Những chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành dệt may VN - Pdf 11

Lời mở đầu

Thế giới đang biến động, ngày càng chuyển biến với xu hướng hội nhập và
toàn cầu hoá ngày càng sâu sắc. Do hội nhập kinh tế là xu hướng tất yếu và
khách quan, một nước muốn phát triển không còn cách nào khác là phải hoà
nhập vào nền kinh tế thế giới. Để làm được điều đó chúng ta phải tích cực xây
dựng những thế mạnh xuất khẩu, qua đó lựa chọn được những mặt hàng chủ lực
xuất khẩu, sử dụng lợi thế so sánh. Một trong những thế mạnh mà chúng ta lựa
chọn đó là ngành dệt may, đây là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam, giữ vị trí thứ hai sau dầu thô. Có được kết quả này là do sự nỗ lực
của Đảng, của Nhà nước và các doanh nghiệp đã có nhiều cải cách và chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế. Chuyển đổi từ đối đầu sang đối thoại hợp tác làm ăn
cùng có lợi. Trước tình hình mới về về thị trường và cơ chế quản lý, cạnh tranh
để đứng vững và phát triển là tất yếu khách quan không thể tránh khỏi. Chủ động
hội nhập quốc tế, tiến hành điều tra, phân loại, kiểm tra đánh giá khả năng cạnh
tranh của từng sản phẩm mặt hàng, có biện pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu
quả đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh là một trong những việc làm cần thiết và
thiết yếu hiện nay. Trong mấy năm qua, tuy ngành dệt may đã đạt được một số
thành tựu cả về quy mô và giá trị sản xuất, xuất khẩu nhưng sản phẩm dệt may
của ta còn rất nhiều hạn chế như: giá còn cao, chưa chủ động hội nhập, tính
cạnh tranh của sản phẩm không cao, hiệu quả sản xuất thấp, về mặt quản lý thủ
tục còn nhiều hạn chế, quản lý còn chưa sát thực tế và đặc biệt là đời sống người
lao động còn thấp…
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay tình hình quan hệ quốc tế ngày càng mở
rộng với sự hợp tác và chuyên môn hoá ngày càng caochúng ta không có những
- 1 -
biện pháp hợp lý thì sẽ không trụ được khi tham gia hội nhập, không thực hiện
được mục tiêu phát triển đất nước.
Từ điều kiện chủ quan và khách quan cho ta thấy trong thời gian tới đối với
toàn bộ nền kinh tế nói chung và ngành dệt may nói riêng phải tìm ra những
hướng đi mới và những cơ hội phát triển vững chắc trên con đường hội nhập. Do

cạnh tranh, phải tìm ra những lợi thế so sánh của mình. Chính vì vậy nâng cao khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp là điều kiện cần thiết.
Cạnh tranh ở đây được thể hiện chủ yếu ra mặt ngoài chính là sản phẩm. Từ
khái niệm trên có thể hiểu khả năng cạnh tranh củ sản phẩm là tất cả những gì sản
phẩm đó đã có, đang và sẽ có để có thể có những ưu thế so với những sản phẩm
khác cùng loại hoặc khác loại trong quá trình cạnh tranh.
- 3 -
2. Vai trò của cạnh tranh
Như trên chúng đã biết cạnh tranh là động lực của sự phát triển, nó có vai trò hết
sức to lớn và quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và bản thân
mỗi doanh nghiệp nói riêng. Cạnh tranh có mặt lợi và cả mặt hại của nó, nhưng
thực tế ta thấy rằng bất kì một nền kinh tế nào cũng cần duy trì sự cạnh tranh.
Đứng ở góc độ xã hội thì cạnh tranh là hình thức mà Nhà nước sử dụng để
chống độc quyền, tạo cơ hội cho người tiêu dùng có thể lựa chọn các sản phẩm tốt,
giá cả rẻ. Chính vì vậy duy trì cạnh tranh là bảo vệ lợi ích người tiêu dùng. Mặt
khác Nhà nước sử dụng cạnh tranh nhằm tăng hiệu quả chung của nền kinh tế tránh
lãng phí để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước, tạo động lực bên trong
nền kinh tế, tạo điều kiện phát triển các hình thức quan hệ quốc tế.
Đứng ở góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh sẽ la điều kiện thuận lợi để doanh
nghiệp tự khẳng định vị trí của mình trên thị trường, tự quyền lựa chọn ngành nghề
kinh doanh, tự hoàn thiện bản thân doanh nghiệp của mình để vươn lên dành ưu thế
hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác. Các ưu thế đó thể hiện qua lợi thế so sánh
của doanh nghiệp này so với doanh nghiệp khác, như việc khai thác triệt để hơn các
lợi thế so sánh, tận dụng ngày càng nhiều nguồn lực một cách có hiệu quả nhất.
Trên thị trường, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là cuộc cạnh tranh khốc liệt
nhất nhằm dành dật người mua, chiếm lĩnh thị trường tạo ưư thế mọi mặt cho các
doanh nghiệp nhằm thhu được lợi nhuận tối đa có thể. Thực chất cạnh tranh là cuộc
chạy đua không có đích, là quá trình các doanh nghiệp đưa ra các biệnpháp kinh tế
tích cực và sáng tạo nhằm đứng vững trên thị trường, tăng lợi nhuận trên cơ sở tạo
ưu thế về sản phẩm: giá bán, chất lượng sản phẩm… Muốn vậy doanh nghiệp phải

