VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÍ MÔI TRƯỜNG
TIỂU LUẬN KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
ĐỀ TÀI: KIỂM TOÁN MÔI TRƯỜNG VÀ
HẠCH TOÁN MÔI TRƯỜNG
GVHD: T.S Võ Đình Long
Lớp: ĐHMT5B
Sinh viên thực hiện:
1. Dương Thị Minh Thùy 09072891
2. Phạm Vũ Thanh Thảo 09090001
3. Lê Thị Mỹ Hạnh 09153961
Tp. HCM, tháng 11, năm 2011
LỜI CẢM ƠN
Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường
Chúng em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu nhà trường và quý
thầy cô viện khoa học công nghệ và quản lý môi trường và đặc biệt là thầy
T.s. Võ Đình Long đã tận tình hướng dẫn chúng em thực hiện đề tài này và
toàn thể thầy cô Trường Đại học Công Nghiệp TPHCM đã tận tình giảng
dạy, truyền đạt kiến thức cho chúng em trong thời gian qua, tạo cơ sở lí luận
vững chắc cho chúng em hoàn thành đề tài này. Tuy nhiên do đây là đề tài
khó nên không thể tránh khỏi những sai sót mong được cô thầy nhận xét,
đánh giá để lần sau thực hiện được tốt hơn.
Chúng em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã nhiệt tình
giúp đỡ chúng em hoàn thành tốt đề tài này và sự hỗ trợ của các thành viên
trong nhóm đề tài.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
GVHD: T.S Võ Đình Long 2
Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
ngày càng sâu rộng, sự cạnh tranh diễn ra ngày càng khốc liệt và gay gắt,
không ít doanh nghiệp chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt, có những
quyết định, hành vi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường; sau đó bị trả giá bằng
việc người tiêu dùng và xã hội tẩy chay sản phẩm. Điều này buộc các doanh
nghiệp phải xét đến việc kiểm toán môi trường và hạch toán môi trường.
Vì những lẽ trên, nhóm chúng em tìm hiểu đề tài “kiểm toán môi
trường và hạch toán môi trường” để góp phần hiểu rõ hơn về vấn đề trên.
GVHD: T.S Võ Đình Long 4
Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường
NỘI DUNG
1. KIỂM TOÁN MÔI TRƯỜNG
1.1. Khái niệm kiểm toán môi trường
Khái niệm kiểm toán môi trường bắt đầu xuất hiện vào những năm
đầu thập kỷ 80 sau hàng loạt các thảm hoạ môi trường xảy ra tại Anh và Mỹ:
“Kiểm toán môi trường là công cụ quản lý bao gồm một quá trình đánh giá
có tính hệ thống, định kỳ và khách quan được văn bản hoá về việc làm thế
nào để thực hiện tổ chức môi trường, quản lý môi trường và trang thiết bị
môi trường đó hoạt động tốt”.
Đứng trên phương diện khoa học kiểm toán thì kiểm toán môi trường
là sự kết hợp giữa kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt
động; kiểm toán môi trường là bước phát triển cao hơn của kiểm toán hoạt
động.
1.2. Các khó khăn trong việc kiểm toán môi trường ở nước ta hiện
nay
Từ khi thành lập ngành đến nay chúng ta mới chỉ tiến hành một cuộc
kiểm toán hoạt động duy nhất đó là cuộc kiểm toán quản lý và sử dụng phí
đường bộ; đồng thời đến nay chúng ta vẫn chưa ban hành quy trình hướng
dẫn đối với kiểm toán hoạt động.
