Thực trạng & Giải pháp đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của nghành dệt may VN - Pdf 11

Lời mở đầu
Cũng nh nhiều nớc phát triển khác, ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nớc, ngành dệt may đã trở thành một ngành công nghiệp
có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ đảm bảo cho nhu
cầu tiêu dùng thiết yếu của mỗi con ngời mà còn góp phần tạo công ăn việc làm
cho một số lợng lớn lao động, tạo điều kiện mở rộng thơng mại quốc tế và vơn
lên thành ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai cả nớc. Đảng và Nhà nớc ta
đã quyết tâm phát triển ngành dệt may Việt Nam trở thành một ngành công
nghiệp mũi nhọn, một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ đạo để thu ngoại tệ,
góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hoá và hiện đại
hoá đất nớc vào năm 2020.
Trong điều kiện tự do hoá thơng mại, nhất là sau thời điểm 1/ 1/ 2005 các nền
kinh tế phát triển nh Mỹ và EU xoá bỏ hoàn toàn hạn ngạch đối với sản phẩm
dệt may nhập từ các nớc thành viên của WTO theo hiệp định dệt may (ATC ), áp
lực cạnh tranh đối với ngành dệt may Việt Nam ngày càng tăng lên song cũng có
nhiều cơ hội hơn cho quá trình phát triển. Mặc dù có lợi thế về lao động, nguyên
liệu... nhng khả năng cạnh tranh của ngành dệt may còn nhiều hạn chế. Vậy làm
thế nào để chủ động khai thác có hiệu quả các lợi thế so sánh, khắc phục các mặt
yếu kém, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế là vấn đề sống còn đối với ngành dệt may Việt Nam. Đầu t là một giải
pháp quan trọng để ngành dệt may Việt Nam thực hiện mục tiêu đó.
Chính vì vậy, em quyết định chọn đề tài Thực trạng và giải pháp đầu t
nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam làm đề tài cho
luận văn tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn đợc chia ra làm 3 phần
chính:
Chơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về đầu t, khả năng cạnh tranh và
ngành dệt may
Chơng 2: Thực trạng đầu t nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành dệt
may Việt Nam
Chơng 3: Giải pháp đầu t nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành dệt

- Thời gian để tiến hành hoạt động đầu t phát triển thờng kéo dài lâu: thời
gian từ khi tiến hành đầu t cho đến khi các thành quả của nó phát huy tác dụng
thờng đòi hỏi nhiều năm và trong thời gian này sẽ có nhiều biến động xảy ra.
- Thời gian vận hành của kết quả đầu t thờng kéo dài, do đó sẽ chịu tác động
của các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế cả về mặt
tiêu cực lẫn tích cực.
- Các thành quả của hoạt động đầu t này là các công trình xây dựng sẽ hoạt
động ngay ở nơi mà nó đợc tạo dựng nên. Do đó, các điều kiện về địa lý, địa hình
tại đó có ảnh hởng lớn đến quá trình thực hiện đầu t.
- Hoạt động đầu t phát triển có tính rủi ro cao, đầu t càng lớn thì tính rủi ro
càng cao nhng lợi nhuận đem lại cũng rất lớn.
2. Vai trò của đầu t phát triển
Đầu t phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của
sự tăng trởng đợc thể hiện ở các mặt sau đây:
2.1. Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế của đất nớc
- 3 -
a, Đầu t vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu
Đầu t là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế.
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, đầu t phát triển thờng chiếm khoảng 24 -
28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nớc trên thế giới.
Mặt khác, khi thành quả của đầu t phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào
hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên kéo sản lợng tiềm
năng tăng và do đó giá cả sản phẩm giảm. Sản lợng tăng, giá cả giảm cho phép tăng
tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lợt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất. Sản xuất phát
triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập
cho ngời lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
b, Đầu t có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu t đối với tổng cầu và
đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu t, dù là tăng
hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ

t. Nếu không có sự đầu t thoả đáng sẽ không có tăng trởng kinh tế.
Kinh nghiệm các nớc cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấu
kinh tế và hiệu quả đầu t trong các ngành, các vùng lãnh thổ cũng nh phụ thuộc
vào hiệu quả của chính sách kinh tế nói chung. Thông thờng ICOR trong nông
nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, ICOR trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế chủ
yếu do tận dụng năng lực. Do đó, ở các nớc phát triển, tỷ lệ đầu t thấp thờng dẫn
đến tốc độ tăng trởng thấp.
d, Đầu t với việc tăng cờng khả năng khoa học và công nghệ đất nớc
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu t là điều kiện tiên quyết
của sự phát triển và tăng cờng khả năng công nghệ của nớc ta. Theo UNIDO,
Việt Nam đang là một trong 90 nớc kém nhất về công nghệ. Với trình độ công
nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Việt Nam sẽ gặp
rất nhiều khó khăn nếu không đề ra đợc một chiến lợc đầu t phát triển công nghệ
nhanh và vững chắc. Có hai con đờng cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu
phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nớc ngoài. Dù là nghiên cứu hay
nhập từ nớc ngoài đều cần phải có vốn đầu t. Mọi phơng án đổi mới công nghệ
không gắn với nguồn vốn đầu t sẽ là những phơng án không khả thi.
e, Đầu t và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh nghiệm của các nớc trên thế giới cho thấy con đờng tất yếu để tăng tr-
ởng nhanh nền kinh tế với tốc độ mong muốn là tăng cờng đầu t nhằm tạo ra sự
phát triển ở khu công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông, lâm, ng nghiệp
do những hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học, để đạt đợc tốc độ tăng tr-
ởng từ 5 - 6% là rất khó khăn nên đầu t quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Về cơ cấu lãnh thổ, đầu t có tác dụng giải quyết những mất cân đối về
phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình
trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế,
kinh tế, chính trị của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn
đạp thúc đẩy những cùng khác cùng phát triển
2.2. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh
Đầu t quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Để tạo dựng cơ

giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nớc. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị
sử sụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay.
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu t của Nhà nớc còn phục vụ công tác quản lý và
điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn tín dụng đầu t, Nhà nớc thực hiện việc
khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định hớng
chiến lợc của mình.
- Nguồn vốn đầu t của doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN): Đợc xác định là
thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các DNNN vẫn nắm giữ một khối
lợng vốn Nhà nớc khá lớn. Với chủ trơng tiếp tục đổi mới DNNN, hiệu quả hoạt
động của khu vực kinh tế này ngày càng đợc khẳng định, tích luỹ của các DNNN
ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu t toàn xã hội.
b, Nguồn vốn của khu vực t nhân
Nguồn vốn khu vực t nhân bao gồm: nguồn tiết kiệm của dân c, phần tích luỹ
của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Cùng với sự phát triển kinh tế
của đất nớc, một bộ phận không nhỏ trong dân c có tiềm năng về vốn do có
nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích luỹ truyền thống. Nhìn tổng quan, nguồn
- 6 -
vốn tiềm năng trong dân c không phải là nhỏ, tồn tại dới dạng vàng, ngoại tệ, tiền
mặt Trong những năm gần đây các loại hình doanh nghiệp dân doanh có
những bớc phát triển mạnh mẽ. Hoạt động đầu t từ khu vực này gia tăng mạnh.
3.2. Nguồn vốn nớc ngoài
Nguồn vốn đầu t nớc ngoài trên phạm vi rộng là dòng lu chuyển vốn quốc tế.
Về thực chất, các dòng lu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao
nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới. Theo tính chất lu chuyển vốn,
có thể phân loại các nguồn vốn nớc ngoài nh sau:
- Tài trợ phát triển chính thức (ODF) bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức
(ODA) và các hình thức tài trợ phát triển chính thức trong đó ODA chiếm tỷ
trọng chủ yếu.
- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thơng mại.
- Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI).

II/ Lý luận về khả năng cạnh tranh
1. Khái niệm và các lý luận về cạnh tranh
1.1. Khái niệm
Cạnh tranh: cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những ngời,
những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích nh nhau
(1)
Xét theo quan điểm tổng hợp: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ
thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt đ-
ợc mục tiêu kinh tế của mình, thông thờng là chiếm lĩnh thị trờng, giành lấy khách
hàng cũng nh các điều kiện sản xuất, thị trờng có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của
các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích. Đối với ngời
sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với ngời tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự
tiện lợi
(2)
1.2. Các lý luận về cạnh tranh
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, cạnh tranh cũng đợc hiểu theo
nhiều cách khác nhau và đợc trình bày dới nhiều góc độ và sản sinh ra nhiều lý
luận về cạnh tranh
a, Lý luận cạnh tranh cổ điển
Một đại diện tiêu biểu cho trờng phái kinh tế học cổ điển, ngời đợc coi là
nhà tiên tri của chủ nghĩa tự do kinh tế Adam Smith với học thuyết Bàn tay
vô hình đã chủ trơng tự do cạnh tranh. Ông cho rằng, cạnh tranh có thể phối
hợp kinh tế một cách nhịp ngàng, có lợi cho xã hội. Mặt khác, Smith cho rằng
cạnh tranh có tác dụng quan trọng trong việc thúc đẩy lao động và điều tiết
việc phân phối t bản một cách hợp lý. Trong tác phẩm Của cải của các dân
tộc, Adam Smith chỉ ra rằng: Chỉ có thông qua tự do cạnh tranh một cách
phổ biến mới xác lập đợc một cách phổ biến sự quản lý tốt đẹp.
b, Lý luận cạnh tranh của trờng phái cổ điển mới
Vào nửa cuối thể kỷ XIX, các nhà kinh tế học thuộc trờng phái cổ điển mới
cho ra đời t tởng về thể chế kinh tế cạnh tranh hoàn hảo lấy thị trờng tự do hoặc

