TIỂU LUẬN: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh Gaz và Bếp ga ở Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản pot - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Giải pháp nâng cao khả năng cạnh
tranh trong lĩnh vực kinh doanh Gaz
và Bếp ga ở Công ty TNHH Thương
mại và Dịch vụ Ngọc Toản

Lời mở Đầu

Nền kinh tế nước ta đang ở giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước. Việc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hoạt động
theo sự vận hành của cơ chế thị trường đã mở ra một thời kỳ mới đầy những cơ hội phát triển
cũng như là những thách thức lớn lao cho các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp ở Việt
Nam.
Vận động theo cơ chế thị trường có nghĩa là hoạt động của doanh nghiệp phải gắn liền
với thị trường, tuân thủ theo các quy luật kinh tế trong đó quy luật cạnh tranh. Mỗi một doanh
nghiệp phải biết thích nghi với thị trường, cạnh tranh gay gắt với nhau để tồn tại và phát
triển.Trong những cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào biết thích nghi với thị trưòng, tận

Phần III : Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty TNHH
Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản, trong kinh doanh ga hoá lỏng. Phần I

một số vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh
và khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp
-==&==-

I . Cạnh tranh - Đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường.
1.Khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh một loại
hàng hoá nào đó trên thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh. Đây là một điều tất

- Cạnh tranh giữa người bán và người mua.
- Cạnh tranh giữa người mua và người mua.
- Cạnh tranh giữa người bán và người bán.
 Cạnh tranh giữa người bán và người mua có thể hiểu theo nghĩa đơn giản nhất
là một sự mặc cả theo luật ' mua rẻ -bán đắt '. Cả hai bên đều muốn được tối đa hoá lợi
ích của mình .
 Cạnh tranh giữa người mua và người mua xảy ra khi mà trên thị trường mức
cung nhỏ hơn cầu của một loại hàng hoá hoặc dịch vụ. Lúc này hàng hoá trên thị
trường khan hiếm , người mua sẵn sàng mua hàng với một mức giá cao. Mức độ cạnh
tranh giữa những người mua trở nên gay gắt hơn.
 Loại cạnh tranh thứ ba là cuộc cạnh tranh giữa những người bán với nhau. Đây
là một cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất và phổ biến trong nền kinh tế thị
trường hiên nay. Các doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ lẫn nhau để giành cho
mình những ưu thế về thị trường và khách hàng nhằm mục tiêu tồn tại và phát triển.
Cuộc ganh đua này diễn ra ở các góc độ:
- Giá cả
- Chất lượng
- Hình thức , nghệ thuật tổ chức bán hàng.
- Thời gian.
-
Kết quả của cuộc cạnh tranh này là kẻ mạnh (cả về khả năng vật chất và trình
độ chuyên môn )sẽ là người chiến thắng còn những doanh nghiệp nào không có đủ
tiềm lực sẽ bị thua cuộc và bị đào thải khỏi thị trường.
2.2 - Xét theo tính chất và mức độ
Theo tiêu thức này, cạnh tranh được chia làm ba loại :
 Cạnh tranh hoàn hảo
 Cạnh tranh không hoàn hảo