Chúng ta chưa xây dựng được một ngân hàng dữ liệu về môi trường
của quốc gia (thông tin về số tài nguyên mà quốc gia đã có; số tài nguyên đã
2.2. Sự cần thiết phải có hạch toán môi trường
Hạch toán môi trường rất cần thiết với những quốc gia có tốc độ tăng
trưởng chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và những ngành công
nghiệp có nguy cơ ô nhiễm cao như nước ta. Nó cho phép đánh giá được
tính bền vững của quá trình phát triển kinh tế có tính đến tác động và hậu
quả về môi trường. Chúng ta cũng có thể biết, nếu tính toán đầy đủ khấu hao
GVHD: T.S Võ Đình Long 6
Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường
nguồn vốn thiên nhiên vào trong hạch toán kinh tế quốc dân thì kết quả thực
của hoạt động kinh tế thấp hơn bao nhiều phân trăm so với cách tính GDP
truyền thống. Điều này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách thấy được trên
thực tế, nền kinh tế phát triển dựa vào nguồn tài nguyên ở mức độ nào. Từ
đó, cân nhắc khi xem xét các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong
tương lai sao cho hợp lý và bền vững hơn. Mặt khác, biết được các chỉ số
liên quan tới môi trường là rất quan trọng. Các thông tin về tổng lượng tiêu
thụ năng lượng, tổng lượng chất thải ô nhiễm hàng năm… cho thấy sức ép
về việc sử dụng nguồn tài nguyên và tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt
động kinh tế gây ra. Số liệu về tốc độ tiêu thụ cho thấy không lâu nữa, quốc
gia sẽ cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo được. Từ đó, gợi ra những
chính sách quản lý môi trường cần thiết nhằm sử dụng nguồn tài nguyên
hiệu quả hơn hoặc tăng cường kiểm soát lượng chất thải ô nhiễm.
Mặc dù hạch toán môi trường đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế
giới và các nước lân cận như Philipin, Hàn Quốc, Nhật Bản… Từ những
năm 80, 90 của thế kỷ trước nhưng vấn đề này còn rất mới ở Việt Nam. Việc
áp dụng hạch toán môi trường gặp nhiều khó khăn vì có quá ít chuyên gia
cũng như tài liệu nghiên cứu tổng quan về vấn đề này. Nguồn số liệu – cơ sở
để thực hiện hạch toán môi trường còn thiếu. Số liệu về sử dụng tài nguyên
cho các hoạt động kinh tế với chức năng là đầu vào của sản xuất tuy có được
hạch toán nhưng chưa đầy đủ. Chưa cơ quan có trách nhiệm nào công bố
mức chi tiêu hàng năm cho các hoạt động bảo vệ môi trường. Sở dĩ như vậy
Hạch toán Quản lý Môi trường là một lĩnh vực mới và đang phát triển
nhằm tìm kiếm và cung cấp các thông tin quan trọng và cần thiết về các chi
phí và doanh thu có liên quan đến môi trường, nhằm hướng dẫn các DN, các
chủ dự án trong các quyết định kinh tế, khuyến khích nỗ lực trong việc sử
dụng tài nguyên, kể cả tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên do con người tạo
ra mọt cách có hiệu quả và hạn chế tối đa sự hủy hoại môi trường, hạn chế
rác thải và sự ô nhiễm, thay đổi các hành vi đối xử với môi trường sống.
GVHD: T.S Võ Đình Long 8
Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường
EMA bao gồm cả thước đo về tiền tệ, hiện vật các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh trong các hợp đồng kinh doanh, hợp đồng đầu tư có liên quan đến môi
trường của các DN, các chủ đầu tư.
Đã có nhiều tài liệu giới thiệu về EMA do các tổ chức trên thế giới
phát hành, trong đó, có những tài liệu hướng dẫn do các cơ quan chính phủ
phát hành như Cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ, Bộ môi trường Nhật
Bản, Bộ Môi trường Cộng hòa liên bang Đức, Ủy ban của Cộng đồng châu
Âu (EC) cũng đưa ra các quy định mang tính chỉ đạo và hướng dẫn một số
nội dung về chi phí liên quan đến môi trường trong kế toán tài chính và lập
báo cáo tài chính. Một số tổ chức khác như Envirowise của Vương quốc
Anh, Tổ chức Môi trường Canada, các trung tâm, viện nghiên cứu và nhiều
nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra nhiều hướng dẫn cho việc đánh giá và lập
báo cáo về các chi phí liên quan đến môi trường.
EMA được thảo luận chính thức đầu tiên trên diễn đàn quốc tế vào
năm 1998 tại phiên họp thường kỳ của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về
Phát triển bền vững. Kể từ đó đến nay, EMA đã được phổ biến tại rất nhiều
quốc gia và đã áp dụng tại hàng trăm doanh nghiệp trên thế giới. Một vài dự
án liên quan đến EMA tiêu biểu trên thế giới có thể kể như:
Dự án "Tiếp cận về mối liên quan giữa giảm thiểu chất thải và chi phí
môi trường" do Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Môi trường và Quản lý nguồn
nước Áo (AFEW) quản lý; Dự án "Sáng kiến Hạch toán Môi trường" do Cục
án EMA điển hình tại các doanh nghiệp; Xây dựng tài liệu đào tạo; Hội thảo
đào tạo EMA và đào tạo EMA qua máy tính; Đào tạo giảng viên EMA; Phổ
biến EMA. Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, áp lực kinh doanh đòi
hỏi các doanh nghiệp không chỉ phải tối thiểu hóa các chi phí sản xuất, mà
còn phải chú ý đến các yêu cầu về sử dụng hợp lý tài nguyên để giảm thiểu
chất thải. Cần nhận thức được rằng việc giảm thiểu chất thải sẽ cho phép
doanh nghiệp thu được các khoản tiết kiệm hay các khoản doanh thu môi
trường.
