu nhập bình quân hàng tháng của người lao động năm 2001 là 2,174 triệu
đồng đã tăng lên 4.45% triệu đồng vào năm 2005. Trong giai đoạn 2001-2005, sản
phẩm của công ty đã kiêntục được người tiêu dùng tín nhiệm, bình chọn là hàng
Việt Nam chất lượng cao, đoạn cup topten thương hiệu Việt, giải thưởng sao vàng
đất Việt, công ty đã đạt 37 huy chương vàng, 2 huy chương bạc và 1 giải vàng về
giải thưởng khác do các bộ, ban, ngành… Các doanh nghiệp đã nhận
thức được tầm quan trọng của việc xây dựng thương hiệu. Từ việc nhận thức được
tầm quan trọng của thương hiệu và mối liện hệ giữa các thương hiệu đã được
khẳng định và có uy tín trên thị trường thì các doanh nghiệp đã tận dụng các lợi
thế này cho việc mở rộng thêm các lĩnh vực sản phẩm không chỉ có liên quan mà
đôi khi là không liên quan đến nhau nhưng nhờ thương hiệu của hàng hóa trước đó
mà sản phẩm sau cũng được lợi theo và lợi cho cả doanh nghiệp làm ra nó.
-Ngoài gặp mặt trò chuyện khuyến khích mang tính lý thuyết mà bằng hành động
cụ thể Nhà Nước ta đã tổ chức ra một cuộc trao giải hàng năm cho các doanh
nghiệp có thương hiệu sản phẩm nổi tiếng bằng chương triìn “Sao Vàng Đất Việt”
một giải thưởng cao quý mà chưa bao giờ các doanh nghiệp được trao giải và được
tôn vinh, nó đã khuyến khích các doanh nghiệp không ngừng thi đua trong việc tạo
ra các thương hiệu nổi tiếng quốc gia.Gelimex là một trong những ví dụ điển hình.
Khi nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu đối với doanh nghiệp mình
thế nào, Công ty luôn nỗ lực và bằng sự phấn đấu của toàn bộ cán bộ công ty về
công nghệ, chất lượng, kiểu dáng, giá thành sản phẩm, và khả năng đáp ứng tốt
doanh của các doanh nghiệp nước ngoài, liên doanh, sẽ đẩy nhanh được sự phát
triển cũng như sự minh bạch hóa trong các chính sách, cơ chế, nâng cao trí thức
cũng như tầm nhìn cho các doanh nghiệp này.
1.2. Hạn chế.
Bên cạnh những thành tựu đó nhà nước còn gặp phải một số hạn chế trong quá
trình quản lý như là:
- Mặc dù đã có những cố gắng trong việc cải thiện chính sách cũng như sự quan
tâm nhưng những thành tựu thu được là chưa cao hoặc chưa có kết quả gì cả, khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp việt nam vẫn không đươc cải thiện, điều
này chứng tỏ chính sách đưa ra còn chưa phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của
các doanh nghiệp.Tính phức tạp của các chính sách là chưa được điểu chỉnh,
Trong khi đó Việt Nam chưa sử dụng công nghệ tiên tiến và chưa được nhà nước
quan tâm toàn diện.
+ Theo điều tra của phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam về năng lực cạnh
tranh và xuất khẩu của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ở Việt Nam chỉ có
23.8 % doanh nghiệp có hàng xuất khẩu, 13.7% doanh nghiệp có triển vọng xuất
khẩu , 62.5% doanh nghiệp hoàn toàn không có khả năng xuất khẩu. Nó là do:
- Năng xuất lao động chưa cao.
-Chất lượng và tính độc đáo của sản phẩm còn thấp.
- Trình độ công nghệ hạn chế.
-Thị trường đầu ra cho sản phẩm còn chưa ổn định.
-Chí phí đầu vào cao, gía cả không cạnh tranh đuợc với hàng nhập khẩu.
Bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh của VN theo xếp hạng của WEF.