nhân vật có uy tín về sách lợc cạnh tranh quốc tế trên thế giới ngày nay. Porter đa ra
quan điểm về lợi thế cạnh tranh quốc gia. Porter cho rằng, của cải nhiều hay ít là do
năng suất của sản xuất quyết định. Cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải kiên trì
nâng cao năng suất sản xuất ngành bằng cách nâng cao chất lợng sản phẩm, làm nổi
bật nét đặc sắc của sản phẩm, cải tiến kỹ thuật sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Mặt khác, khi một nớc trực tiếp tham gia cạnh tranh quốc tế thì tiêu chuẩn về năng
suất đối với mỗi ngành trong nớc ấy không còn là tiêu chuẩn trong nớc nữa mà là tiêu
chuẩn quốc tế. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp trong nớc chẳng những phải cạnh
tranh với nhau trong nớc, mà còn phải cạnh tranh với doanh nghiệp nớc ngoài.
2. Lý luận về khả năng cạnh tranh
2.1. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
a, Khái niệm và các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Khái niệm: Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đạt đợc tố độ tăng tr-
ởng cao và bền vững của nền kinh tế, thể hiện ở năng lực điều chỉnh chính sách
của Nhà nớc và khả năng thích ứng linh hoạt của doanh nghiệp khi điều kiện cạnh
tranh trên thị trờng trong nớc và quốc tế thay đổi
(1)
(1)
Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia - Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung -
ơng, Bộ Kế hoạch và đầu t
- 9 -
* Các yếu tố cấu thành năng lực canh tranh của nền kinh tế
Cho đến năm 1999, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đánh giá năng lực cạnh
tranh quốc gia trên 8 nhóm tiêu chí với 155 chỉ tiêu, vừa kết hợp điều tra mẫu
từng nớc, vừa tham dò ý kiến của 1.500 công ty lớn trên thế giới. Tám nhóm tiêu
chí bao gồm:
(1) Quy mô và độ mở của nền kinh tế: bao gồm các chỉ tiêu nh thuế quan và
các hàng rào phi thuế quan, chính sách tỷ giá hối đoái
(2) Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, bao gồm: bu chính viễn thông, giao
thông, cơ sở hạ tầng khác

Trung Quốc 28 32 41 47 33 38 46
Thái Lan 21 30 31 38 31 30 34
Malaisia 17 16 25 37 27 28 31
Indonesia 31 37 44 55 67 72 69
Nguồn: Kinh tế Việt Nam & Thế giới 2003-2004, Thời báo kinh tế Việt Nam và
Tạp chí Công nghiệp số 23/2004
Với những thành tựu kinh tế và sự ổn định chính trị đã đạt đợc trong những
năm gần đây, vị thế cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam đã đợc cải thiện. Năm
1998, Việt Nam đã có bớc phát triển vợt bậc tăng 10 bậc so với năm 1997 (thứ
hạng 49). Nhng từ năm 1998 năng lực cạnh tranh của nền kinh tế bị sụt giảm từ
39/53 nớc năm 1998 xuống 65/ 80 (năm 2002). Năm 2003, đã có sự thay đổi khi
thứ hạng năng lực cạnh tranh là 40/102 nớc, đó là dấu hiệu đáng mừng cho nền
kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển. Nhng nếu so sánh với một số n-
ớc trong khu vực, thứ hạng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn kém: năm
2001, Việt Nam thấp 7 bậc so với Indonesia, 15 bậc so với Trung Quốc, 24 bậc
so với Thái Lan và 25 bậc so với Malaysia. Đến năm 2003, khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế Việt Nam đã đợc nâng cao: tuy chỉ hơn Indonesia (xếp hạng 72)
nhng khoảng cách so với các nớc khác đợc rút ngắn: chỉ kém Trung Quốc 2 bậc,
Thái Lan 10 bậc và Malaysia là 12 bậc. Năm 2004 thứ tự xếp hạng năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế Việt Nam tụt 15 bậc so với năm 2003 do các yếu tố về năng
lực thể chế và môi trờng đầu t kinh doanh
Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn thấp so với các nớc trong
khu vực là do chất lợng của tăng trởng kinh tế cha cao và cha vững chắc (nh hệ
số bảo hộ trong những năm gần đây còn cao, tăng trởng do yếu tố năng suất thấp
và giảm); cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, cha phát huy đợc các lợi thế so
sánh của ngành và sản phẩm: khu vực dịch vụ tuy đợc đầu t khá song tỷ trọng
tăng chậm trong cơ cấu GDP, hệ thống dịch vụ hỗ trợ phát triển sản xuất vừa
thiếu, vừa yếu và kém hiệu quả. Bên cạnh đó, mặc dù phát huy các nguồn nội lực
cho đầu t phát triển có nhiều tiến bộ, vốn trong nớc chiếm trên 70% nhng cha
huy động hết đợc tiềm lực trong nớc và sự giảm sút của nguồn vốn đầu t trực tiếp

