Biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của nghành dệt may - Pdf 11

lời nói đầu
Bất cứ doanh nghiệp nào muốn tồn tại, phát triển thì yêu cầu hàng hoá
của họ phải có sức cạnh tranh cao. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam
đang phát triển kinh tế thị trờng với xu thế hội nhập, các hãng sản xuất ngày
một nhiều, nhu cầu của ngời tiêu dùng thì không ngừng nâng cao, các doanh
nghiệp càng phải liên tục không ngừng nghiên cứu tìm biện pháp nâng cao năng
lực cạnh tranh của chính mình. Doanh nghiệp có làm nh vậy trớc là để tồn tại và
phát triển sau là để góp phần tăng mức hội nhập của nền kinh tế Việt Nam trong
nền kinh tế thế giới toàn cầu hoá.
Trong mọi thời kỳ, khả năng cạnh tranh đợc coi là nguồn năng lợng thiết
yếu để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Thực tế cho thấy nguyên nhân dẫn
đến nguy cơ phá sản hay thành công trong kinh doanh dù ít dù nhiều đều có liên
quan đến khả năng cạnh tranh.
Ngành dệt may, một ngành đợc coi là có lợi thế nhất Việt Nam .Sự phát
triển của ngành có vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nền kinh tế đất nớc ta. Với sản phẩm đa dạng, nhiều chủng loại đồng thời
nhu cầu liên tục tăng lên cùng với xu thế tăng trởng kinh tế. Mức sống cao nhu
cầu ăn mặc cũng tăng, đó là điều tất yếu, hơn nữa sở thích thị hiếu ăn mặc mỗi
ngời một khác nên có thể phát triển một cách phong phú.
Tuy nhiên trên thực tế, ngành dệt may hiện nay ở nớc ta vẫn là một
ngành hoạt động hiệu quả kinh tế cha cao, sản xuất gia công là chính, công
nghệ lạc hậu, mẫu mã cha phong phú, phát triển cha đồng bộ giữa dệt và may,
nguồn lao động cha đợc sử dụng hợp lý...trong khi ta đang ở bớc đầu của thế kỷ
21, trớc xu thế hội nhập và cạnh tranh gay gắt. Do đó việc phân tích, đánh giá
đúng những yếu kém trong cạnh tranh của ngành dệt may, để từ đó có những
biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may là việc có tính cấp
thiết và có ý nghĩa.
Nhận thức đợc vấn đề đó, em mạnh dạn chọn đề tài: Biện pháp nâng
cao khả năng cạnh tranh của ngành dệt may làm đề tài cho đề án môn kinh
tế thơng mại của mình.
1

nhất.
Nh vậy có thể hiểu cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà trong đó các chủ thể
có sự so sánh, đấu tranh với nhau trong thực hiện sản phẩm để đạt các mục tiêu
chiếm lĩnh thị trờng, giành điều kiện tiêu thụ có lợi, tối đa hoá lợi ích.
Một doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng tất yếu phải cạnh tranh với các
hãng sản xuất cùng mặt hàng hoặc có công dụng tơng tự và để chiến thắng đối
thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng
hoá của mình. Vậy khả năng cạnh tranh là gì?
Cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về khả năng cạnh tranh cũng nh
các yếu tố ảnh hởng tới khả năng cạnh tranh của một ngành.
3
*Quan niệm của Fafchamps: Khả năng cạnh tranh của một doanh
nghiệp là khả năng là khả năng của doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm
với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trờng. Theo cách
hiểu này, doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lợng tơng
tự sản xuất của doanh nghiệp khác nhng với chi phí thấp hơn thì đợc coi là có
khả năng cạnh tranh cao hơn (Peters.G.H.khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp, Dartmouch, 1995, trang 343).
*Quan niệm của Randall: Khả năng cạnh tranh là khả năng giành đợc và
duy trì thị phần trên thị trờng với lợi nhuận nhất định.
*Quan niệm của Dunning: Khả năng cạnh tranh là khả năng cung sản
phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị trờng khác nhau mà không phân biệt
nơi bố trí sản xuất của doanh nghiệp đó.
*Quan niệm khác cho rằng: Khả năng cạnh tranh là trình độ của công
nghiệp có thể sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trờng đồng thời duy
trì đợc mức thu nhập thực tế của mình.