Vị trí của VN chưa bao giờ thoát khỏi vị trí số 20.
Năm Xếp hạng.
1997 49/53
1998 43/53
lại không được nhà nứơc quản lý một cách sát sao, và nhanh chóng xử lý ví dụ
như: Công ty bánh kẹo “Hải Hà” đã và đang tạo dựng được thương hiệu kẹo nổi
tiếng được nguời tiêu dùng ư chuộng với mẫu mã đẹp, chất lượng sản phẩm cao
rất ngon, mà giá lại rẻ. Mất nhiều công nghiên cứu và chi phí cho hàng loạt các
công nghệ sản xuất đó và vui mừng với thành công mới này thì doanh nghiệp sản
xuất bánh kẹo “Hacco” cũng nhái lại sản phẩm này cả về chất lượng kẹo lẫn kiểu
dáng vỏ, chỉ thay đổi lôgo của công ty và nhãn tên công ty này. Sau vụ kiện vi
phạm bản quyền này các nhà quan chức về tòa án chỉ cảnh cáo và phạt tài chính
với số tiền vô cùng nhỏ. Rất nhỏ so với số lợi nhuận mà Hacco thu được từ việc vi
phạm bản quyền này.
Lại một trường hợp vi phạm bản quyền về kiểu dáng công nghiệp nữa là “xe máy”
công ty xe máy Honda đang bị nhái kiểu dáng công nghiệp ở quy mô rộng mà
nhiều vụ việc vẫn chưa phát hiện và xử phạt được hết, Không chỉ Honda mà còn
cả công ty xe máy Future, Dream, Wave… cũng đang bị vi phạm nghiêm trọng
kiểu dáng công nghiệp bằng các ký hiệu nhìn qua thì rất khó phát hiện như:
HDNOA với Honda. Hay là việc gián tem giả trên nhán hiệu Honda, nhiều trưòng
hợp vi phạm kiểu dáng công nghiệp khi bị kiểm tra phát hiện thì lại đổ lỗi cho nhà
kinh doanh tự ý thay thé chứ không phải do cơ sở sản xuất, điều này không những
ngây khó khăn cho nguời tiêu dùng mà còn dễ dàng qua mắt các nhà kiểm tra kiểm
soát. Việc làm còn tinh vi hơn là họ sản xuất ở những điểm nhỏ lẻ, khác nhau dễ
tung ra thị trường bán lẻ. Hay việc nộp đơn tra cứu đăng kí mẫu xe ở cục SHTT,
cục đăng kiểm khác với mẫu xe được sản xuất và đưa vào lưu thông trên thực tế.
Giá trị hàng hóa rẻ hay không không quan trọng, quan trọng là có thể làm nhái
được từ kẹo cho đến xe máy, rồi cả đối với thức ăn cho lợn cũng bị vi phạm bản
quyền, rồi đạm cho cây…
-Hình phạt đối với các doanh nghiệp vi phạm bản quyền mà nhà nước đưa ra là
quá thấp so với những khoản lợi mà các doanh nghiệp thu được từ việc vi phạm
đó, do không có một sự điều tra kỹ lưỡng nào về các hình phạt nên đưa ra trong
sắc văn hóa” để phục vụ cho thị trưòng tiêu dùng quốc tế, nghĩa là buộc họ phải
theo cái gu thẩm mỹ yếu kém của ta, dư luân đôi khi vẫn kỳ thị với sự phá cách
của thế hệ 8x mà trong đó ít nhiều các bạn trẻ này, với tư duy phóng khoáng, họ
đang trải nghiệm những khám phá phong cách đương đại củ văn hóa thời trang
quốc tế. Không ai hiểu được chữ “Cool” để làm ra những sản phẩm thời trang
“cool” thật sự, những cái tên thương hiệu “cool’ thực sự bị coi là ngoại lai trong
khi bản thân sứ mệnh của các thương hiệu này là chinh phục thị trường thế giới,