thu nhập thực tế của mình.
Các quan điểm này tuy có nhiều điểm khác nhau và cũng cha định nghĩa khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp một cách đầy đủ nhng qua đó có thể thấy khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào hai yếu tố là: khả năng chiếm
lĩnh thị trờng và khả năng thu đợc lợi nhuận. Hay khi doanh nghiệp thu đợc lợi
nhuận và thị phần của doanh nghiệp trên thị trờng sản xuất hàng hoá đó tăng lên
đồng nghĩa với việc khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là mạnh. Trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế thì thị trờng của doanh nghiệp không chỉ gói gọn là
thị trờng trong nớc nữa mà bao hàm cả thị trờng quốc tế (cạnh tranh khi xuất
khẩu hay cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu ngay tại thị trờng nội địa). Dó đó,
để nâng cao khả năng cạnh tranh, doanh nghiệp thờng xuyên phải đối mặt với
nhiều cơ hội và thách thức, tác động đến các yếu tố bên trong và bên ngoài.
+> Theo Michael Porter, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc
vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để tạo ra sản phẩm có chi
phí thấp và tính dị biệt của sản phẩm. Muốn nâng cao khả năng cạnh tranh,
doanh nghiệp cần xác định đợc lợi thế của mình mới có thể giành thắng lợi. Có
hai nhóm lợi thế cạnh tranh, đó là:
- 12 -
(1) Lợi thế về chi phí: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh.
Các yếu tố sản xuất nh đất đai, vốn và lao động thờng đợc xem là nguồn lực để
tạo lợi thế cạnh tranh
(2) Lợi thế về sự khác biệt: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá
trị cho ngời tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng cao tính
hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm. Lợi thế này cho phép thị trờng chấp nhận mức
giá thậm chí cao hơn đối thủ
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Khả năng cạnh tranh của một sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế so sánh
của nó. Các quan điểm cổ điển về khả năng cạnh tranh đều dựa trên việc so sánh
các yếu tố cấu thành nên sản phẩm nh: vốn, lao động, nguyên liệu, chi phí,giá
thành, giá bán Một sản phẩm đ ợc coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững

của nớc đó với ngành của nớc khác để chiếm lĩnh và bảo vệ thị trờng nớc mình.
Còn trên thị trờng cạnh tranh toàn cầu, sự cạnh tranh giữa các quốc gia khác
nhau về thực chất là sự cạnh tranh giữa các ngành kinh tế của các nớc đó dựa vào
lợi thế so sánh của mỗi nớc, về mỗi loại mặt hàng.
3. Các thớc đo khả năng cạnh tranh (công cụ cạnh tranh)
Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành kinh tế đợc đánh
giá bằng nhiều thớc đo và cũng bằng các công cụ này doanh nghiệp, ngành kinh
tế nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Các công cụ cạnh tranh chủ yếu:
3.1. Chất lợng sản phẩm
Chất lợng sản phẩm là công cụ hàng đầu để các doanh nghiệp cũng nh một
ngành kinh tế của một quốc gia cạnh tranh trên thị trờng. Đây cũng là công cụ
mang lại hiệu quả cao trong quá trình nâng cao khả năng cạnh tranh của chủ thể.
Do đặc điểm mỗi sản phẩm sản xuất ra có đặc trng khác nhau nên khả năng cạnh
tranh của một doanh nghiệp hay một ngành đợc quyết định bằng việc chất lợng
sản phẩm sản xuất ra cao hơn so với sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác,
của nớc khác và chất lợng đó phải luôn đợc giữ vững hoặc nâng cao hơn nữa.
Chất lợng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khả năng cạnh tranh của
một sản phẩm, của doanh nghiệp; quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp cũng
nh thị phần của doanh nghiệp trên thị trờng. Nhờ tăng chất lợng sản phẩm, dịch
vụ vị thế của doanh nghiệp ngày càng đợc củng cố và mở rộng, uy tín, danh tiếng
sẽ giúp doanh nghiệp thu hút đợc nhiều khách hàng, tăng lợi nhuận, mở rộng sản
xuất và qua đó tạo điều kiện để đầu t nâng cao chất lợng sản phẩm ngày càng
thích ứng hơn với thị trờng. Đối với một ngành kinh tế quốc dân thì nâng cao
chất lợng sản phẩm cũng là một yếu tố để ngành kinh tế đó có thể cạnh tranh với
sản phẩm cùng loại của nớc khác trên thị trờng nội địa, bảo vệ thị trờng trong nớc
và gia tăng thị phần trên thị trờng xuất khẩu sản phẩm.
Không những vậy, nâng cao chất lợng sản phẩm là biện pháp hữu hiệu để kết
hợp hài hoà các loại lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của ngành sản xuất với lợi
ích của ngời tiêu dùng, lợi ích của lao động. Qua đó tạo động lực mạnh mẽ để
tăng năng suất lao động và cho sự phát triển của doanh nghiệp trong tơng lai.