Có thể nhận thấy rằng các quan điểm trên đều xuất phát từ các góc độ
khác nhau, nhng đều có liên quan đến hai khía cạnh: chiếm lĩnh thị trờng và có
lợi nhuận. Từ đó có thể hiểu khả năng cạnh tranh là năng lực nắm giữ thị phần
nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận đợc, vì vậy khi thị phần tăng lên cho

học kỹ thuật. Không ai có thể phủ nhận vai trò của sự phát triển và ứng dụng
khoa học công nghệ. Nhờ sự phát triển đó mà ngày nay ngời ta mới có thể có đ-
ợc mức hởng thụ nh ngày nay, đạt đợc sự thoả mãn cao mà chi phí thấp.
Các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá không ngừng ứng dụng các tiến bộ khoa
học nhằm có đợc những hàng hoá có chất lợng cao, mẫu mã đẹp, cũng bởi sản
xuất hàng hoá có sự giúp đỡ của khoa học công nghệ nên năng suất lao động
cao. Tất cả các điều này làm cho chi phí để sản xuất ra một sản phẩm thấp từ đó
làm cho giá thành sản phẩm thấp, nâng cao đợc năng lực cạnh tranh của sản
phẩm, giá thành sản phẩm bán ra trên thị trờng sẽ thấp hơn giá cả thị trờng.
*Cạnh tranh là công cụ tớc quyền thống trị về mặt kinh tế trong lịch sử.
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ làm cho các doanh nghiệp phải cùng nhau
nâng cao chất lợng hàng hoá và hạ giá thành sản phẩm. Doanh nghiệp nào có đ-
ợc sản phẩm mới, dịch vụ mới mà tung ra thị trờng đầu tiên thì doanh nghiệp đó
có quyền hởng lợi nhuận lớn nhất trong kinh doanh, sẽ thống trị về mặt kinh tế.
Chính vì vậy bất cứ khi nào cũng có thể có lúc sản phẩm hàng hoá mình bán ra
không phải là sản phẩm mới hoặc có nhiều u điểm tiến bộ. Vì vậy bất cứ khi
nào một doanh nghiệp cũng có thể mất đi sự thống trị về mặt kinh tế.
5
3. Bản chất của cạnh tranh
Cạnh tranh là hiện tợng phổ biến trong nền kinh tế thị trờng để đạt đợc
mục tiêu lợi nhuận. Sẽ không thể có doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh nếu
chúng sống trong một môi trờng không có cạnh tranh. Nói cách khác, một
doanh nghiệp rất khó trở thành doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh nếu đợc
dung dỡng trong môi trờng thiếu tính cạnh tranh.
Trên thực tế, không thể có một thị trờng nào ở trạng thái cạnh tranh hoàn
hảo hoặc hoàn toàn độc quyền. Theo quy luật chung cạnh tranh luôn có xu h-
ớng dẫn đến độc quyền. Bản chất của cạnh tranh tự bản thân nó luôn có xu hớng
dẫn đến độc quyền. Về nguyên tắc ngời ta coi một nền kinh tế cản trở sự cạnh
tranh là một nền kinh tế thiếu tính cạnh tranh và ngợc lại.
4. ý nghĩa của cạnh tranh

đầu vào.
Còn đối với ngời tiêu dùng, do đợc tự do lựa chọn hàng hoá mình định
mua, số doanh nghiệp sẵn sàng đáp ứng loại hàng hoá mình mua thì rất nhiều
nên hàng hoá mua đợc hoàn toàn tự làm hài lòng, mang lại lợi ích cho ngời tiêu
dùng là tối đa.
II. Những nội dung, công cụ của cạnh tranh và các chỉ tiêu
đánh giá khả năng cạnh tranh
Để cạnh tranh với đối thủ trên thị trờng, các doanh nghiệp đang sử dụng
các công cụ phổ biến trong quá trình cạnh tranh sôi động hiện nay là:
*Thứ nhất, chất lợng của hàng hoá.
Trên thơng trờng nếu nhiều hàng hoá có công dụng nh nhau, giá cả bằng
nhau thì ngời tiêu dùng sẵn sàng mua hàng hoá nào có chất lợng cao hơn. Do
đó, đây là công cụ đầu tiên và quan trọng mà các doanh nghiệp sử dụng để
thắng các đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, chất lợng hàng hoá phụ thuộc vào điều
kiện kỹ thuật của từng đơn vị sản xuất, từng ngành, từng vùng và từng quốc gia.