GVHD: T.S Võ Đình Long 10
Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường
Trong tương lai không xa, doanh nghiệp có chỉ số cạnh tranh cao nhất
chính là doanh nghiệp đạt được yêu cầu về kinh doanh bền vững, nghĩa là
đảm bảo cân bằng 3 yếu tố: kinh tế, môi trường và trách nhiệm xã hội. Như
vậy, với phương pháp luận tiếp cận có hệ thống của EMA và những lợi ích
mà nó mang lại, EMA rõ ràng là một bộ công cụ rất hữu hiệu để hỗ trợ các
doanh nghiệp đạt được yêu cầu này.
2.4. Hạch toán môi trường và việc áp dụng ở Việt Nam
Chiến lược phát triển của Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2020 là
phát triển kinh tế nhanh, bền vững, bảo vệ tốt môi trường và giải quyết hài
hòa các vấn đề kinh tế, môi trường và xã hội. Nhà nước quan tâm và ban
hành ngày càng nhiều các quy định mang tính pháp lý để hạn chế sự khai
thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho phát triển kinh tế,
xã hội, đồng thời, cũng là để hạn chế tới mức tối đa các hành vi vi phạm,
hủy hoại môi trường, gây ô nhiễm môi trường.
Nhiều quy định luật pháp đòi hỏi các DN, các nhà đầu tư phải tiến
hành đánh giá tác động đến môi trường, phải đưa ra hoặc triển khai các giải
pháp xử lý môi trường trước khi thực hiện các dự án. Để thực hiện các quy
định pháp lý đó, tất yếu phát sinh thêm nhiều loại chi phí với quy mô ngày
càng lớn liên quan đến môi trường, đến bảo vệ môi trường, xử lý các tác
động đến môi trường và nâng cao chất lượng môi trường trong hợp đồng
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới ta thấy,
hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển đã áp
dụng đa dạng các loại công cụ kinh tế trong quản lý môi trường nhằm thay
đổi chi phí và lợi ích của các hoạt động có ảnh hưởng tới môi trường, đồng
thời tăng cường ý thức trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trước việc gây
thiệt hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng. Trong đó kiểm toán môi
trường và hạch toán môi trường cũng là 2 trong nhiều công cụ để quản lý
môi trường.
GVHD: T.S Võ Đình Long 12
Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường
Tất cả các công cụ kinh tế khi áp dụng trong quản lý môi trường đều
nhằm mục đích hạn chế tối đa chất thải phát sinh ra môi trường, góp phần
vào nguồn thu của ngân sách nhà nước, giảm ảnh hưởng của việc tiêu thụ tài
nguyên và năng lượng, đặc biệt là các loại tài nguyên khan hiếm không thể
tái tạo thông qua việc đánh vào lợi ích kinh tế của các cá nhân và tổ chức
nhằm thay đổi hành vi tác động đối với môi trường theo hướng tích cực
trong quá trình hoạt động có tác động tới môi trường.
Tuy nhiên, mỗi công cụ kinh tế có những ưu nhược điểm riêng trong
quá trình áp dụng vào quản lý môi trường. Ở các quốc gia áp dụng thành
công các công cụ trong quản lý môi trường trên cơ sở có các điều kiện sau:
Nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường thực sự, tức là các hàng hóa và
dịch vụ được trao đổi đúng với chất lượng và giá trị vốn có và có tính đến
yếu tố chí phí môi trường trong quá trình hình thành mức giá của các hàng
hóa dịch vụ theo quan hệ cung cầu; hệ thống chính sách và các quy định
pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, cho phép kiểm soát và điều chỉnh các hành vi
của các cá nhân tổ chức hoạt động gây ảnh hưởng xấu hoặc có sử dụng các
thành phân môi trường; các tổ chức quản lý môi trường của từ trung ương
đến địa phương được tổ chức chặt chẽ đủ khả năng để thực thi các quy
định Pháp luật về bảo vệ môi trường của Nhà nước; Các quốc gia phải có
thu nhập bình quân đầu người (GDP) cao để có nguồn tài chính đầu tư cho
Là nghệ thuật thu nhận, xử lý và
cung cấp thông tin về toàn bộ môi
trường và sự vận động của môi
trường trong doanh nghiệp.