Cạnh tranh là một điều bất khả kháng trong nền kinh tế thị trường. Các doanh
nghiệp, các nhà kinh doanh dịch vụ khi tham gia thị trường buộc phải chấp nhận sự
cạnh tranh. Cạnh tranh có thể coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp
không thể lẩn tránh và phải tìm mọi cách để vươn lên, chiếm ưu thế.
Như vậy cạnh tranh buộc các nhà dich vụ phải luôn tìm cách nâng cao chất
lượng dịch vụ, đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng, của thị trường.
Canh tranh gây nên sức ép đối với các doanh nghiệp qua đó làm cho các doanh nghiệp
hoạt động có hiệu quả hơn.
3.2 - Đối với người tiêu dùng
Nhờ có cạnh tranh, người tiêu dùng nhận được các dich vụ ngày càng đa dạng,
phong phú hơn. Chất lượng của dịch vụ được nâng cao trong khi đó chi phí bỏ ra ngày
càng thấp hơn. Cạnh tranh cũng làm quyền lợi của người tiêu dùng được tôn trọng và
quan tâm tới nhiều hơn.
3.3 - Đối với nền kinh tế - xã hội.
Đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội cạnh tranh có vai trò rất lớn
+ Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội.
+ Cạnh tranh tạo ra sự đổi mới, mang lại sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn, giúp xoá
bỏ các độc quyền bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh.
+ Cạnh tranh giúp tăng tính chủ động sáng tạo của các doanh nghiệp, tạo ra được
các doanh nghiệp mạnh hơn, một đội ngũ những người làm kinh doanh giỏi, chân
chính.
+ Cạnh tranh còn là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lí giữa
các loại lợi ích của các doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội.
Tuy nhiên, cạnh tranh không chỉ toàn là những ưu điểm, mà nó còn có cả những
khuyêt tật cố hữu mang đặc trưng của cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường bắt buộc
các doanh nghiệp phải thực sự tham gia vào cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Chính
điều này đòi hỏi cần phải có sự quản lý của nhà nước, đảm bảo cho các doanh nghiệp

của các doanh nghiệp.
 Tỷ suất lợi nhuận
Chỉ tiêu này được tính = lợi nhuận / giá bán
Đây là chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh tiềm năng cạnh tranh mà còn
thể hiện tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu chỉ
tiêu này thấp chứng tỏ doanh doanh nghiệp gặp phải sự cạnh tranh gay gắt trên thị
trường nhưng một phần nào cũng chứng tỏ doanh nghiệp cũng có khả năng cạnh tranh
không kém gì các đối thủ của nó. Ngược lại nếu chỉ tiêu này cao nghĩa là đang kinh
doanh đang rất thuận lợi.
 Chi phí marketing / Tổng doanh thu
Thông qua chỉ tiêu này mà doanh nghiệp thấy được hiệu quả hoạt động của
mình trong lĩnh vực marketing đồng thời có các quyết định chính xác hơn cho hoạt
động này trong tương lai.

2) Các yếu tố quyết định tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1 - Yếu tố giá cả.
Giá của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua quan hệ cung
cầu. Người bán và người mua thoả thuận mặc cả với nhau để đi tới mức giá cuối cùng
đảm bảo hai bên đều có lợi. Giá cả đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hay
không mua của khách hàng. Trong nền kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh của các
doanh nghiệp, ''khách hàng là thượng đế '' họ có quyền lựa chọn những gì mà họ mà họ
cho là tốt nhất, và cùng một loại sản phẩm với chất lượng tương đương nhau, chắc
chắn họ sẽ lựa chọn mức giá bán thấp hơn, khi đó sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp
sẽ tăng lên.
Để chiếm lĩnh được ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sự lựa
chọn các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn hay tuỳ
thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường.

sản xuất phát triển. Công tác tổ chức tiêu thụ tốt cũng là một trong những yếu tố làm
tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, giúp cho doanh nghiệp tìm ra được nhiều
bạn hàng mới, mở rộng thị trường nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
2.4 - Các hoạt động chiêu thị
+ Ngày nay, các hoạt động chiêu thị rất được chú ý trong các doanh nghiệp. Hoạt
động chiêu thị là tổng hợp các chương trình quảng cáo, khuyến mãi … xác định cả về
chi phí, cách thức thực hiện, phương tiện thực hiện, nhân sự, thời gian, đối tượng
doanh nghiệp hướng tới… Hoạt động chiêu thị nhằm khích thích người tiêu dùng tiêu
thụ sản phẩm của doanh nghiệp, góp phần giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, làm
cho người tiêu dùng hiểu rõ hơn về sản phẩm…
2.5 - Phương thức thanh toán
Là một yếu tố được sử dụng khá phổ biến hiện nay để tạo ra khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Có nhiều phương thức thanh toán khác nhau được áp dụng
hiện nay như thanh toán chậm, trả góp, mở L/C …Phương thức thanh toán hợp lý giúp
cho hoạt động mua bán diễn ra thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn, có lợi cho cả người
bán và người mua.

3) Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ cũng gắn
liền với môi trường kinh doanh và do vậy, nó phải chịu sự tác động, ảnh hưởng của
nhiều nhân tố bao gồm cả chủ quan và khách quan.
3.1 - Các nhân tố khách quan .
Đây là các nhân tố tác động mạnh mẽ tói khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
nhưng doanh nghiệp chỉ có thể chấp nhận chứ không thể tác động trở lại.
 Nhóm nhân tố kinh tế.
Đây là những nhân tố quan trọng nhất của môi trường hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Khi một nền kinh tế phát triển với tốc độ cao sẽ kéo theo sự tăng

đó định ra mức độ cạnh tranh trên thị trường và đánh giá khả năng cạnh tranh của đối
thủ cũng như của doanh nghiệp mình. Từ những đánh giá đó để có thể có các chính
sách thích hợp với từng giai đoạn từng thị trường.
 Nguồn nhân lực
Đây chính là những người tạo ra dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Đội
ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ là những người quyết định các hoạt động kinh
doanh : Kinh doanh cái gì, sản phẩm nào tốt cho ai, khối lượng bao nhiêu. Mỗi một
quyết định của họ có một ý nghĩa hết sức quan trọng liên quan tới sự tồn tại phát triển
hay diệt vong của doanh nghiệp. Chính họ là những người quyết định cạnh tranh như
thế nào, khả năng cạnh tranh của công ty sẽ tới mức bao nhiêu bằng những cách nào
 Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.
Một hệ thống cơ sở vật chất kỹ khang trang cùng với đội ngũ nhân viên kinh
nghiệm phù hợp với quy mô của doanh nghiệp chắc chắn sẽ làm tăng khả năng cạnh
tranh của công ty lên rất nhiều. Với một cơ sở vật chất tốt thì chất lượng dịch vụ được
đảm bảo. Chất lượng dịch vụ hợp lý giúp cho doanh nghiệp tận dụng được công xuất
tối đa qua đó hạ giá thành sản phẩm kéo theo sự giảm giá bán trên thị trường, khả năng
chiến thắng trong cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ là rất lớn. Ngược lại không một
doanh nghiệp nào lại có khả năng cạnh tranh cao khi mà cơ sở vật chất kém, chất
lượng dịch vụ không phù hợp vì chính nó sẽ làm giảm chất lượng dịch vụ tăng chi phí
kinh doanh.
 Khả năng tài chính của doanh nghiệp:
Đây là yếu tố quan trọng quyết định khả năng king doanh cũng như là chỉ tiêu
hàng đầu để đánh giá quy mô của doanh nghiệp. Bất cứ một hoạt động đầu tư, mua
sắm trang thiết bị hay phân phối, quảng cáo đều phải được tính toán dựa trên thực
trạng tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có
khả năng trang bị các dịch vụ hoàn hảo, đảm bảo chất lượng, hạ giá thành, giá bán sản
phẩm, tổ chức các hoạt động quảng cáo khuyến mại mạnh mẽ nâng cao sức cạnh tranh.