*Thứ hai, giá cả hàng hoá.
Hai hàng hoá có cùng công dụng, chất lợng nh nhau thì ngời tiêu dùng sẽ
mua hàng hoá nào có giá rẻ hơn. Giá cả hàng hoá đợc quyết định bởi giá trị
hàng hoá. Song sự vận động của giá cả còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán
của ngời tiêu dùng. Mức sống còn thấp, ngời tiêu dùng tìm mua những hàng hoá
có giá rẻ. Thực tế cho thấy, phần lớn hàng hoá tiêu dùng của Trung Quốc đợc
tiêu thụ mạnh tại Việt Nam. Các nhà sản xuất đã thực hiện một chiến lợc kinh
7
doanh là làm ra hàng hoá có khả năng thanh toán thấp về phía mình. Trong kinh
doanh để cạnh tranh về giá, một số doanh nghiệp chấp nhận lời ít, bán với giá
thấp nhng dùng số nhiều để thu lại. Ngợc lại, khi mức sống cao hơn ngời tiêu
dùng sẽ quan tâm đến hàng hoá có chất lợng tốt, chấp nhận mức giá cao.
*Thứ ba, áp dụng khoa học kỹ thuật và quản lý hiện đại.
Sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp sẽ tăng lên khi giá cả hàng
hoá cá biệt của họ thấp hơn giá cả trung bình trên thị trờng. Để có lợi nhuận đòi

Trớc khi bán hàng, các doanh nghiệp thực hiện các động tác nh quảng
cáo, giới thiệu, hớng dẫn thị hiếu khách hàng, các hoạt động triển lãm, trng bày
hàng hoá. Những động tác này hấp dẫn, lôi cuốn khách hàng đến với sản phẩm
cuảe doanh nghiệp mình.
Trong quá trình bán hàng, khâu quan trọng nhất là nghệ thuật chào mời
khách hàng. Điều này đòi hỏi ngời bán hàng phải thật sự tôn trọng khách hàng,
lịch sự, ân cần và chu đáo.
Sau khi bán hàng, phải có các dịch vụ nh bao bì và giao hàng hóa đến tận
tay ngời ngời mua, các dịch vụ bảo hành, sửa chữa hàng hoá...Những dịch vụ
này tạo sự tin tởng, uy tín của doanh nghiệp đối với ngời tiêu dùng. Sau nữa, ph-
ơng thức phục vụ trên sẽ phát huy tác dụng khi đợc đảm bảo các yêu cầu sau:
các dịch vụ phải nhanh, chính xác...Phơng thức thanh toán phải linh hoạt, đa
dạng bao gồm các loại nh: thanh toán một lần, thanh toán chậm (bán chịu), bán
trả góp, bán có thởng, thanh toán linh hoạt khi trả bằng ngoại tệ...
*Thứ sáu, tính độc đáo của sản phẩm .
Mọi sản phẩm khi xuất hiện trên thị trờng đều mang một chu kỳ sống
nhất định, đặc biệt vòng đời của nó sẽ rút ngắn khi xuất hiện sự cạnh tranh.
Để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm , các doanh nghiệp dùng nhiều biện pháp
trong đó có biện pháp là thờng xuyên cải tiến mọi mặt sản phẩm , tạo ra nét độc
đáo riêng, liên tiếp tung ra thị trờng những sản phẩm thay thế sản phẩm cũ.
Trong điều kiện doanh nghiệp cha đủ sức tạo ra tính độc đáo của sản phẩm
mới, thì có thể sử dụng nhãn hiệu của một sản phẩm đang đợc uy tín trên thi tr-
ờng thông qua hình thức liên doanh. Sự thay đổi thờng xuyên về mẫu mã, nhãn
hiệu sản phẩm cũng nh không ngừng nâng cao chất lợng, tính năng hàng hoá sẽ
tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp hiện nay.
*Thứ bảy, chữ tín.
Chữ tín là công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp. Trong quá trình kinh
doanh các doanh nghiệp sử dụng nhiều biện pháp nhằm giành giật khách hàng
về phía mình, đặc biệt thực hiện linh hoạt trong khâu hợp đồng, thanh toán nh:
9

cửa của nền kinh tế, vai trò của nhà nớc, khả năng tài chính, cơ sở hạ tầng, công
nghệ, quản lý, lao động, thể chế.
