Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam - Pdf 11

Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Chơng i
lý luận chung về năng lực cạnh tranh của
ngành sản phẩm sữa Việt nam
I/ những vấn đề lý luận chung về năng lực cạnh tranh
của một ngành sản phẩm:
Nếu sét về năng lực cạnh tranh, chúng ta phải dặt ngành sản phẩm trong hai
môi trờng cạnh tranh cụ thể để phân tích: đó là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong nớc và cạnh tranh giữa doanh nghiệp trong nớc và doanh nghiệp nớc ngoài.
Trong bài này, chỉ lựa chọn đánh giá khả năng cạnh tranh ở tầm vĩ mô, tức là khả
năng cạnh tranh của ngành sản phẩm giữa các đối thủ quốc tế trên cùng một thị tr-
ờng, không đi vào phân tích năng lực cạnh tranh giữa các sản phẩm trong cùng một
nớc.
1.Khái niệm về năng lực cạnh tranh và cách tiếp cận vấn đề :
Vấn đề cạnh tranh, về mặt lý luận, từ lâu đã đợc các nhà kinh tế học trớc
C.Mác và chính các nhà kinh tế của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã đề cập đến.
Thuật ngữ cạnh tranh đợc dùng ở đây là cách gọi tắt của cụm từ cạnh tranh kinh tế
(Economic Competition ) bằng một dạng cụ thể của cạnh tranh.
Cạnh tranh xuất hiện trong quy trình hình thành và phát triển của sản xuất và
trao đổi hàng hoá. Do đó, hoạt động cạnh tranh gắn liền với sự tác động của các
quy luật thị trờng, nh quy luật giá trị, quy luật cung cầu do các cách tiếp cận
khác nhau, nên trong thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Kế thừa
các quan điểm của các nhà nghiên cứu, chúng ta có thể thấy rằng: cạnh tranh là
quan hệ kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trờng
cùng theo đuổi mục đích, đó là lợi ích (trong đó bao gồm cả vấn đề lợi nhuận tối
Nguyễn Thị Minh Trang
1
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
đa). Cạnh tranh chính là phơng thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa các
chủ thể.
Cạnh tranh có thể đợc phân chia thành nhiều loại dựa trên các tiêu thức khác

phẩm của một nớc chính là điểm mạnh mà đối thủ cạnh tranh không dễ dàng có đ-
ợc (đối thủ cạnh tranh ở đây có thể là các cùng đối thủ cạnh tranh cùng ngành của
một nớc khác hoặc các đối thủ cạnh tranh từ các sản phẩm thay thế ). Điểm mạnh ở
đây, theo M.Porter đó là khả năng doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của khách hàng
với chi phí sản xuất thấp nhất. Tức là, khả năng cạnh tranh của sản phẩm ở đây có
đợc thể hiện qua giá, có thể là chất lợng hay là sự kết hợp của cả hai mà doanh
nghiệp hay ngành sản phẩm của một nớc có thể cung cấp cho khách hàng của mình
mà vẫn đảm bảo đợc mức lãi xuất cho doanh nghiệp hay cho ngành.
2.Phơng pháp phân tích khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm
sữa:
Phơng pháp phân tích này dựa trên cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của
M.Porter về ngành sản phẩm. Theo M.Porter năng lực cạnh tranh của sản phẩm có
thể dựa vào hai tiêu thức: sản phẩm có giá rẻ hơn so với đối thủ cạnh tranh hoặc là
sản phẩm có giá cao hơn bằng cách tạo ra sự khách biệt. Nhng xét đến sau cùng
M.Porter vẫn cho rằng bản chất khả năng cạnh tranh của một ngành sản phẩm đối
với một nớc là khả năng giảm chi phí sản xuất loại sản phẩm ngành đó.
Do vậy chúng ta có thể sử dụng hai chỉ tiêu sau để đánh giá khả năng cạnh
tranh của ngành sản phẩm:
2.1.Các tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh của sản phẩm:
2.1.1 Khả năng cạnh tranh của sản phẩm về giá:
Chỉ tiêu này đợc sử dụng với vai trò là một sự so sánh về giá giữa các doanh
nghiệp cạnh tranh. Đây là chỉ tiêu cơ bản quan trọng đầu tiên khi xem xét xem một
sản phẩm nào đó có khả năng cạnh tranh hay không. Bởi thông qua giá, mà doanh
nghiệp có khả năng thu hút ngày càng nhiều hơn khách hàng về phía mình, tất
Nguyễn Thị Minh Trang
3
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
nhiên là trong mối tơng quan với chất lợng sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp
cho khách hàng. Chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng nhất là đối với các doanh nghiệp
hay với ngành sản xuất sản phẩm có ít hàm lợng khoa học kĩ thuật, nh hàng tiêu