Nền kinh tế ngày càng phát triển, mở ra cho doanh nghiệp nhiều cơ hội nhưng
cũng làm tăng thêm nhiều đối thủ cạnh tranh. Trước những cơ hội và thách thức như
vậy mỗi doanh nghiệp phải tìm các vượt qua nếu không nguy cơ phá sản là rất lớn.
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan. Các doanh
nghiệp tham gia thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh. Cạnh tranh, chấp nhận cạnh
tranh và cạnh tranh bằng tất cả khả năng của mình mới có thể giúp cho doanh nghiệp
tồn tại và phát triển. Chính vì vậy, tăng khả năng cạnh tranh là một điều tất yếu của
mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường.
3) Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh trong kinh doanhh Ga và Bếp
ga của Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản là doanh nghiệp chuyên kinh
doanh mặt hàng ga và bếp ga, các sản phẩm đồ gia dụng có nguồn gốc xuất sứ từ các
nước có nền công nghiệp phát triển như Pháp, Đức, Nhật Bản có chi nhánh tại Việt
Nam. Khi mới thành lập Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản gặp không ít
khó khăn. Thị phần của công ty không đáng kể, công ty phải chịu một sự cạnh tranh rất
gay gắt. Trước tình hình đó, để tồn tại và phát triển công ty cần phải nâng cao khả
năng cạnh tranh của mình để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển.
Cùng với các hãng ga và bếp ga có tiêng trên thị trường nói chung. Công ty
TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản đã quyết định ký hợp đồng làm tổng đại lý phân
phối ga cho hãng TOTALGAZ. Sản phẩm khi hoá lỏng của TOTALGAZ cũng phải chịu
sự cạnh tranh gay gắt của các hãng ga khác trên thị trường. Các doanh nghiệp kinh
doanh các sản phẩm ga hoá lỏng thường rất quan tâm tới sản phẩm này vì nó đem lại
một mức lợi nhuận không lớn nhưng mức thu nhập của doanh nghiệp tăng đều, ổn
định và sự nổi tiếng của doanh nghiệp trên thị trường phụ thuộc rất nhiều vào mặt
hàng mà minh lựa chọn. Đối với Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản sản
phẩm TOATLGAZ là sản phẩm nổi tiếng trong và ngoài nước mà thị phần của công ty
còn nhỏ tại thị trường Quảng Ninh, kinh nghiệm trong cạnh tranh còn ít. Sản phẩm khí
háo lỏng lại là sản phẩm bán lẻ cho người tiêu dùng và khách hàng công nghiệp nên
của Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản
- == & ==-

I . Giới thiệu chung về Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản
1) Lịch sử phát triển của Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản.
1.1 - Sự ra đời của Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản.
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản tiền thân là một cửa hàng
chuyên kinh doanh ga và bếp ga. Khi đó việc kinh doanh ga và bếp ga chỉ là một phần
không thể tách rời, doanh thu chiếm tỷ trọng chiếm khoảng 8% đến 10% tổng doanh
thu của các loại ga và bếp ga). Cho tới giữa năm 1999 cửa hàng nhận thấy nhu cầu tiêu
dùng của người dân về ga và bếp ga tại thị trường Quảng ninh nói chung và Hạ long
nói riêng gia tăng. Trong khi đó, các doanh nghiệp tư nhân cùng nghành hàng cung
cấp ga và bếp ga không ổn định và có nguy cơ không đáp ứng đủ nhu cầu về thị
trường.
Trước tình hình đó, cửa hàng quyết định thành lập Công ty TNHH Thương mại
và Dịch vụ Ngọc Toản. Được Sở Thưong mại Quảng Ninh cấp ngày 15/11/1999 thành
lập Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản. Công ty TNHH Thương mại và Dịch
vụ Ngọc Toản, có nhiệm vụ kinh doanh, phục vụ nhu cầu ga, bếp ga trên toàn tỉnh
Quảng Ninh.
Trong quá trình hoạt động và phát triển, Công ty đã từng bước kinh doanh đa
dạng hoá các chủng loại sản phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng.
Để khẳng định sự chuyển biến cả về chất và lượng của công ty, ngày
25/11/2000 Công ty quyết định ký hợp đồng làm Tổng Đại lý TOTALGAZ (Công ty
liên doanh Totalgaz Hải Phòng có trụ sở và nhà máy tại xã An hải huyện An Hải TP
Hải Phòng) có nhiệm vụ phân phối ga Tatal trên thị trường Quảng Ninh.
Không dừng lại ở đây, ngày 20/06/2001 công ty quyết định ký hợp đồng với
Công ty Thương mại Quang Vinh có trụ sở tại 256 Trần Khát Trân Hà Nội làm Tổng
2.2 - Văn phòng công ty .
Cơ cấu bộ máy quản lý của văn phòng công ty bao gồm :
 Giám đốc công ty: là người có quyền quyết định mọi hoạt động của công ty và
là người phải chịu toàn bộ trách nhiệm trực tiếp trước Pháp luật về mọi hoạt động kinh
doanh của công ty.
Các phòng ban : Văn phòng Ngoc Toan Co., LTD được tổ chức thành 3 phòng
ban :
Phòng Kế toán tài chính : Chức năng chủ yếu của phòng là khai thác mọi nguồn
vốn nhằm đảm bảo đủ vốn cho hoạt động kinh doanh của công ty. Tham mưu cho
giám đốc xét duyệt các phương án kinh doanh và phân phối thu nhập. Kiểm tra các số
liệu thực tế, thủ tục cần thiết của toàn bộ chứng từ và việc thanh toán tiền hàng.
Hướng dẫn các đơn vị mở sổ sách theo dõi tài sản hàng hoá, chi phí xác định lỗ
lãi, phân phối lãi của từng đơn vị.
Phòng kinh doanh: Giúp việc cho giám đốc, được giám đốc giao nhiệm vụ trực
tiếp phụ trách một số mảng hoặc một số bộ phận hoạt động của công ty. Phòng kinh
doanh là phòng nghiệp vụ có chức năng tổ chức, quản lý, chỉ đạo, điều hành các hoạt
động kinh doanh của toàn công ty đảm bảo có hiệu quả và tuân thủ theo dúng quy định
của ngành, pháp luật của Nhà nước trên các công tác:
giám đốc