10
Micheal Porter lại đề xuất cách khác để nói về các yếu tố ảnh hởng đến
khả năng cạnh tranh của các ngành. Đó là: Các điều kiện về yếu tố đầu vào
(nhân tố sản xuất ), các điều kiện về cầu, các ngành liên quan và các ngành hỗ
trợ, chiến lợc, cấu trúc thị trờng và mức độ cạnh tranh. Ngoài các yếu tố nói
trên, thời cơ và đặc biệt vai trò củ1 nhà nớc đợc xem nh những điều kiện tổng
hợp thúc đẩy hoặc hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
1- Những nhân tố sản xuất
Yếu tố sản xuất là các yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất
nh lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, cơ sở hạ tầng.
Các yếu tố sản xuất là đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra lợi thế cạnh
tranh. Hệ thống các yếu tố sản xuất bao gồm các yếu tố sản xuất cơ bản nh khí
hậu, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và các yếu tố yếu tố sản xuất mới gồm
cơ sở hạ tầng, thông tin, trình lao động, khả năng nghiên cứu phát triển, bí
quyết công nghệ.
Bất cứ hãng sản xuất nào cũng đợc đặt trong một môi trờng nhất định với
các yếu tố cơ bản nhất định. Việc xác định để đặt hãng sản xuất của mình trong
các yếu tố đó sao cho phù hợp rất có ý nghĩa, đặc biệt những ngành phụ thuộc
nhiều vào điều kiện tự nhiên, chi phí vận chuyển cao nh ngành sản xuất cà
phê...
Điều kiện khí hậu có thể ảnh hởng tới quá trình sinh học của nhiều loại
sản phẩm đặc biệt sản xuất chế biến các loại sản phẩm từ nông nghiệp. Nếu
hãng đặt ở nơi có khí hậu phù hợp thì sẽ có năng suất cao hơn nhiều so với nơi
không phù hợp khí hậu. Bởi khí hậu phù hợp sẽ đỡ bị hỏng đi rất nhiều.
Còn điều kiện tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý nếu hãng đặt tại nơi
sẵn có tài nguyên, lại gần nơi có nhu cầu tiêu thụ sẽ giúp hãng giảm chi phí vận
chuyển đi rất nhiều, trong khi ngời ta ớc tính chi phí vận chuyển trong giá thành
sản phẩm chiếm từ 30% đến 80%.

trình độ lao động. Đội ngũ lao động có tay nghề cao mới có thể tạo ra sản phẩm
đạt yêu cầu với năng suất cao, có nh thế sản phẩm của hãng mới bán đợc rộng
rãi với khối lợng lớn, khả năng cạnh tranh hàng hoá mới cao, từ đó mới thu đợc
lợi nhuận tối đa.
Để tăng hơn nữa khả năng cạnh tranh của mình thì hãng cần quan tâm tới
vấn đề áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ. Hãng cần thu hút chất xám về
cho mình, đầu t nghiên cứu và phát triển tạo ra những bí quyết công nghệ để có
12
đợc những sản phẩm u việt, hiện đại, mẫu mã đẹp với chất lợng cao đáp ứng tốt
nhu cầu của khách hàng.
Qua phân tích trên ta nhận thấy các yếu tố sản xuất cơ bản tạo ra những
lợi thế ban đầu và kết quả của nó là cung cấp khả năng đầu t để mở rộng và phát
triển các yếu tố sản xuất mới và ngợc lại sự hạn chế về các yếu tố sản xuất cơ
bản cũng có thể tạo ra áp lực để phát triển các yếu tố sản xuất mới. Đây là mối
quan hệ phức tạp giữa các yếu tố sản xuất cơ bản và các yếu tố sản xuất mới.
Việc cân nhắc thiên về yếu tố nào hơn là vấn đề không phải dễ dàng và tất yếu
phải có bởi không phải tất cả mọi cái đều tuyệt đối. Cả hai yếu tố đó đều ảnh h-
ởng quan trọng quyết định đến năng lực cạnh tranh của hãng. Hãng muốn nâng
cao năng lực cạnh tranh của mình thì trớc hết hãng cần phải tạo ra đợc lợi thế về
các yếu tố đó, những yếu tố trực tiếp tác động đến năng lực cạnh tranh của
hãng.