Đối tượng của hạch toán:
Là tài sản về môi trường, tình
hình môi trường và sự biến động của
Kiểm toán môi trường :
• Là công cụ quản lý bao gồm một quá
trình đánh giá có tính hệ thống, định
kỳ và khách quan được văn bản hóa
về việc làm thế nào để thực hiện tổ
chức môi trường, quản lý môi trường
và trang thiết bị môi trường hoạt
động tốt.
• Là một công cụ quản lý chỉ có giá trị
khi được hình thành trong một hệ
thống quản lý tổng thể. Nó không thể
đứng đơn độc. Nó là một công cụ
giám sát trợ giúp việc ra quyết định
và giám sát quản lý.
• Là quá trình thu thập và đánh giá
bằng chứng về những thông tin cần
kiểm tra nhằm xác định và báo cáo
mức đảm bảo hợp lý của thông tin
kiểm tra với các tiêu chuẩn, chuẩn
mực nhằm đảm bảo không có sai xót
trọng yếu trên số liệu và thực tế mà
hạch toán môi trường đã làm báo
cáo.
trường nào đó, . ngoài các thông
tin như trên còn các thông tin về môi
trường khác như các thông tin về
tình hình thực hiện dự án, nội dung
và đánh giá hiệu quả dự án, đưa ra
dự báo về môi trường trong tương
lai
Mục tiêu của kiểm toán:
Kết thúc quá trình kiểm toán,
kiểm toán viên đưa ra ý kiến của
mình về đối tượng kiểm toán. Tuỳ
thuộc vào các đối tượng kiểm toán,
các báo cáo kiểm toán có thể khác
nhau về hình thức, nội dung nhưng về
bản chất trong mọi trường hợp chúng
đều phải thông tin cho người đọc về
mức độ tương quan và phù hợp của
đối tuợng kiểm toán với các chuẩn
mực đã được xây dựng.
Kiểm toán viên môi trường sẽ
đưa ra những biện pháp khắc phục,
đánh giá tình hình chung của môi
trường và dự báo hiện trạng môi
GVHD: T.S Võ Đình Long 15
Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường
trường vào trong những nội dung
khác nhau của hệ thống hạch toán
kinh doanh của doanh nghiệp, hạch
toán quản lý môi trường giúp cho
doanh nghiệp có thể hạch toán được
xem kiểm toán viên làm công việc là
giám sát hạch toán viên sau khi hoàn
thành các bước và công việc của hạch
toán viên môi trường thì kiểm toán
viên môi trường sẽ bắt đầu công việc
đánh giá và giám sát của mình.
Mục đích của kiểm toán môi
trường là giúp vào việc bảo vệ môi
trường, sức khỏe, an toàn bằng các
biện pháp: Tạo điều kiện cho việc
kiểm soát, quản lý thực tế môi
trường. Đánh giá sự tuân thủ các chế
độ, chính sách hiện hành; kể cả việc
đáp ứng các yêu cầu về thực hiện các
chế độ, chính sách đó.
GVHD: T.S Võ Đình Long 16
Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường
Quan sát, thu nhận và ghi
chép một cách có hệ thống hoạt
động môi trường hàng ngày, các
nghiệp vụ môi trường phát sinh và
các sự kiện môi trường khác.
Phân loại các nghiệp vụ và sự
kiện môi trường thành các nhóm và
các loại khác nhau, việc phân loại
này có tác dụng giảm được khối
lượng lớn các chi tiết thành dạng cô
đọng và hữu dụng.
Tổng hợp các thông tin đã
phân loại thành các báo cáo hach
môi trường và hạch toán môi trường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
GVHD: T.S Võ Đình Long 18
Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường
1. hach
- toan-moi- truong-va-viec-ap-dung-o-vie.html
2.www.webketoan.com
3.
view=article&id=1015:hach-toan-quan-ly-moi-truong&catid=12:kin-thc&
Itemid =10
4.
Gv
5. />GVHD: T.S Võ Đình Long 19