Các đại
lýPhòn

doanh của công ty là đáp ứng đầy đủ kịp thời về số lượng và chất lượng, dịch vụ cho
mọi nhu cầu về ga, bếp ga và đồ gia dụng các cá nhân, tập thể trong tỉnh, ta có thể khái
quát nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu của công ty bao gồm :
 Tổ chức nhập hàng và kinh doanh các loại ga, bếp ga
 Tổ chức phân chia hàng hoá cho các đại lý của công ty để phục vụ nhu cầu tiêu
dùng.
 Tổ chức các dịch vụ, nghiên cứu kĩ thuật lắp ghép các đường ống dẫn ga công
nghiệp theo nhu cầu của khách hàng.
Trong thời gian qua nhiệm vụ kinh doanh lĩnh vực của công ty là tương đối ổn
định. Công ty đang từng bước tiến hành đa dạng hoá sản phẩm ga và bếp ga trên các
mặt hàng truyền thống đã có.
3.2 - Các sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Công ty.
a) Các sản phẩm kinh doanh của Ngoc Toan Co., LTD.
Hiện nay thực hiện hoạt động kinh doanh trên hai nhóm mặt hàng chủ yếu sau:
 Nhóm mặt hàng Bếp ga gồm có:
+ Bếp ga dân dụng.
+ Bếp ga công nghiệp.
 Nhóm mặt hàng Ga hoá lỏng.
+ Ga Tatal.
Ngoài ra Công ty còn kinh doanh các thiết bị vật tư chuyên dụng cho ga và bếp
ga công nghiệp.
b) Cơ cấu kinh doanh sản phẩm của công ty
Trong những năm qua cơ cấu sản phẩm của công ty có thể khái quát
thông qua bảng sau :
Biểu 1: Tình hình tiêu thụ của Công ty qua các năm.
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Ga Total (12kg) B 33480 48960 71280