2. Điều kiện của cầu
Các hãng trong một ngành còn phải cạnh tranh với các ngành sản xuất
các sản phẩm thay thế. Các sản phẩm thay thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm
năng của một ngành bằng cách đặt ngỡng tối đa cho mức giá mà các hãng trong
ngành có thể kinh doanh có lãi. Khả năng lựa chọn về giá cả của các sản phẩm
thay thế càng hấp dẫn thì ngỡng chặn trên đối với lợi nhuận của ngành càng
vững chắc hơn. Chính vì lý do đó, bất kỳ lúc nào khách hàng cũng có thể mua
sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trong ngành và cả những sản phẩm thay thế
nếu sản phẩm của công ty không đáp ứng yêu cầu của khách hàng hoặc cha

Khách hàng khác nhau có thể đòi hỏi khác nhau về mức độ dịch vụ, chất
lợng và độ bền sản phẩm, thông tin cần thiết trong việc chuẩn bị bán hàng...Nói
chung là khác nhau về nhu cầu mua hàng. Những nhu cầu khác nhau là nguyên
nhân tại sao khách hàng có những lựa chọn mua của hãng sản xuất khác nhau.
Do sự tăng trởng khối lợng hàng mua của mỗi khách hàng một khác hay nói
cách khác đó là khách hàng sẽ mua tiếp với khối lợng sản phẩm lớn nữa hay
không?
Do nhiều nguyên nhân mà chi phí cho việc phục vụ những khách hàng
riêng biệt sẽ khác nhau, thờng những khách hàng mua với khối lợng ít thì đắt
hơn so với khách hàng có khối lợng mua nhiều do giảm đợc chi phí vận chuyển.
Chính tính hỗn hợp này việc lựa chọn những khách hàng mục tiêu rất
quan trọng, hãng nên bán cho khách hàng thuận lợi nhất có thể. Hãng có khả
năng tới đâu, có thể đáp ứng nhu cầu của nhóm khách hàng nào. Sự lựa chọn
khách hàng, xem xét về cầu, có tác động mạnh tới khả năng cạnh tranh, tới tỷ lệ
14
tăng trởng của hãng. Có xem xét đúng năng lực của mình, lựa chọn đúng nhóm
khách hàng mục tiêu thì mới phát huy đợc năng lực của hãng, tăng đợc khả
năng cạnh tranh của hãng. Sự ăn khớp đó cho phép hãng đạt đợc mức khác biệt
hoá sản phẩm cao nhất so với các đối thủ cạnh tranh trớc con mắt của khách
hàng, đồng thời nó cũng làm giảm đến mức tối thiểu những chi phí phục vụ
khách hàng đó so với các đối thủ cạnh tranh. Đáp ứng đợc nhu cầu mong muốn
khách hàng một cách tốt nhất, thu hút đợc khách hàng mua sản phẩm của
mình, tạo ra uy tín cho hãng, củng cố lòng tin trong khách hàng về hãng để các
lần mua tiếp theo khách hàng sẽ mua sản phẩm của hãng chứ không phải của
đối thủ cạnh tranh.
3. Các ngành liên quan và hỗ trợ
Bất kỳ một đối tợng, sự việc nào tồn tại, phát triển cũng phụ thuộc một
cách khách quan vào những đối tợng, sự việc khác.
Việc phát triển một ngành sản xuất cũng vậy, năng lực cạnh tranh của nó
phụ thuộc rất lớn vào sự hiện diện của các ngành liên quan và hỗ trợ.

Những đối thủ mới của ngành mang đến năng lực sản xuất mới, sự mong
muốn chiếm lĩnh một thị phần nào đó và thờng là những nguồn lực to lớn. Giá
bán có thể bị kéo xuống hoặc chi phí của các hãng đi trớc có thể bị tăng lên và
kết quả là làm giảm mức lợi nhuận. Các công ty đa dạng hoá hoạt động của
mình thông qua việc xâm nhập vào một ngành từ những thị trờng khác thờng sử
dụng các nguồn lực của họ để tạo ra một cuộc cải tổ, sự xâm nhập vào một
ngành với dự định xây dựng một vị trí trên thị trờng kiểu đó đợc coi nh một sự
nhập cuộc của đối thủ mới mặc dù không có thực thể hoàn toàn mới nào đợc tạo
ra. Sự nhập cuộc đó cần đợc xem xét dự báo trớc bởi nó có ảnh hởng tới năng
lực cạnh tranh của hãng về lâu dài.
Cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ đang tồn tại sử dụng các chiến thuật nh
cạnh tranh về giá, các cuộc chiến về quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và tăng c-
ờng phục vụ khách hàng hoặc bảo hành. Cuộc tranh đua xảy ra bởi vì một hoặc
nhiều đối thủ cảm thấy bị chèn ép hoặc lấy đó làm cơ hội để cải thiện vị trí.
Trong đa số các ngành những nớc đi của một hãng có những hiệu ứng rõ ràng
đối với các đối thủ của nó và nh thế có thể kích thích sự trả đũa hoặc những cố
gắng chống trả lại có nghĩa là các hãng phụ thuộc lẫn nhau . Mô hình hành
động kiểu này có thể có hoặc không cho phép các hãng hoạt động một cách chủ
động và toàn ngành, xét một cách toàn thể sẽ tôt lên. Nếu các nớc đi và phản
hồi đó cứ liên tục leo thang thì tất cả các hãng trong ngành đều giảm năng lực
cạnh tranh, phải chịu tổn thất và yếu kém hơn trớc.
16
Các hãng liên tục chiến đấu đối đầu trong cuộc cạnh tranh. Họ có thể mất
một thời gian vất vả để thăm dò chính xác ý định của nhau và để đi đến luật
của cuộc chơi cho toàn ngành. Một sự lựa chọn chiến lợc đúng đối với đối thủ
này có thể lại là sai đối với đối thủ khác.
Một khi các lực lợng ảnh hởng tới cuộc cạnh tranh của ngành và các
nguyên nhân sâu xa của chúng đã đợc dự báo thì nhiệm vụ của hãng là phải xây
dựng điểm mạnh, yếu của mình xét trong mối tơng quan với ngành đặc biệt là
thế đứng của hãng. Hãng đứng ở đâu để chống chọi cuộc cạnh tranh từ phía các

sách trợ cấp, tín dụng và giáo dục. Nhu cầu thị trờng nội địa cũng có thể bị ảnh
hởng do việc chính phủ đa ra các quy định về tiêu chuẩn chất lợng, hoặc các
quy định khác ảnh hởng tới hành vi và nhu cầu của khách hàng. Chính phủ có
thể ảnh hởng tới ngành công nghiệp hỗ trợ hoặc liên quan thông qua các quy
định về cạnh tranh và thuế. Theo lý thuyết này thì doanh nghiệp muốn phát
triển thì tập trung sản xuất các sản phẩm mà bốn yếu tố trên là thuận lợi nhất.
18
Chơng II:
Đánh giá năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp dệt may nhà nớc trong
giai đoạn hiện nay
I. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật tác động tới năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp dệt may Việt Nam
1. Các nhân tố sản xuất và các ngành hỗ trợ liên quan
Trong sản xuất kinh doanh, nguyên liệu đóng vai trò quan trọng và có
ảnh hởng quyết định chất lợng sản phẩm và hiệu quả sản xuất. Tại Việt Nam
ngành dệt may sử dụng nguyên liệu chính là bông xơ, xơ sợi tổng hợp, len, đay,
tơ tằm...trong đó quan trọng nhất là bông xơ và xơ sợi tổng hợp.
Hiện nay Việt Nam mới sản xuất đợc các loại xơ dệt chính là bông và tơ
tằm. Chúng ta có điều kiện thuận lợi về trồng bông và có khả năng khai thác đ-
ợc 25.000 đến 30.000 hecta diện tích trồng bông cung cấp cho ngành dệt
khoảng 10.000 tấn/năm. Diện tích trồng dâu trên cả nớc hiện đạt khoảng 38.000
hecta, cho 1.500 tấn tơ kén.
Thực tế sản phẩm dệt tơ tằm trong nớc không nhiều, chất lợng cha cao,
còn biến động lớn về cả chất lợng lẫn sản phẩm. Nguồn xơ sợi tổng hợp sử dụng
hiện tại vẫn còn phải nhập 100%, hàng năm vẫn nhập khoảng 25.000 tấn xơ PE
và 6.000 tấn sợi PETEX .