với vị thế của một nước nhỏ về của khu vực châu á rộng lớn, Việt Nam có nhiều
nét tương đồng với Italy của châu Âu. Trong lĩnh vực xuất khẩu thương hiệu thời
trang Việt Nam rất cần có được năng lực tư duy và sáng tạo như người ý để vượt
qua được những rào cảnlà các đối thủ ở Châu Á và dẫn đầu bằng “thương hiệu và
thời trang” chứ không phải tiếp tục làm thuê gia công với thu nhập lao động rẻ
mạt.Các giải thưởng mà bộ tặng cho các doanh nghiệp xuất khẩu chỉ dựa trên “số
lượng xuất khẩu” đơn thuần kể cả xuất thô và xuất gia công. Chưa có một tiêu chí
nào rõ ràng để khuyến khích xuất khẩu hàng hóa mang thương hiệu Việt Nam, bởi
không có chi phí và nỗ lực nào quan trọng và mang lại hiệu quả bền vững hơn là
nỗ lực xác lập thương hiệu ngay tại các thị trường đích, nơi mà thương hiệu Việt
Nam chỉ là chàng Davis đối mặt với những gã khổng lồ Goliath. nếu chúng ta có
riêng một cơ chế hấp dẫn dành cho thươnghiệu Việt Nam, thì doanh nghiệp cũng
phấn khởi và nỗ lực đầu tư thương hiệu Việt của họ được xã hội tôn vinh và một
phần nào bù đắp chi phí cho xây dựng thưong hiệu, thay vì chỉ chạy theo con số
“doanh số xuất khẩu gia công” rỗng tuếch.
+ Tên thương hiệu Việt nam không nhất thiết phải là thuần Việt. Trong khi Hàn
Quốc và Trung Quốc có những nhãn hiệu như Debon, LG, Lenono…nhận lĩnh Sứ
mệnh chinh phục thị trường quốc tế, tinh thần dân tộc được hòa lẫn và ẩn dấu bên
trong những phong cách phá cách thời thượng mang tính hội nhập xuất hiện bên
ngoài để chinh phục người tiêu dùng quốc tế. Tinh thần quốc tế hay sứ mệnh quốc
tế là những tiêu trí mà các thươnghiệu này, dẫn đầu Sony được xác lập cao hơn
tinh thần dân tộc ẩn chứa bên trong thương hiệu, “sứ mệnh đa quốc gia”.
tranh và sau đó là tìm ra một cá tính đặc trưng và phù hợp thống nhất với công ty
và thị trường. Những công việc này đòi hỏi cần cân nhắc rất kỹ lưỡng khi ra quyết
định.
+ Sức hấp dẫn từ thu nhập cao. Những con số thống kê cho thấy từ nhiều nguồn
khác nhau đều thấy mức lương trả cho những GĐTH, mức lương có thể khác nhau
và là niềm ước mơ của nhiều người vói mức lương này là tất nhiên còn phụ thuộc
vào những yêu tố như kinh nghiệm, trình độ của ứng viên, bản thân công ty và môi
trường làm việc của mỗi quốc gia.Theo thông kê ở Mỹ cho thấy mức lương trả cho
những giám đốc Marketing không hề nhỏ với mức lương bình quân của GĐTH là
88.838 USD/ năm. Con số tối thiểu một GĐTT nhận được là 40.000 USD/ năm.
Còn theo con số thống kê của www.about.com thì mức lương bình quân của năm
của GĐTT là 76.100 USD/ năm. Trên 50% GĐTT có thu nhập khoảng từ 65.597
tới 87.169 USD/năm, trợ lý giám đốc vào khoảng 40000-60000 USD so với mức
lương của giám đốc.