2/3 so với năm 2001 và 2002. Có sự không ổn định như vậy là do công ty thực hiện
chế độ giá cố định. Như trong năm 2000 khi giá dầu trên thế giới tăng cao làm giá
thành phẩm ga hoá lỏng của công ty Totalgaz giao cho Ngoc Toan Co., LTD tăng
nhưng Ngoc Toan Co., LTD vẫn không tăng giá bán lẻ trên thị trường toàn tỉnh. Điều
này khiến cho doanh thu tuy tăng như lợi nhuận trên một đầu sản phẩm giảm xuống
Đặc điểm về lao động
Ngày đầu thành lập Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Ngọc Toản có 8 cán bộ
công nhân viên sau gần sáu năm số lượng lao động trong công ty là 58 người. Biểu3: Số lao động của công ty.
Chỉ tiêu 1/1/2000 1/1/2001 1/12002
Số lao động 39 52 58
Nguồn phòng kinh doanh Công ty
Trong những năm đầu mới phát triển số lượng lao động của công ty tăng khá
nhanh với một tỷ lệ tăng cao. Điều này là do sau thời gian đầu công ty phát triển thêm
thị trường và lượng ga tăng nhanh. Công ty dần dần ổn định về số lượng lao động, tiến
tới đi sâu vào phát triển nâng cao trình độ của đội ngũ lao động. Hiện nay, công ty
thực hiện điều chỉnh lao động giữa các cửa hàng thành viên trong công ty một cách
hợp lý tránh tăng thêm số lượng lao động.
Cơ cấu lao động của công ty ngày càng được hoàn thiện để thích hợp với hoạt
động kinh doanh của công ty. Cơ cấu lao động có sự khác nhau giữa các phòng và cửa
hàng trong công ty. Cơ cấu này tuỳ thuộc vào đặc điểm riêng của từng phòng và cửa
hàng. Trong 57 lao động của công ty cuối năm 2002 cơ cấu bao gồm :
- 2 lao động có trình độ đại học chiếm 3,4 % lực lượng lao động.
- 6 lao động có trình độ cao đẳng chiêm 10,3% lực lượng lao động.
- 11 lao động có trình độ trung cấp chiếm 18,9% lực lượng lao động.

Là một trong những nhà cung cấp hàng đầu ở Quảng ninh nói chung, thị trường
Hạ long nói riêng về các loại ga, bếp ga nên thị trường của công ty rộng lớn và đa
dạng. Các sản phẩm công ty kinh doanh có mặt trên tất cả các huyện, thị trong tỉnh
thông qua các các đại lý của công ty trong khu vực. Và có thể nói các sản phẩm công
ty kinh doanh đều có khách hàng.
Đối với ga hoá lỏng , bếp ga khách hàng của công ty có thể được chia thành hai
loại chính.
 Loại nhóm các khách hàng công nghiệp và thương mại.
Khách hàng công nghiệp là những khách hàng mua hàng của công ty để phục
vụ cho sản xuất của mình còn khách hàng thương mại là khách mua hàng của công ty
và sau đó bán lại để kiếm lời. Hai loại khách hàng này tuy mục đích kinh doanh khác
nhau nhng đối với công ty và đặc trưng sản phẩm mà công ty cung cấp nên công ty
xếp 2 loại khách hàng này thành 1 nhóm. Các đặc trưng và yêu cầu của nhóm khách
hàng công nghiệp - thương mại:
+ Hỗ trợ kĩ thuật trong thiết kế và lựa chọn thiết bị: Ga lỏng cùng các công
nghệ sử dụng ga lỏng là sản phẩm mới tại thị trường Việt Nam nói chung và thị trường
Quảng ninh nói riêng, hiểu biết của các nhà sản xuất với chúng còn hạn chế. Cùng với
vai trò của công nghệ đối với sản phẩm cuối cùng của khách hàng sản xuất, các nhà
sản xuất luôn đòi hỏi sự hỗ trợ của các nhà cung cấp về hệ thống cung cấp ga lỏng, tư
vấn lựa chọn thiết bị sử dụng phù hợp. Để đáp ứng đợc nhu cầu này đòi hỏi các nhà
cung cấp phải hiểu sâu về ngành hàng và có kiến thức chuyên môn mới tiếp cận được
nhóm khách hàng này.
+ Nhiều lực lượng ảnh hưởng tới quá trình mua hàng: Đặc thù của nhóm khách
hàng này là có nhiều bộ phận, cá nhân tham gia vào quá trình lựa chọn và quyết định
mua hàng hoá. Các bộ phận này thường có tính chuyên nghiệp cao trong đàm phán,
giao dịch và lựa chọn hàng hoá, nhà cung cấp. Đặc điểm này đòi hỏi nhà cung cấp
không những có kiến thức về kĩ thuật ngành hàng mà còn phải hiểu biết, nắm được các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status