Những năm gần đây, sản xuất bông trong nớc đợc chú ý quan tâm hơn
nhng cũng mới chỉ đáp ứng đợc khoảng3% đến 5% nhu cầu và bông vẫn cha có
vị trí xứng đáng trong những cây công nghiệp quan trọng ở nóc ta.

sản phẩm dệt may. Cùng với thu nhập của thế giới tăng lên, nhu cầu ăn mặc,
mua sắm cũng tăng lên. Ngoài ra, hoạt động thời trang diễn ra mang tính chất
xuyên quốc gia, sẽ là cơ hội lớn cho ngành dệt may phát triển rất mạnh trong
thời gian tới. Điều kiện thời tiết, khí hậu mỗi nớc một khác nhau, các doanh
nghiệp dệt may có thể phát triển loại sản phẩm phù hợp khả năng của mình
hoặc cung cấp những sản phẩm khác nhau thích ứng với tính mùa vụ trong năm.
Đời sống khá lên, con ngời lại có xu hớng quay về với thiên nhiên. Do vậy,
những sản phẩm dệt may có xuất xứ từ thiên nhiên nh tơ tằm, lanh, thổ cẩm...sẽ
là những sản phẩm đợc ngời tiêu dùng thế giới rất a chuộng mà Việt Nam ta lại
có lợi thế về những mặt này.
20
Không nói đâu xa, Việt Nam có dân số gần 80 triệu ngời cũng đã là một
thị trờng tiềm năng cho tiêu thụ các loại hàng hoá nói chung và hàng hoá dệt
may nói riêng. Trong tơng lai, đời sống của tầng lớp dân c ngày càng đợc cải
thiện thì nhu cầu sử dụng hàng hoá dệt may ngày càng tăng thúc đẩy ngành dệt
may ngày càng phát triển, mở rộng sản xuất.
Không những nhu cầu ăn mặc mua sắm tăng lên mà những đòi hỏi chất l-
ợng, mẫu mã của sản phẩm đối với hàng dệt may ngày càng tăng. Ngời ta a sản
phẩm của hãng nào chất lợng tốt, mẫu mã phong phú mà giá lại rẻ.
Nh vậy, thị trờng tiêu thụ của ngành dệt may rộng lớn, đâu đâu cũng có
nhu cầu. Song với sự phát triển ngày càng lên cao của nhận thức con ngời, ngời
ta hớng tới sản phẩm chất lợng, mẫu mã ngày một cao và phong phú hơn. Điều
này thúc đẩy các doanh nghiệp dệt may ngày một nâng cao khả năng cạnh tranh
của mình.
Doanh nghiệp Việt Nam của ta ngoài việc cạnh tranh với nhau trên thị tr-
ờng thì còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp dệt may nớc ngoài. Họ có u
thế là giá thành không cao lắm đặc biệt sau năm 1997 (khủng hoảng tài chính
tiền tệ khu vực do sự mất giá của đồng tiền bản địa ) mà sản phẩm dệt may Việt
Nam trở nên đắt hơn, họ tự túc nguyên liệu và phụ kiện chất lợng cao nên càng
giảm giá thành sản phẩm , hơn nữa nhãn hiệu của họ quen thuộc với ngời tiêu

may sang Nhật Bản; Quyết định số 55/2001 /QĐ Thủ tớng chính phủ đã phê
duyệt chiến lợc phát triển và một số cơ chế chính sách hỗ trợ cho ngành dệt
may từ nay đến năm 2010. Theo đó, ngành dệt may sẽ đợc tạo điều kiện phát
triển trở thành ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất nhập khẩu,
thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nớc.
So với nhiều ngành khác, vốn đầu t để đổi mới thiết bị trong ngành dệt
may nói chung tăng khá nhanh. Hiện nay vốn đầu t của Tổng công ty dệt Việt
Nam (VINATEX) 4.000 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên so với yêu cầu thì còn rất
thấp. Theo tính toán của các nhà kinh tế thì đầu t cho ngành dệt may Việt Nam
phải ở mức từ 2 đến 4 tỷ USD mới đạt mục tiêu mà chính phủ đề ra.