ở VN thì dù cho ngưòi giám đốc vẫn chưa cóthu nhập cao bằng với thu nhập của
nứơc ngoài trong cùng lĩnh vực thì nó cũng là một trong những nghề đựơc trả
lương cao nhất trong giới nhân sự cao cấp. Cụ thể là có khoảng từ 24000
USD/năm - 36.000USD/năm, còn mức phổ biến dừng lại ở 6000 – 18000
USD/năm. mặc dù là có mưc lương hấp dẫn nhưng VN vẫn chưa thực sự có nhiều
nhà marketing nổi tiếng và giỏi trong lĩnh vực, chính vì vậy đã gây ra những khó
khăn cho doanh nghiệp trong việc phát triển chiến lược của công ty, có khi là các
doanh nghiệp đang cần người có năng lực nhưng lại không đủ tài chính chi trả cho
mức lương cao vì các công ty nước ngoài đã chớp lấy cơ hội này vì họ trả với giá
cao hơn, nguồn nhân lực thì phong phú nhưng lại chưa thể đáp ứng được nhu cầu
của sự phát triển nên ở nứoc ta xảy ra tình trạng thất nghiệp thì cứ thất nghiệp,
người thì làm không hết việc.
Điều này là do các nhà lãnh đạo chưa thực sự có các mối liên hệ cũng như việc tạo
ra các mối quan hệ đào tạo cán bộ nhân viên cho cả nhà nước và doanh nghiệp là
chưa đạt được gì nhiều, lĩnh vực liên kết với nước ngoài trong việc gửi nhân viên
-Hệ thống các cơ quan quản lý về thương hiệu chưa có một phương pháp quản lý
thống nhất nào giữa các cấp, cơ sở, ngành dẫn đến tình trạng vi phạm bản quyền
thương hiệu của các doanh nghiệp ngày càng có nhiều tình trạng vi phạm bản
quyền.
-Liên kết với nước ngoài trong việc gửi cán bộ đi học với học bổng là chưa có
nhiều.
4. Nguyên nhân của những hạn chế.
4.1. Nguyên nhân từ phía nhà nước.
- Các doanh nghiệp còn nhận thức được rõ vai trò của thương hiệu đối với sự phát
triển của doanh nghiệp trước những thách thức một phần là do chính doanh nghiệp
một phần khác nữa là chưa có sự quan tâm đồng bộ, bình đẳng giữa các doanh
nghiệp vừa và nhỏ của nhà nước trong quá trình tuyên truyền, khấy lên phong trào
tạo dựng thương hiệu doanh nghiệp cho chính doanh nghiệp họ.
- Các doanh nghiệp một số vấn tiếp tục tình trạng vi phạm bản quyền vì nhà nước
thực sự chưa có những hình phạt thích đáng, hình phạt về tài chính còn là quá nhỏ
so với lợi nhuận thu được từ việc vi phạm đó.
-Hệ thống luật pháp còn chưa rõ ràng minh bạch trong việc xét xử những vụ vi
phạm này, ngày càng nhiều càng vụ vi phạm xảy ra đó còn là do nhiều cơ quan
công chức lợi dụng quyền hành tham ô bênh vực, tiếp tay cho các công ty đó tiếp
tục vi phạm mà sau đó không bị sử phạt.