biệt sản phẩm. Để làm đợc nh vậy, công ty phải tạo ra thế mạnh cơ bản trong một
hoặc một số chức năng sáng tạo ra giá trị.
Nhìn chung các đánh giá cạnh tranh thờng sử dụng trong ngắn hạn, nếu trong
điều kiện cạnh tranh tơng đối hoàn hảo thì khả năng cạnh tranh của một doanh
nghiệp hay một ngành sản phẩm của một nớc đợc biểu hiện ở chỉ số thị phần chiếm
lĩnh đợc. Thế nhng trên thực tế, trong lịch sử kinh tế năng lực cạnh tranh ngành của
một số nớc dựa phần lớn vào chế độ bảo hộ của Chính phủ. Nh việc Chính phủ đa
ra hạn ngạch có thể làm hạn chế sự cạnh tranh của các sản phẩm nhập khẩu do vậy
mà sản phẩm trong nớc mới chiếm lĩnh đợc thị trờng lớn hơn.
2.2.Nội dung phân tích nh sau:
Trong tác phẩm bàn về cạnh tranh toàn cầu, Porter đã tổng hợp phơng pháp
nghiên cứu trong quá khứ, xây dựng mô hình lý luận gồm bốn nhân tố giữ vai trò
mấu trốt đối với sự thành công trong cạnh tranh của một ngành nhất định. Trong
bốn nhân tố này, em kết hợp nhân tố thứ ba và thứ t để thuận lợi hơn trong quá trình
phân tích, nh vậy chỉ còn ba nhân tố cơ bản:
2.Nhu cầu trong nớc.
1.Việc kết hợp các yếu tố sản xuất.
3.Cạnh tranh trong nớc với các doanh nghiệp chủ chốt.
Dựa trên cơ sở lý luận của M.Porter, chúng ta có thể tiến hành phân tích nh
sau:
*Trớc tiên chúng ta phân tích khái quát theo quan sát trên thị trờng xem ngành
sản phẩm đợc sản xuất trong nớc phục vụ cho quy mô thị trờng nh thế nào. Rõ ràng
sản phẩm của một nớc chiếm thị phần lớn, phục vụ đa số khách hàng của thị trờng
thì phải là sản phẩm u điểm nổi trội, tức là có khả năng cạnh tranh. Từ đây chúng ta
có những nhận định ban đầu về khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm.
Nguyễn Thị Minh Trang
5
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
*Sau đó, chúng ta đi vào bản chất vấn đề, những biểu hiện khả năng cạnh
tranh trên thị trờng nhờ vào phân tích thị phần có thể tin cậy đợc hay không. Tức là