hoá sản phẩm hay cơ cấu mặt hàng đa dạng, phong phú sẽ giúp doanh nghiệp ổn
định doanh thu, tăng thị phần và phát triển một cách tốt nhất. Để đa dạng hoá sản
phẩm doanh nghiệp cần dựa vào lợi thế so sánh của mình, cũng nh lợi thế so sánh
của đất nớc mình để sản xuất ra những sản phẩm có chất lợng cao, đợc thị trờng
chấp nhận, phát huy đợc lợi thế tơng đối so với các doanh nghiệp khác trong nớc,
các doanh nghiệp của nớc khác. Nh vậy, sự đa dạng và vận động của thị trờng đòi
hỏi mỗi doanh nghiệp phải năng động cải tiến, hoàn thiện cơ cấu sản phẩm của
mình theo hớng đa dạng hoá nếu không muốn bị đào thải, không muốn bị mất đi
khả năng cạnh tranh của mình.
3.3. Giá cả sản phẩm
Giá cả sản phẩm đợc sử dụng làm công cụ cạnh tranh thông qua chính sách
giá bán mà doanh nghiệp áp dụng đối với thị trờng có sự kết hợp với một số điều
kiện khác. Giá là một trong những công cụ quan trọng trong chiến lợc cạnh tranh
của chủ thể cạnh tranh, cạnh tranh bằng giá đồng nghĩa với việc sản xuất với chi
phí thấp để bán với mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh trên thị trờng.
- 15 -
Giá của một sản phẩm trên thị trờng đợc xác định thông qua quan hệ cung
cầu. Ngời bán và ngời mua thoả thuận mặc cả với nhau để đi tới một mức giá
cuối cùng mà với mức giá đó thì cả hai bên đều có lợi. Nếu nh chênh lệch về giá
giữa chủ thể và đối thủ cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng sản
phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì chủ thể hay cụ thể hơn là
doanh nghiệp đã đem lại lợi ích cho ngời tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh
tranh. Điều đó tạo điều kiện cho sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng có chỗ
đứng trên thị trờng cũng có nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp có vị trí cạnh
tranh cao do vậy yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp là phải hạ giá thành sản
phẩm nhng vẫn phải đạt chất lợng tiêu chuẩn để sản phẩm có khả năng cạnh
tranh trên thị trờng. Các nhân tố ảnh hởng đến giá mà doanh nghiệp có thể kiểm
soát đợc là chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí bán hàng và chi phí lu thông. Để
hạ giá thành sản phẩm của mình doanh nghiệp cần tác động đến các yếu tố này
nh: giảm chi phí nhân công, tăng năng suất lao động, đặt nơi sản xuất gần nguồn