- 5 -
thế so sánh lớn nhất là được thể hiện ở các nguồn lực đầu vào, do đó có thể là tài
nguyên thiên nhiên, vốn đầu tư, đặc biệt hơn đó là lao động…nó được thể hiện
thông qua giá bán của sản phẩm. Được thể hiện bằng hệ số đầu vào thấp một cách
tương đối. Thực tế không dễ tách biệt giữa nguồn lực đầu vào và năng suất lao
động, bởi đây là ngành sử dụng nhiều lao động. Sự dồi dào của một yếu tố nào đó
có thể là do năng suất lao động cao, vừa do giá cả tạo nên kích thích cung ứng, vấn
đề thương hiệu cũng góp phần quan trọng thể hiện lợi thế so sánh. Đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay với nền kinh tế toàn cầu cạnh tranh quốc tế ngày càng găy gắt,
các lợi thế so sanh trên tầm vĩ mô không thể coi nhẹ như: sự ổn định về kinh tế
chính trị, luật pháp thể chế, kinh tế đất nước, kết cấu hạ tầng,…
Đây có thể nói là yếu tố rất quan trọng trong thời gian hiện nay, giúp chúng ta
phát triển trọng điểm sử dụng hiệu quả nguồn lực có nhiều lợi thế so sánh. Do đó
chúng ta nói chung các doanh nghiệp nói riêng cần tận dụng triệt để các yếu tố này.
2. nhóm các yếu tố thuộc về khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước
Theo Forger thì “Khả năng cạnh tranh là khả năng của một đất nước trong việc
nhận thức rõ mục đích của chính sách kinh tế tập trung, nhất là đối với tăng trưởng
thu nhập và việc làm, mà không gặp phải những khó khăn trong cán cân thanh
toán”. Bởi vì tăng trưởng của một quốc gia được xác định bởi năng suất của nền
kinh tế quốc gia đó, mà năng suất là yếu tố cơ bản tạo nên khả năng canh tranh và
nó la một yếu tố góp phần vào lợi thế so sánh của bản thân sản phẩm, góp phần
quan trọng trong hội nhập và phát triển kinh tế.
3. Nhóm yếu tố thuộc về môi trường kinh tế của doanh nghiệp
Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế của doanh nghiệp bao gồm các
yếu tố như: Chính sách thương mại, môi trường đầu tư, tài chính, mức thanh khoản
trong nền kinh tế, cơ cấu doanh nghiệp, tính cạnh tranh trong nền kinh tế…
Với chính sách thương mại của mỗi quốc gia sử dụng khác nhau se cho những
tác động khác nhau, có thể trái ngược nhau đến môi trường thương mại quốc tế.
- 6 -
Thực tế đối với nhập khẩu các nước thường áp dụng chính sách hạn chế nhập khẩu,