3.Các yếu tố ảnh hởng đến năng lực cạnh tranh của ngành sản
phẩm:
Theo phơng pháp phân tích trên của M.porter ta có thể chia các yếu tố ảnh hởng
đến năng lực cạnh tranh của ngành sản phẩm nh sau:
4.1.Các nhân tố từ phía thị trờng:
Phân tích đánh giá nhóm điều kiện về cầu phản ánh bản chất cầu thị trờng
trong nớc đối với sự sản phẩm của ngành. Nhóm này sẽ cho ta thấy chu kỳ sống sản
phẩm của ngành, ngành nào có cầu càng lớn, đơn giản, ngành đó càng có khả năng
cạnh tranh nhờ giản chi phí, giảm giá nhng lại tăng doanh thu. Nhu cầu trong nớc
lớn, khiến ngành sản phẩm trong nớc có điều kiện phát triển vững hơn, không phải
đối phó vất vả để giành giật những khoảng thị trờng nhỏ bé và sự tốn kém để cạnh
tranh với các đối thủ mạnh mẽ nớc ngoài trên thị trờng quốc tế.
4.2.Các yếu tố về điều kiện nguồn lực:
Một nớc muốn phát triển ngành thuỷ sản không thể không có vùng biển rộng,
nguồn thuỷ sản phong phú, muốn phát triển ngành sản phẩm mỹ nghệ không thể
không có nguồn nhân công có kĩ thuật và kinh nghiệm, Các yếu tố về nguồn lực
sẽ tạo cho ngành sản phẩm của nớc đó có lợi thế cạnh tranh so sánh, là tiền đề để
tạo ra lợi thế cạnh tranh. Dựa vào những lợi thế so sánh này, các doanh nghiệp sẽ
có các phơng thức kết hợp đầu vào hợp lý, có nhiều điều kiện cho ra sản phẩm có
chất lợng cao, chi phí thấp hơn so với những doanh nghiệp ở các nớc không có
những thuận lợi về nhân tố đầu vào sản xuất. Bên cạnh đó chúng ta luôn biết rằng
bất kỳ một nớc nào, một ngành nào, một doanh nghiệp nào cũng đều bị hạn chế bởi
sự khan hiếm tài nguyên. Do vậy luôn phải có sự lựa chọn để phát triển ngành đen
lại lợi ích tối u nhất.. Phân tích đánh giá nhóm các điều kiện về nhân tố sản xuất:
điều này đem lại tiềm năng phát triển ổn định chủ động cho ngành, đồng thời tạo
điều kiện cơ sở cho lợi thế cạnh tranh trong tơng lai. Nhóm gồm:
1.Nguồn nguyên liệu.
Nguyễn Thị Minh Trang
7
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam

các nớc trên thế giới đặt trong sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nớc. Đối với các nớc
phát triển chăn nuôi bò sữa, sự kiểm soát này đợc Bộ Nông nghiệp và các Hiệp hội
sữa thực hiện thông qua các điều luật chặt chẽ. Ngay từ đầu thế kỷ 20 (1908) các n-
ớc trên thế giới đã có các quy định thống nhất về quy trình kỹ thuật, an toàn thực
phẩm cho việc sản xuất và chế biến sữa. ở Việt Nam những vấn đề này hầu nh cha
đợc Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nớc quan tâm và vẫn ở trình trạng buông
lỏng. Điều này có tác động không tốt tới cạnh tranh bình đẳng trong nớc, có thể
một số doanh nghiệp sử dụng công nghệ chế biến kém, nguyên liệu chất lợng xấu
để cạnh tranh về giá. Đồng thời sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm sữa
trong nớc đối với hàng nhập khẩu (vì sản phẩm nhập khẩu thờng đã đợc chứng nhận
về chất lợng).
2.Sự cần thiết phải đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sữa
Việt Nam:
Trớc hết, trong quá trình phát triển, ngành công nghiêp sữa Việt Nam đã có
những đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của ngành công nghiệp cả nớc.
Trong ngành công nghiệp chế biến sữa, đơn vị nòng cốt là Công ty Sữa Việt Nam
(Vinamilk). Từ năm 1994 có thêm công ty Foremost (nay là Dutch Lady) là công ty
liên doanh giữa Công ty suất nhập khẩu Sông Bé với Công ty Friesland Vietnam
Holding B.V đợc cấp giấy phép hoạt động (tháng 4/1994) và Công ty Nestle Việt
Nam- doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài. Thực trạng đóng góp và phát triển của
ngành công nghiệp chế biến sữa đợc thể hiện trong bảng sau:
Bảng1: Giá trị sản xuất công nghiệp
Đơn vị: Tỷ đồng
1995 1997 1998 1999 2000 2001
Công nghiệp toàn
quốc
103.374 134.420 150.685 168.749 195.225 223.578
Nguyễn Thị Minh Trang
9
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam

Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
ra. Phát triển công nghiệp chế biến sữa cũng là một trong những giải pháp để phát
triển hai ngành sản xuất này.
Thứ t, ngành công nghiệp sữa phát triển sẽ tạo thên việc làm cho xã hội , góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn, tăng thu nhập cho ngời
nông dân, thực hiện xoá đói giảm nghèo. Có lẽ đây là một trong những vấn đề
quan trọng nhất trong vai trò phát triển của ngành sữa Việt Nam. Theo dự báo trong
Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam, năm 2005 tạo đợc việc làm
cho 200.000 lao động, năm 2010 sẽ có 380.000 lao động làm việc trong ngành sữa.
Nh đã nói ở trên, phát triển ngành công nghiệp sữa có tác động tích cực cho phát
triển ngành chăn nuôi bò sữa trong nớc. Nhất là trong điều kiện hiện nay, đất đai
canh tác ngày càng bị thu hẹp, nông dân ít vốn, hình thức chăn nuôi bò sữa tỏ ra có
hiệu quả tốt trong việc xoá đói giảm nghèo. Các mô hình này đặc biệt hiệu quả ở
các vùng ngoại thành thành phố, nơi đất trồng trọt ngày càng thiếu thốn, sức ép lao
động cao, có nhiều điều kiện tiếp thu kĩ thuật hơn so với các vùng nông thôn xa
thành phố, xa nơi sản xuất, đã tạo ra việc làm cho nhiều ngàn hộ nông dân. Hiện tại
do còn gặp nhiều khó khăn trong vấn đề bảo quản tiêu thụ nguyên liệu sữa, nên ng-
ời nông dân còn chịu nhiều thiệt thòi, mới chỉ chăn nuôi theo quy mô gia đình nhỏ,
lấy công làm lãi. Tuy nhiên hình thức này lại tơng đối thành công so với các hình
thức xoá đói giảm nghèo khác đã đợc thực hiện. Thúc đẩy quá trình phát triển chăn
nuôi đàn bò sữa đối với các nông hộ sẽ đóng góp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu
cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp. Hiện nay, vấn đề này đã đợc các Ban ngành
có thẩm quyền quan tâm, nh Chơng trình phát triển đàn bò sữa 135 của Nhà nớc để
thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo.
3.Quan điểm đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm
sữa Việt Nam:
Thực tế thấy rằng ngành công nghiệp Sữa của Việt Nam sinh sau đẻ muộn và
vô cùng nhỏ bé so với các đại gia trên thế giới, trong khi đó nhu cầu tiêu dùng của
Nguyễn Thị Minh Trang
11