4.2. Nguyên nhân từ phía doanh nghiệp.
-Hiểu được thương hiệu là một vấn đề quan trọng nhưng để xây dựng nó trở thành
một thương hiệu nổi tiếng hay chỉ là người tiêu dùng biết đến thì quả là không đơn
giản một chút nào cả như: nhiều doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo ngọt ở Hà Nội
chất lượng sản phẩm rất ngon không thua kém gì những thương hiệu bánh kem nổi
tiếng nhưng sản phẩm được sản xuất ra thì chưa bán được nhiều mà lại còn với giá
rẻ đó là do doanh nghiệp chưa xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp mình và
đành phải sản xuất gia công còn sử dụng nhãn mắc của các xí nghiệp nổi tiếng
khác bán cho với mức giá cao hơn rất nhiều mà còn không kịp sản xuất, đã có
nhiều doanh nghiệp cung đã có đầu tư cho phát triển thương hiệu nhưng chỉ mang
phải chựu khi vi phạm bản quyền thương hiệu. Yếu tố chủ quan, khinh thường
pháp luật là vẫn còn nhiều vì nếu có bị phát hiện thì chúng chẳng mất gì nhiều so
với những gì họ thu được từ việc vi phạm này. - Nhiều doanh nghiệp Việt Nam
hiện nay nếu được hỏi là thương hiệu của anh giá bao nhiêu tiền thì họ đều ngấp
ngứ trả lời rằng: “cái này chưa đánh gía được hoặc chưa bao giờ nghĩ đến câu hỏi
này”, nếu hỏi các doanh nghiệp nước ngoài thì chớp mắt cũng trả lời được. Thập
trí hiện nay nhiều doanh nghiệp còn chưa có bộ phận quản lý và phát triển thương
hiệu.Thương hiệu chính là tài sản vô hình mà không có sự quan tâm củ doanh
nghiệp đối vói tài sản vô hình và chưa tự tin vào giá trị gia tăng do thương hiệu tạo
ra của doanh nghiệp Việt thì đã cản trở việc đầu tư cho xây dựng và phát triển
thuơng hiệu. Nó giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều khách hàng mới, phân phối
sản phẩm dễ hơn, thuận lợi cho việc triểnkhai tiếp thị xâm nhập vào thị trường
mới.
-Nhiều doanh nghiệp đã ra sức phát triển thương hiệu của mình vì họ đã nhận thức
được nó có tầm quan trọng như thế nào trong thành công của doanh nghiệp. Mục
đích của các nhà kinh doanh là thu đuợc lợi nhuận cao, nếu thu được lợi nhuận
siêu ngạch thì họ càng muốn và thưong hiệu chính là điều mang lại cho công ty lợi
nhuận siêu ngạch, không chỉ nhờ vào công nghệ nữa.
-Các hình thức mua lại thương hiệu, hay kinh doanh nhờ trên các thươnghiệu khác
còn chưa phổ biến giữa các doanh nghiệp.
-Nhiều doanh nghiệp thường quên lãng đi hình thức bán hàng ở nước ngoài hay
chính là hình thức xuất khẩu ra nước ngoài trong việc mở rộng thị phần của doanh
nghiệp, nhất là việc quảng bá thương hiệu qua các kiều bào ở nứơc ngoài.
- Chưa biết tận dụng một cách tối đa những nguồn lực sẵn có từ những thương
hiệu trước đó mà doanh nghiệp đã xây dựng được.
-Chưa có đội ngũ nhân viên marketing thực sự am hiểu, có khả năng phân thích
được nhu cầu của khách hàng, cũng như việc nhiều doanh nghiệp còn chưa chựu
đầu tư cho việc sáng chế ra các mẫu mã, kiểu dáng mầu sắc và chất lượng theo yêu
rẻ hơn. Mà không thể thay đổi hoặc chưa kịp thay đổi hình thức tạo ra thương
hiệu cho doanh nghiệp mình.với tình trạng hiện nay cứ tiếp diễn thì e rằng là các
doanh nghiệp VN sẽ không thể cạnh tranh được với các sản phẩm của nước ngoài
nhất là sản phẩm của Trung Quốc vì giá của họ quá rẻ, sau khi ra nhập WTO thì
giá của những mặt hàng TQ còn rẻ nữa và liệu sau 12 năm chuẩn bị cho quá trình
hội nhập thì có kịp không nếu như tầm nhìn của chúng ta còn qúa hẹp.chính vì vậy
doanh nghiệp VN cần nhanh chóng đi vào kinh doanh cung cấp thêm các sản
phẩm dịch vụ kèm theo mà hàng TQ không có thì chúng ta mới tồn tại và phát
triển được.
III. GIẢI PH ÁP
1. Giải pháp từ phía nhà nước.
-Nhà nước cần có những chính sách chặt chẽ hơn trong vấn đề quản lý thương
hiệu của các doanh nghiệp cũng như việc đăng kí sử dụng của các doanh nghiệp.