động thích nghi với điều kiện cạnh tranh ngày nay.
III. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm
công nghiệp
Để đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm kinh tế kĩ thuật, đặc biệt đối với
ngành dệt may, có thể xem xét một số chỉ tiêu bao gồm cả nhóm chỉ tiêu phản ánh
về chất lượng và số lượng:
1. Các chỉ tiêu về chất lượng
Bao gồm cả chỉ tiêu định lượng và định tính, cụ thể là:
- Sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật – công nghệ
- Sự thay dổi về hệ thống sản xuất
- Sự thay đổi về chất lượng trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh doanh,
hiệu quả đầu tư, năng suất lao động.
- Giá trị thương mại dòng
- Lợi thế so sánh của bản thân sản phẩm và các yếu tố đầu vào tạo nên
sản phẩm đó.
- Ngoài ra mức độ cạnh tranh còn thể hiện ở các chỉ tiêu đánh giá mức
độ cạnh tranh trong nội bộ và liên ngành, có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Tỷ số tập trung hoá (CRx) thể hiện mức độ tập trung vào sản
xuất vào những daonh nghiệp lớn nhất của ngành.
+ Hệ số ghini thể hiện mức độ về quy mô đồng đều giữa các
doanh nghiệp.
2. Các chỉ tiêu về số lượng
- 8 -
Phản ánh tăng trưởng về quy mô sản xuất và xuất khẩu, năng lực sản xuất, số
lượng lao động được sử dụng trực tiếp vào sản xuất, quy mô hợp tác quốc tế…
IV. Các công cụ chủ yếu để cạnh tranh trong kinh doanh
Cạnh tranh là quy luật tất yếu khách quan, doanh nghiệp nào không dám đương
đầu với cạnh tranh thì sẽ gặp thất bại nặng nề. Do đó muốn tồn tại và phát triển
doanh nghiệp bắt buộc phải cạnh tranh. Bản chất của cạnh tranh trong kinh doanh
là tạo ra các ưu thế so với đối thủ của mình. Mỗi doanh nghiệp có các ưu thế khác

doanh nghiệp là không ngừng đổi mới sản phẩm và cung cấp các dịch vụ mới.
Với doanh nghiệp chuyên kinh doanh lĩnh vực dịch vụ thì việc nâng cao chất
lượng sản phẩm chình là việc nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách
hàng và phát triển thêm các loại hình dịch vụ mới, đây là hình thức mà các công ty
bưu chính viễn thông và kinh doanh dịch vụ ở các khu vui chơi giải trí thường sử
dụng.
Ngoài cạnh tranh qua chất lượng sản phẩm các doanh nghiệp còn cạnh tranh qua
chủng loại, kiểu dáng nhãn hiệu. Do đó để nói về cạnh tranh qua sản phẩm người ta
thường nói đến sự khác biệt của sản phẩm. Doanh nghiệp phải thiết lập chiến lược
phát triển sản phẩm hợp lý, phải nghiên cứu được đầu vào và đầu ra, các hoạt động
đổi mới sản phẩm nâng cao chất lượng và vị thế trên thị trường. Đến nay chúng ta
có thể thấy hầu hết các công ty sản xuất hàng tiêu dùng vẫn đang cạnh tranh dựa
trên tính ưu việt của sản phẩm. Họ vẫn tiếp tục thêm vào những đặc tính mới, công
thức mới, mở rộng sản phẩm, thay đổi màu sắc kiểu dáng cách thức khác nhằm
khác biệt hoá sản phẩm của họ với các đối thủ cạnh tranh.
2. Cạnh tranh qua giá cả
- 10 -
Cạnh tranh là một trong các yếu tố tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm. Một
doanh nghiệp có chất lượng sản phẩm tốt và giá cả hợp lý thì luôn chiếm được ưu
thế trên thị trường. Giá cả là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến cung cầu của
hàng hoá, do vậy áp dụng chính sách định giá linh hoạt đa dạng là nhân tố quan
trọng tạo nên sự thành công trên thị trường. Việc định giá sản phẩm chủ yếu phải
căn cứ vào giá thành sản xuất đơn vị, nhu cầu thị trường và lấy quan hệ cung cầu
trên thị trường làm chuẩn. Doanh nghiệp có thể dựa vào giá thị trường để định giá
khác nhau: chính sách định giá thấp hơn giá thị trường, bằng giá thị trường và cao
hơn giá thị trường.
Cạnh tranh qua giá là một hình thức gián tiếp của cạnh tranh qua chi phí sản
xuất để có thể định mức giá thấp hơn mức giá thị trường. Để làm được điều này các
doanh nghiệp phải có thiết bị sản xuất đầy đủ hiệu quả tính kinh tế của quy mô thiết
lập các kênh phân phối. Chính nhờ chi phí sản xuất thấp các đối thủ cạnh tranh