khoảng 460 triệu lít. Trong đó, thị phần nội địa của sữa sản xuất trong nớc tăng từ
57% trong năm 1991 lên 92% trong năm 1995. Còn cơ cấu sản phẩm hiện nay có
thể chia thành 8 nhóm sản phẩm cơ bản:
1.Nhóm sản phẩm sữa tơi thanh trùng.
2. Nhóm sản phẩm sữa tơi tiệt trùng.
3. Nhóm sản phẩm sữa đặc có đờng.
4. Nhóm sản phẩm sữa bột.
5. Nhóm sản phẩm bột dinh dỡng.
6. Nhóm sản phẩm sữa chua.
7. Nhóm sản phẩm các loại kem cao cấp.
8. Nhóm các sản phẩm khác từ sữa (nh bơ, phomát ).
Hiện tại các sản phẩm sữa tiêu thụ trên thị trờng nội địa có thể phân biệt tơng
đối rõ nh sau:
*Sữa đặc chiếm lĩnh thị trờng nông thôn và miền núi, những đối tợng sử dụng
chủ yếu là chẻ nhỏ, ngời ốm, ngời già yếu; một phần dùng làm nguyên liệu trong
các nhà máy bánh kẹo.
*Sữa bột tiêu thụ chính tại khu vực thành thị, đối tợng chính là trẻ thơ, ngời
ốm và già yếu tại khu vực dân c này.
*Sữa tơi và sữa chua cho mọi lứa tuổi trong khu vực thành thị vầ công nghiệp.
Nh phân tích ở chơng I, sữa nói chung là sản phẩm tiêu dùng thông thờng khi
thu nhập tăng sẽ làm tăng nhu cầu sử dụng về loại hàng này, hiện nay hệ số co dãn
Nguyễn Thị Minh Trang
13
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
của loại hàng hoá này theo thu nhập của nhóm chuyên gia của tổ chức phát triển
liên hợp quốc giúp Việt Nam nghiên cứu năm ngành công nghiệp (công nghiệp chế
bién thực phẩm, công nghiệp dệt may, công nghiệp điện tử, công nghiệp ôtô và
công nghiệp cơ khí) thời kỳ 1990 - 1995 hệ số này là 1,42 (do xuất phát điểm
năm1990 của Việt Nam quá thấp, lợng tiêu thụ chỉ đạt 31 triệu lít). Thời kỳ 1996 -
2000 con số này là 0,75 và hiện nay con số này đạt khoảng 0,95 và tơng đối ổn

nói rằng, một trong những lý do tác động đến sự phân chia chủng loại sản phẩm đó
là kiến thức ngời tiêu dùng, sự tiếp cận của các khách hàng này tới sản phẩm này là
thờng xuyên. Mức sống cao họ đò hỏi chất lợng nhiều hơn số lợng, thông tin đại
chúng đợc thờng xuyên cập nhập, thông thờng trong một ngày đêm có ít nhất là 10
lần có mặt sản phẩm sữa đợc quảng cáo trên truyền hình, các dịch vụ khách hàng
giới thiệu sản phẩm của công ty đợc phát triển rộng rãi.
Đồng thời dân trí cao khiến những ngời tiêu dùng này chở nên khó tính hơn,
hiểu biết hơn trong việc lựa chọn sản phẩm cho bản thân. Nhất là đối với một số
loại sản phẩm đặc biệt đặc biệt từ sữa nh: sữa cho trẻ em, cho phụ nữ mang thai,
cho ngời ốm, ngời bị bệnh tiểu đờng Sản phẩm không chỉ đến tay ng ời tiêu dùng
thông qua các đại lý phân phối hay cơ sở bán lẻ mà nó còn xuất hiện rất nhiều hình
thức nh thông qua chuyên gia t vấn dinh dỡng, qua sự hớng dẫn của bác sĩ, qua các
hớng dẫn của giáo viên trong các nhà trẻ. Các sản phẩm loại này hiện nay tăng rất
mạnh về nhu cầu, không những thế giá của nó thuộc vào loại cao nhất trong những
sản phẩm chế biến từ sữa. Nó có khả năng đem lại lợi nhuận cao cho các doanh
nghiệp có thế mạnh trong hoạt động Marketing chăm sóc khách hàng tốt. Điều này
cũng phản ánh sự không thuận lợi cho các sản phẩm nội địa hiện nay còn kém xa
về các hoạt động này so với sản phẩm nhập khẩu của các nớc có thơng hiệu nổi
tiếng trên thế giới.
Tóm lại, thị trờng tiêu thụ sữa Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, nhu
cầu đang ban đầu đợc mở rộng nhanh chóng do có nhiều khách hàng mới tham gia
vào thị trờng. Điều này có tác động đến mức độ cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh
Nguyễn Thị Minh Trang
15
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
tranh trong ngành (ở đây là với sản phẩm nhập khẩu), nó đa đến nhiều cơ hội cho
phát triển ngành, giảm sứa ép cạnh tranh giữa các đối thủ. Do sự cạnh tranh còn
yếu, nên sự tăng mạnh về cầu cho phép các công ty nội địa tăng doanh số và lợi
nhuận mà không cần phải thôn tính thị trờng của đối thủ cạnh tranh ngay trong nớc
cũng nh đối thủ nhập khẩu. Các sản phẩm nội địa cũng nh nhập khẩu đều có thể mở