Đầu t vào máy móc thiết bị và cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt
động đầu t nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bởi hai lý cơ bản sau:
Thứ nhất, chi phí cho hạng mục này chiếm tỷ lệ cao trong tổng vốn đầu t.
Thứ hai, đó là bộ phận cơ bản tạo ra sản phẩm - hoạt động chính của mỗi
doanh nghiệp.
Nh vậy, hoạt động đầu t vào tài sản cố định đóng vai trò quan trọng quyết
định đối với phần lợi nhuận thu đợc cũng nh khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp thờng tăng cờng thêm tài sản cố định khi họ thấy trớc
đợc những cơ hội có lợi để mở rộng sản xuất hoặc vì họ có thể giảm chi phí sản
xuất bằng cách chuyển sang những phơng pháp sản xuất dùng nhiều vốn hơn.
Nhng việc đầu t quá lớn cho tài sản cố định lại đồng nghĩa với việc vốn khê đọng
lớn. Do vậy, doanh nghiệp cần phải xác định mức vốn hợp lý cho tài sản cố định,
phù hợp với khả năng và quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
4.2. Đầu t vào nguồn nhân lực
Nếu nh máy móc thiết bị là một phần quan trọng hình thành nên năng lực sản
xuất của doanh nghiệp thì có thể coi nguồn nhân lực là bộ phận quyết định đến
việc vận hành khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để hoạt động đầu t có hiệu quả cần phân chia nguồn nhân lực ra thành đội
ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ nghiên cứu và ứng dụng khoa học và đội ngũ
công nhân trực tiếp lao động. Đầu t nguồn nhân lực đợc thực hiện bởi các hình
thức đầu t cho công tác đào tạo tay nghề; đầu t cho cải thiện môi trờng làm việc
của ngời lao động, đầu t cho công tác thi đua khen thởng. Các hoạt động đầu t đó
đảm bảo lợi ích của ngời lao động, làm cho ngời lao động nhận thấy đợc lợi ích
của mình gắn bó chặt chẽ với lợi ích của doanh nghiệp.
- Đầu t vào công tác đào tạo: Đào tạo quyết định phẩm chất chính trị, năng
lực quản lý trình độ tay nghề. Đào tạo của doanh nghiệp có thể lựa chọn đào tạo
bên ngoài do các tổ chức chuyên trách đảm nhận hay tổ chức các khoá đào tạo
nội bộ. Đối tợng đào tạo:
+> Đào tạo lực lợng cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn: Việc đào tạo thông
qua chi phí tham gia hội thảo, tham quan thực tế, đào tạo ngắn hạn dài hạn các

doanh nghiệp không thể ngày một ngày hai là có đợc.
Hiện nay, đầu t vào hoạt động quảng cáo, công tác tiếp thị, xúc tiến bán hàng,
mở rộng thị trờng liên quan đến sự sống còn của doanh nghiệp. Bởi vì trong cơ
chế thị trờng hiện nay, các doanh nghiệp không biết tiếp thị, quảng cáo tốt sản
phẩm của mình trên thị trờng thì sẽ bị đào thải bởi tính cạnh tranh khốc liêth của
nền kinh tế. Một doanh nghiệp có mặt hàng tốt nhng không quảng bá mặt hàng
của mình cho ngời tiêu dùng biết thì việc tiêu thụ sản phẩm sẽ gặp khó khăn, lợi
nhuận thu đợc thấp và sản xuất của doanh nghiệp sẽ không đợc mở rộng, doanh
nghiệp khó có khả năng phát triển.
Đầu t hợp lý vào tài sản vô hình đồng nghĩa với việc lợi nhuận và vị thế của
doanh nghiệp tăng lên. Đầu t vào tài sản vô hình đã trở thành một phần quan
- 18 -
trọng không thể thiếu trong quá trình đầu t nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp
4.4. Đầu t nghiên cứu sản phẩm mới
Nh đã nghiên cứu ở trên, một công cụ cạnh tranh quan trọng của doanh
nghiệp là cơ cấu sản phẩm, doanh nghiệp có khả năng sản xuất ra nhiều sản
phẩm mới đáp ứng nhu cầu của ngời tiêu dùng thì sẽ nâng cao khả năng cạnh
tranh của mình trên thị trờng. Một sản phẩm khi đến giai đoạn suy thoái của chu
kỳ sản phẩm sẽ bị thị trờng đào thải và khi đó doanh nghiệp cần cho ra sản phẩm
mới để đáp ứng nhu cầu mới của thị trờng. Quá trình đó đòi hỏi công cuộc
nghiên cứu sản phẩm mới phải đợc tiến hành ngay từ khi doanh nghiệp nhận biết
đợc cơ hội thì mới đáp ứng đợc nhu cầu vô cùng đa dạng và phong phú của ngời
tiêu dùng. Hoạt động đầu t này cũng cần một số lợng vốn khá lớn, nó bao gồm
các chi phí cho: công tác nghiên cứu kỹ thuật, nghiên cứu nhu cầu thị trờng. Do
đó, đầu t cho quá trình nghiên cứu sản phẩm mới cũng là một nội dung của đầu t
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
III/ đặc điểm của ngành dệt may và đặc điểm đầu t trong
ngành dệt may
1. Đặc điểm của ngành Dệt may