vào mục tiêu thương mại thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Khuyến
mại là phương pháp làm kích thích nhu cầu khách hàng tăng mức hàng tức thì.
Ngoài ra còn có hình thức khác như: chuyên thông bán hàng cá nhân. Các hình
thức này được sử dụng kết hợp nhằm mục đích thúc đẩy và kích thích tiêu dùng.
Tóm lại: các công cụ cạnh tranh đưa ra ở trên mang tính liệt kê. Để xây dựng
thành công chiến lược kinh doanh trên cơ sở chiến lược cạnh tranh doanh nghiệp
phải biết kết hợp các công cụ cạnh tranh theo đặc điểm sản phẩm sản xuất. Ngày
nay tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng các công cụ trên dường như ngày càng mong
manh và không dài lâu. Ngay cả khi giá cả rẻ, sản phẩm có tính năng ưu việt thì
cung không thu hút được khách hàng trong dài hạn. Khách hàng luôn đòi hỏi những
sản phẩm có chất lượng cao hơn và giá cả chưa chắc đã phải là yếu tố mà họ quan
tâm. Tương tự lợi thế về kênh phân phối cũng vậy tữ xa xưa các công ty, các hãng
- 12 -
lớn thường nổi tiếng về thương hiệu của mình. Vậy tại sao chúng ta không xây
dựng thưong hiệu mang lại lợi thế cho các doanh nghiệp. Đây là một điểm yếu của
các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp dệt may khi tham gia vào
thị trường quốc tế.- 13 -
Chương II: Thực trạng
I. Những chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành
dệt may Việt Nam
1. Vị trí và đặc điểm của ngành dệt may Việt Nam
Xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam đã, đang và sẽ là hàng xuất khẩu quan
trọng hàng đầu của Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI. Với
mức tăng trưởng hàng năm cao từ 30% - 40% liên tục và ổn định trong 10 năm qua,
xuất khẩu hàng dệt may đã lần lượt vượt qua các mặt hàng chủ lực vưon lên vị trí
số một trong danh sách 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam năm 1998. Tỷ
trọng kim ngạch hàng xuất khẩu dệt may trong cơ cấu hàng xuất khẩu cũng ngày

ngành dệt may thể hiện ở khía cạnh sản phẩm, sự cạnh tranh của nó trên thị trường,
tinh cạnh tranh của sản phẩm,… được thị trường chấp nhận, thông qua việc kí kết
các hiệp định thương mại, khả năng đảm bảo các tiêu chuẩn thương mại và hợp tác
kinh tế. Về điểm này sẽ được làm rõ ở các phần tiếp theo.
II. Thực trạng
1. Khái quát chung
Trong quá trình chuyển dịch sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, cùng với các ngành khác của nền kinh tế ngành dệt may đã đạt được những
thành tựu đáng khích lệ, đóng góp một phần không nhỏ vào mức tăng trưởng GDP
và vào việc xây dựng đất nước, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá.
- 15 -
Để đạt đượoc điều đó toàn ngành không ngừng đổi mới hoàn thiện để đạt được mục
tiêu cuối cùng cho ra những sản phẩm có chất lượng và hoà nhập thị trường thế
giới…
- Đã có 187 doanhnghiệp dệt may Nhà nước, trong đó có 70 doanh
nghiệp dệt và 117 doanh nghiệp may.
- Gần 800 công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần tư nhân
- Có 500 dự án đầu tư liên doanh và 100% vốn nước ngoài trên các
lĩnh vực, đang dệt nhuộm may mặc phụ tùng với số vốn đăng kí 2,6 tỉ USD.
- Thu hút khoảng 1,6 triệu lao động
- Chiếm khoảng 8,58% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước
- Chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước
- Thiệt bị hiện có 1,05 triệu cọc sợi, 0,14 triệu máy dệt các loại, 450
máy dệt kim…
- Năng lực hiện đạt 0,9 triệu tấn các loại sợi trên năm, trong đó 22%
sợi chảo kĩ, còn lại là sợi thô và các loại, 380 triệu mét vải trên năm khổ 80 đáp
ứng khoảng 30% làm hàng xuất khẩu, 2200 tấn/năm vải dệt kim, khăn bông các
loại và 400 triệu sản phẩm may.
- Tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành năm 2001 đạt 15,1 tỉ USD, trong
đó ngành dệt may đạt 2 tỉ USD chiếm tỉ trọng 13,3%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status