(Nguồn của cả hai bảng: Theo đánh giá của Viện
Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp)
Đồng thời, dựa vào bảng 3, cho thấy sản phẩm của Công ty Vinamilk là có sức
cạnh tranh cao nhất, thị phần của công ty này luôn chiếm đến 70 - 75% thị trờng
tiêu thụ cả nớc. Tức là, nếu quan sát qua thị phần nh vậy ta có thể cho rằng khả
năng cạnh tranh cao nhất là thuộc về sản phẩm sữa của các công ty nội địa, trong
đó mạnh nhất là Vinamilk, còn sản phẩm nhập khẩu chỉ chiếm một số phân đoạn
thị trờng nhỏ hẹp, hay nói cách khác sức cạnh tranh của sản phẩm nhập ngoại là rất
thấp.
Bây giờ chúng ta xét đến thị phần theo nhóm sản phẩm để thấy đợc sản phẩm
nào chúng ta có thế mạnh nhất và sản phẩm nào chúng ta còn bị hạn chế trong cạnh
tranh trên thị trờng nội địa.
Bảng 4: Thị phần theo sản phẩm
Đơn vị:%
Thị phần
Sữa đặc có đờng Sữa bột Sữa tơi
Tổng 100% 100% 100%
Vinamilk 66-70% 40% 90 - 98%
Dutch Lady, Nestle và các
doanh nghiệp trong nớc khác
30 - 35% 35-40% 2 - 6%
Sản phẩm nhập khẩu <1% 20% 2 - 3%
Nguyễn Thị Minh Trang
17
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
(Nguồn: Tính toán dựa theo số liệu của Viện Quy
hoạch và thiết kế nông nghiệp)
Theo số liệu trên thì Vinamilk gần nh độc quyền đối với sản phẩm sữa tơi,
chiếm phầm lớn thị phần của sản phẩm sữa đặc và sản phẩm sữa bột cũng chiếm
đến một nửa thị trờng. Tức là trong cơ cấu sản phẩm, sản phẩm nội địa cũng chiếm