-Nó những hình phạt thích đáng cho các doanh ghiệp vi phạm bản quyền thương
hiệu của các doanh khác. Nhà nước cần tính ký các chi phí mà doanh nghiệp phải
bỏ ra với doanh thu nó thu được từ việc vi phạm bản quyền của thương hiệu khác
mà có những hình phạt về hành chính lớn hơn mà doanh thu doanh nghiệp thu
đuợc từ việc vi phạm đó.
-Xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện, chặt chẽ cho việc chống hàng giả, hàng
nhái, tình trạng vi phạm bản quyền. để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp làm ăn
chân chính ngày càng có cơ hội phát triển, mở rộng sản sản phẩm.
-Thường xuyên tổ chức các cuộc thi về thương hiệu của các doanh nghiệp, có lễ
trao giải hàng quý hàng năm cho các doanh nghiệp nhằm khuyết khích hơn các
doanh nghiệp trong nỗ lực kinh doanh và phát triển thương hiệu của chính mình
vừa thuận lợi cho doanh nghiệp, nó còn thuận lợi cho cả người tiều dùng biết đến
sản phẩm.
-Tăng cường truyền bá tầm quan trọng của thương hiệu đối với sự tồn tại, phát
triiển của công ty nói riêng và sự phát triển chung của cả nền kinh tế.
-Tăng cường đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên trách trong vấn đề marketing. Hiện
nay sinh viên Việt Nam đang có những tiềm năng rất hứa hẹn trong việc giúp các
công ty trong chiến lược cạnh tranh, vì đội ngũ này ngày càng được đào tạo bài
bản về chuyên môn, nhất là con mắt tầm nhìn chiến lược, ngoại ngữ là một lợi thế
và khả năng vô cùng lớn của sinh viên. Do đó trong quá trình hội nhập nhân tài là
vấn đề mà doanh nghiệp nên quan tâm và đầu tư thích đáng, nên tạo điều kiện cho
sinh viên thực tập ở doanh nghiệp mình đó chính là điều kiện cũng như cơ hội cho
doanh nghiệp có thể tìm kiếm được thật nhiều các tài năng trẻ tuổi, không cần phải
khó khăn ở đâu cả đó là tầm nhìn mà nhiều doanh nghiệp nên nghĩ đến trong việc
đạt được mục đích của chính mình.
-Tận dụng tối đa các nguồn lực mà công ty sẵn có nhất là nguồn lực về giá trị
thương hiệu mà công ty đã có từ việc xây dựng các sản phẩm có uy tín trước đó.
Giảm thiểu chi phí mà tăng hiệu quả và lợi ích cho cả doanh nghiệp và người tiêu
dùng.
-Đối với các doanh nghiệp cần nghiêm túc tự đánh giá xem doanh nghiệp đang ở
đâu, vị trí nào, điểm nào đã được và điểm nào chưa được từ đó điều chỉnh cho phù
hợp với với tiến trình hội nhập, như nâng cao hình ảnh DN, các doanh nghiệp cần
có sự liên kết hay nói cách khác chính là sự hợp tác giữa các doanh nghiệp. M ục l ục.
I. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về thương hiệu của các doanh nghiệp
Việt Nam.
1. Khái niệm về thương hiệu.
1.1.Thương hiệu là gì.
1.2.Sự khác biệt giữa thương hiệu và nhãn hiệu.
2 . Sự cần thiết của quản lý nhà nước về thương hiệu.
2.1.Sự cần thiết của quản lý nhà nước.
2.2. Vai trò của thương hiệu.
13. Trường đại học kinh tế quốc dân (2006), Tạp trí kinh tế.
14. Tiến sĩ Mai Văn Bưu (2006), Giáo trình phân tích hiệu quả kinh tế xã hội,
NXB thống kê.
15.Khoa đầu tư đại học kinh tế quốc dân (2005), Giáo trình đầu tư kinh tế.