chọn trang phục. Đặc trng này đặt ra yêu cầu đối với nhà sản xuất là phải nhanh
chóng nắm bắt đợc nhu cầu, thị hiếu và có khả năng dự báo xu hớng thời trang
mới.
Thứ ba, ngành công nghiệp dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động đặc biệt
là lao động giản đơn, hơn nữa công nghệ sản xuất không đòi hỏi quá phức tạp
nên có thể tổ chức sản xuất ở cả quy mô hộ gia đình. Do vậy, nó cho phép phát
huy đợc lợi thế só sánh của những nớc có nguồn lao động dồi dào và giá nhân
công rẻ (đó cũng là lợi thế của Việt Nam hiện nay). Chính vì vậy, công nghiệp
dệt may đã tồn tại và phát triển ở hầu hết các nớc đang phát triển, dù có đợc công
nghiệp hoá thì trớc mắt và lâu dài, công nghiệp dệt may vẫn tồn tại những công
đoạn cần tới lao động thủ công của bàn tay con ngời. Do vậy cùng với sự lớn
mạnh của công nghiệp dệt may thì số lợng lao động đợc thu hút vào ngành này
cũng ngày càng đông cùng với lực lợng lao động trong các ngành có liên quan
đến sự phát triển của ngành dệt may nh: công nghiệp cơ khí, chế tạo, công
nghiệp hoá chất và đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp để tạo ra các nguồn nguyên
liệu cho ngành.
Thứ t, công nghiệp dệt may là ngành công nghiệp nhạy cảm, sản phẩm của
nó thờng đợc bảo hộ cao ở hầu hết các nớc trên thế giới bằng những chính sách,
thể chế đặc biệt trong quá khứ, hiện tại và cả tơng lai. Sự bảo hộ này không phải
chỉ xuất hiện ở những quốc gia tham gia xuất khẩu hàng dệt may thờng muốn
bảo hộ sản xuất trong nớc, mà các rào cản còn xuất hiện ngay cả những cờng
quốc, mà tại đó, công nghiệp dệt may không phát triển hoặc đã từng phát triển,
nay đã chuyển dịch ra các khu vực và các khác trên thế giới. Các rào cản đó có
thể là áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, sử dụng mức thuế đối với hàng dệt may cao
hơn các sản phẩm công nghiệp khác hay nguyên tắc về xuất xứ, về nhãn hiệu
hàng hoá, quy định về chất lợng sản phẩm Đây là đặc tr ng hết sức quan trọng
mà đòi hỏi các doanh nghiệp hay các nớc tham gia vào thị trờng sản xuất, xuất
khẩu hàng dệt may cần phải quan tâm để có những đối sách phù hợp.
Thứ năm, công nghiệp dệt may là ngành công nghiệp đã diễn ra nhiều lần
dịch chuyển sản xuất giữa các nớc, các khu vực trên thế giới và trong nội bộ từng

ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, để tạo ra một chỗ làm mới, công
nghiệp dệt (từ khâu sợi, dệt đến khâu nhuộm - hoàn tất) chỉ cần đầu t khoảng
15.000 USD; công nghiệp may chỉ cần đầu t khoảng 1.000 USD trong khi suất
đầu t cho ngành giấy là gần 30.000 USD. Mặt khác, thời gian thu hồi vốn của
công nghiệp dệt may cũng thấp hơn so với nhiều ngành công nghiệp khác: thời
gian thu hồi vốn của ngành dệt là 10 - 12 năm, ngành may còn nhanh hơn chỉ 5 -
7 năm trong khi các ngành công nghiệp nặng khác là 10 -15 năm. Với đặc điểm
này tạo điều kiện cho Việt Nam phát triển ngành dệt may trong bớc đầu công
nghiệp hoá vì trong giai đoạn này nguồn vốn của đất nớc quá nhỏ bé không thể
đầu t sâu vào các ngành công nghiệp khác.
- Đầu t trong ngành dệt may không đòi hỏi kỹ thuật hiện đại: máy móc, thiết
bị, công nghiệp đầu t cho ngành dệt may không cần quá hiện đại, có thể sử dụng
những máy móc thiết bị đã qua sử dụng (giá trị vẫn còn khoảng 80%) chỉ cần phù
hợp với năng lực của doanh nghiệp cũng nh của ngành dệt may trong nớc hiện tại.
Chính vì vậy mà thiết bị, công nghệ mới phù hợp với trình độ lao động ngành dệt
- 21 -
may Việt Nam. Qua đó phát triển đợc lợi thế so sánh về lao động của ngành, tạo
việc làm cho ngời lao động cũng nh tiết kiệm đợc nguồn vốn đầu t.
- Trong quá trình đầu t thì việc đầu t phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ
quan trọng: Do tính chất đặc thù nên ngành dệt may thu hút nhiều lao động hơn
các ngành công nghiệp khác mà có cùng số vốn đầu t. Đặc biệt trong thời kỳ kỹ
thuật công nghiệp phát triển nh hiện nay nên muốn tăng khả năng cạnh tranh của
mình đòi hỏi các doanh nghiệp phải chú trọng đến quá trình đào tạo nguồn nhân
lực từ lao động giản đơn, nhà thiết kế đến cán bộ quản lý của ngành.
- Đầu t vào ngành dệt may cần chú ý đến phát triển nguồn nguyên vật liệu:
nguyên vật liệu đóng vai trò rất quan trọng đối với sản xuất dệt may nhng hiện nay
ngành dệt may Việt Nam vẫn phải nhập khẩu quá nhiều nguyên liệu nên tỷ lệ nội
địa hoá không cao. Điều đó đòi hỏi cần phải đầu t nhiều hơn nữa cho các vùng
nguyên liệu trồng bông, trồng dâu và các nhà máy sản xuất phụ liệu may
- Việc tìm hiểu thị trờng trong đầu t ngành dệt may có vai trò quan trọng:

ngành dệt may bắt đầu từ khi khu công nghiệp Nam Định đợc thành lập vào năm
1899 - đây là mốc thời gian đánh dấu sự hình thành của ngành dệt may Việt
Nam. Khoảng thời gian sau chiến tranh thế giới thứ hai, ngành công nghiệp này
phát triển nhanh hơn, đặc biệt là ở miền Nam, tại đây các hãng dệt với máy móc
hiện đại của châu Âu đã đợc thành lập.
Sau khi thống nhất đất nớc, cùng với việc tiếp quản toàn bộ các nhà máy, xí
nghiệp dệt may đã có ở miền Nam trớc khi giải phóng, Nhà nớc cũng đã tiến hành
cho xây dựng nhiều nhà máy, xí nghiệp dệt may trên phạm vi cả nớc. Ngành đã
cung cấp cho nhu cầu của nhân dân; đảm bảo cân đối về nguyên liệu, sợi cho sản
xuất vải, quần áo, chăn màn cho tiêu dùng và cân đối đầu mối xuất nhập khẩu, trao
đổi hàng hoá với các nớc xã hội chủ nghĩa đem về 55 - 60 ngàn tấn bông xơ mỗi
năm từ Liên Xô. Năm 1986, Đảng và Nhà nớc ra chủ trơng cải cách mở cửa nền
kinh tế từ nền kinh tế tập trung tự cung tự cấp sang nền kinh tế thị trờng. Đây là cơ
hội cho các ngành công nghiệp trong đó có ngành dệt may phát triển và xuất khẩu
sản phẩm ra nớc ngoài đem lại nhiều lợi ích kinh tế. Nhng một thực tế gặp phải là
ngành dệt may thời kỳ này với quy mô, công suất thiết bị, trình độ công nghệ tuy
đã tăng lên nhng mới chỉ làm ra đợc nhng sản phẩm có chất lợng trung bình và
thấp nên chỉ cung cấp một phần cho tiêu thụ trong nớc mà còn phải cạnh tranh
khốc liệt với hàng hoá nhập khẩu. Bên cạnh đó, thị trờng truyền thống của Việt
Nam đang gặp phải khó khăn đó là sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô và các nớc xã
hội chủ nghĩa Đông Âu.
Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam chỉ thực sự phát triển từ năm 1991 trở
lại đây với sự thay đổi căn bản cả về thiết bị công nghệ lẫn nhận thức. Từ một
ngành sản xuất nhỏ, manh mún, chỉ lo sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong
nớc và thực hiện một phần nghị định th với Liên Xô, các nớc Đông Âu, đầu vào
và đầu ra hoàn toàn do Nhà nớc quyết định phát triển thành một ngành công
nghiệp chủ đạo không chỉ đáp ứng phần lớn nhu cầu trong nớc mà còn phục vụ
- 23 -
cho xuất khẩu đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nớc. Có đợc nh vậy là nhờ
đờng lối đúng đắn của Đảng và Nhà nớc, ngành dệt may Việt Nam đã mạnh dạn

Tổng 108.856 100
Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam, 2004
- 24 -
Khu vực tập trung nhiều cơ sở sản xuất nhất là miền Bắc với các cụm công
nghiệp dệt may tập trung đã hình thành từ lâu tại Hà nội, Nam định và các cụm
khác mới hình thành ở khu vực miền Trung; tiếp sau là khu vực TP Hồ Chí Minh
và các tỉnh phụ cận, với các cụm công nghiệp dệt may tập trung tại Thủ Đức, Tân
Bình, Biên Hoà và các cụm mới đang hình thành tại Bình Dơng, Bà Rịa - Vũng
Tàu...; các khu vực khác với các cụm công nghiệp tập trung nh Huế, Đà Nẵng,
Nha Trang...
Bảng 3: Số lợng doanh nghiệp dệt may Việt Nam theo
sản phẩm và loại hình sở hữu
(Không tính đến các hộ kinh doanh cá thể và t nhân)
Sản phẩm Tổng
Doanh nghiệp
Nhà nớc
Doanh
nghiệp ngoài
quốc doanh
Doanh nghiệp
có vốn đầu t n-
ớc ngoài
Ngành dệt:
277 111 50 116
- Kéo sợi 99 42 17 40
- Dệt thoi 124 43 24 57
- Dệt kim 54 26 9 19
Ngành May
659 139 299 221
Phụ kiện và các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status