Zealand, hiện nay giá một lít sữa tơi của sản phẩm nội địa khi bán cho ngời tiêu
dùng vào khoảng 11.000đ/lít, giá bán của hàng nhập khẩu vào khoảng 17.000đ/lít
Nếu xét về giá nh trên thì sản phẩm sữa trong nớc có khả năng cạnh tranh về
giá. Nhng thực ra, trong cơ cấu giá trên có đến 30% là thuế Chính phủ đánh vào
sản phẩm nhập khẩu. Nh vậy, nếu tính ra giá sản phẩm sữa bột, bột dinh dỡng nhập
khẩu sẽ cao hơn từ 20-60%, giá sản phẩm sữa tơi nhập khẩu sẽ cao hơn khoảng
1.000 đ/lít, sản phẩm của chúng ta vẫn có thể có cạnh tranh về giá ngay cả khi bỏ
qua việc bảo hộ của Chính phủ, nhng sức cạnh tranh về giá là rất thấp, bấp bênh và
không ổn định nhất là khi giá nguyên liệu đầu vào nhập khẩu đang có xu hớng tăng
nh hiện nay. Liệu trong mối tơng quan với chất lợng chúng ta có thể cạnh tranh đợc
hay không.
2.Khả năng cạnh tranh về chất lợng của sản phẩm sữaViệt Nam:
Mặc dù với công nghệ sản xuất tơng đối hiện đại đủ khả năng để chế biến các
sản phẩm sữa đảm bảo chất lợng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Sản phẩm của Công ty Sữa
Việt Nam đợc các cơ qua chuyên trách về chuyên trách trong và ngoài nớc xác
nhận về chất lợng (Vinacontrol, Viện Kiểm tra Đo lờng chất lợng của áo ). Tuy
nhiên xét về tổng thể, Việt Nam vẫn cha xây dựng đợc bộ tiêu chuẩn hoàn chỉnh
cho các sản phẩm sữa từ sữa nguyên liệu nhập khẩu đến sữa thành phẩm. Tức là,
chất lợng sản phẩm nội địa đợc thả nổi, không đợc đảm bảo bởi bất kỳ một tổ chức
có uy tín nào, mà phụ thuộc vào cách làm của từng công ty. Hơn nữa sản phẩm sữa
trong nớc chủ yếu đơc sản xuất từ sữa bột nhập khẩu, mà để sản phẩm chế biến từ
nguồn sữa bột nhập đạt đợc chất lợng nh sản phẩm tạo ra từ nguồn sữa tơi tại chỗ
Nguyễn Thị Minh Trang
19
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
thì trong quá trình chế biến phải bổ xung thêm vi lợng vi lợng các khoáng chất,
vitamin, béo
Trong khi chúng ta so sánh với các đại gia sản xuất sữa trên thế giới, chất lợng
sản phẩm luôn đợc đảm bảo bởi các hiệp hội có uy tín trên thế giới. Từ trớc đến nay
đã luôn đợc ngời tiêu dùng tin cậy, ngay cả ngời tiêu dùng trong nớc, đối với các

điều kiện sản xuất, thị trờng tiêu thụ sản phẩm này cũng phải gần thị trờng thì mới
không làm tăng giá do chi phí bảo quản. Do vậy, không có mặt hàng này nhập
khẩu.
Giá sản phẩm này trên thị trờng đợc bán với giá khoảng 9.500 đồng/lít (gồm
cả chi phí bán hàng ) và cha kể thuế giá trị giá tăng. Nếu lấy giá nguyên liệu sữa
hiện nay trong nớc là 3.550 đồng/lít thì giá thành 1 lít sữa tơi đã qua chế biến là
8.176 đồng/lít. Tức là so với giá bán ở trên thì các cơ sở chế biến gần nh cha có lãi
ở loại sản phẩm này.
2.Sữa tơi tiệt trùng (UHT) và Sữa chua:
Hai loại sản phẩm này về cơ bản có thể biểu diễn lu trình công nghệ sản xuất
nh sau:
Hình 1: Lu trình công nghệ sản xuất sữa tơi tiệt trùng
và sữa chua dạng uống.
(Nguồn: Theo quy hoạch phát triểnngành công nghiệp sữa Việt Nam).
Nớc Bột sữa

Sữa tiệt trùng

Sữa chua dạng uống
Nguyễn Thị Minh Trang
21
Trao đổi nhiệt
Hoà trộn Hoà trộn
Làm lạnh
Thùng chứa
Thanh trùng
Đồng hoá
Tiệt trùng UHT
Lưu 3 giây
Làm nguội