Nhờ có vốn các doanh nghiệp có thể trang bị thêm cơ sở vật chất, đầu t
theo chiều sâu, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lợng sản phẩm . Tuy nhiên các
doanh nghiệp nhà nớc địa phơng lại bị giảm sút về vốn đầu t, còn các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh có số vốn nhỏ.
22
II.Thực trạng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp dệt
may nhà nớc.
Nh đã biết, ngành dệt may của Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời, xét
toàn ngành nói chung, ngành dệt may đã đạt đợc những thành tựu đáng kể nhờ
có những thuận lợi từ phía tự nhiên cũng nh sự lỗ lực cố gắng của các doanh
nghiệp, cộng với những điều kiện thuận lợi mà nhà nớc tạo ra. Song bên cạnh
đó vẫn tồn tại những hạn chế cùng những khó khăn cần đợc giải quyết.
1.Những thành tựu và những thuận lợi về khả năng cạnh tranh của
các doanh nghiệp dệt may nhà nớc Việt Nam
Chế độ bao cấp đợc xoá bỏ nhng chính phủ vẫn thi hành chính sách cấp
vốn và hỗ trợ đầu t từ ngân sách nhà nớc theo hớng tập trung vào những dự án
công trình đem lại hiệu quả đối với nền kinh tế. Doanh nghiệp dệt may của nhà
nớc nằm trong danh mục đợc u tiên hỗ trợ đầu t của nhà nớc.
Bên cạnh nguồn vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc, các doanh nghiệp
dệt may còn đợc u tiên trong việc vay vốn tín dụng đầu t của nhà nớc, kể cả

khu vực công nghiệp (khoảng 1,6 triệu lao động); Góp 14,8% tổng kim ngạch
xuất khẩu; Góp 31% GDP của công nghiệp chế biến.
Trong 5 năm vừa qua mức độ tăng trởng chung của hàng dệt may tăng
bình quân hàng năm khoảng 11%.
Ngành dệt may không chỉ thực hiện mục tiêu đáp ứng nhu cầu trong nớc
mà còn khai thác cả thị trờng nớc ngoài. Trong danh mục hàng xuất khẩu những
năm gần đây hàng dệt may luôn chiếm u thế, kim ngạch hàng xuất khẩu hàng
dệt may tăng lên nhanh chóng , tăng từ 1150 triệu USD (năm 1996) lên 1747
triệu USD (năm 1999) và tăng lên 2150 triệu USD (năm 2001), riêng 7 tháng
đầu năm 2002 đã đạt 1249 triệu USD.
Một điểm nổi bật nhất của hàng dệt may Việt Nam là có đến 70% sản
phẩm đợc xuất khẩu theo phơng thức gia công.Việc xuất khẩu theo hình thức
gia công tuy có kém lợi thế hơn so với xuất khẩu trực tiếp song u điểm của nó
sử dụng nhiều lao động và đầu t vốn không lớn.
Trong khoảng chục năm trở lại đây, gia công hàng may mặc xuất khẩu
của các doanh nghiệp dệt may đạt đợc bớc tiến đáng kể. Nhờ phát triển mạnh
phơng thức gia công hàng dệt may xuất khẩu mà vốn đầu t cả trong và ngoài n-
ớc vào lĩnh vực đã và đang tăng mạnh. Tổng công ty dệt may trong giai đoạn
1996-1999 đầu t khoảng 3.500 tỷ đồng, ngoài ra các đơn vị trong tổng công ty
24
dệt may còn phối hợp với nhiều địa phơng đầu t hàng trăm tỷ đồng để xây dựng
dây chuyền sản xuất.
Theo thông tin mới nhất tháng 10 năm 2002 nhiều công ty nhà nớc cùng
một số công ty khác đã kết hợp tổ chức luyện thi thợ giỏi, thao diễn kỹ thuật với
chế độ nâng bậc hàng năm, nhờ đó mà tạo đợc năng suất lao động mới, chất l-
ợng sản phẩm tăng, đồng thời tạo động lực khuyến khích đông đảo công nhân
hăng hái tham gia. Đồng thời phong trào thi đua công nhân viên chức lao động
đã phát huy 163 sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất với giá trị làm
lợi là 1,68 tỷ đồng. Trong cuộc thi này các công tuy dệt may nhà nớc nh công ty
dệt kim Hà Nội đã xây dựng và áp dụng thành công cùng một lúc hai hệ thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status