của các sản phẩm nhập khẩu này luôn có giá cao hơn sản phẩm trong nớc 50%.
Nên các sản phẩm cùng loại của chúng ta cạnh tranh đợc chủ yếu về giá. Song sản
phẩm nhập khẩu có mức giá cao nh vậy phần lớn là do thuế, thuế này đánh 30%
vào sản phẩm sữa nhập khẩu. Nói chung hiện nay, sản phẩm nhập khẩu hơn hẳn
chúng ta nếu xét về chất lợng sản phẩm, chúng hiện chỉ có khả năng cạnh tranh về
giá mà một phần lớn là dựa vào sự bảo hộ của Chính phủ. Nếu sản trong nớc chế
biến từ nguồn sữa bột nhập đạt đợc chất lợng nh sữa nhập khẩu thì trong quá trình
chế biến phải bổ xung thêm vi lợng các chất khoáng, vitamin, béo Điều đó sẽ làm
giảm đáng kể lợi nhuận cho nhà sản xuất. Nếu Nhà nớc ban hành Tiêu chuẩn chất
lợng thống nhất cho sản phẩm sữa thì quá trình bổ xung thêm vi lợng các chất
khoáng, vitamin, béo trong chế biến từ nguyên liệu sữa bột mới đợc coi trọng, điều
này sẽ làm tăng chi phí sản xuất dẫn đến làm tăng giá sản phẩm trong nớc. Khi đó,
sản phẩm của chúng ta chất lợng cao hơn sẽ không còn khả năng cạnh tranh về giá
nữa.
Trong tình trạng chất lợng nh hiện giờ khi không có thuế can thiệp, sản phẩm
nhập ngoại chỉ cao hơn của chúng ta gần 10%. Tức là nếu tính theo giá bán 1 lít sản
xuất trong nớc là 11.000 đồng/lít thì sản phẩm nhập khẩu là 12.000 đồng/lít, với t-
ơng quan chất lợng nh vậy liệu sản phẩm sản xuất trong nớc có còn chỗ đứng ngay
trên thị trờng nội địa hay không.
Xét trong cơ cấu giá thành của sản phẩm này, chi phí trong nớc chỉ chiếm có
24%, trong khi đó chi phí ngoại tệ chiếm đến 76%, thế nhng một điều thật ngạc
nhiên là không phải phần lớn chi phí ngoại tệ dùng để nhập khẩu nguyên liệu sữa
bột gầy mà là chi phí bao bì, chi phí này chiếm 62,5% trên tổng chi phí, tức là
nguyên liệu sữa nhập khẩu chỉ chiếm 13,5%. Vậy chúng ta phân tích xem nhóm
sản phẩm này của chúng ta có khả năng giảm giá hay tăng chất lợng hay không.
Nguyễn Thị Minh Trang
23
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Nếu muốn giảm giá, thì giải pháp tốt nhất là phải có hớng giảm chi phí bao bì
xuống, tức là chuyển hớng tìm nhà cung cấp bao bì trong nớc. Đây là phơng hớng

khẩu hiện nay không có mặt trên thị trờng.
4.Sữa bột: Sản phẩm đợc chế biến từ sữa bột + dầu bơ + dầu thực vật +
Maltodestrin + Lactore đợc đồng hoá - thanh trùng - cô đặc - sấy phun - tạo hạt,
trộn thêm đờng kính và các vitamin - đóng trong hộp thiếc. Sản phẩm sữa bột thích
hợp với các đối tợng nh trẻ em, ngời già, đợc tiêu thụ nhiều ở thành thị và xuất
khẩu.
Đối thủ cạnh tranh với chúng ta bao gồm các nớc bao gồm: Pháp, Hà Lan, Bỉ,
Đan Mạch, New Zealand, Nhật Bản, Mỹ.
Trong cơ cấu giá thành sản phẩm này chi phí nội địa chỉ chiếm 32% trên tổng
chi phí còn 68% là chi phí nguyên liệu vật t nhập khẩu. Trong đó khoảng 42% giá
thành là chi phí nhập sữa bột gầy, tức là bao gói và các chất bổ sung chỉ chiếm
26%. Phần chi phí nguyên liệu chiếm quá lớn trong cơ cấu chi phí sản phẩm này
nên việc chúng ta cạnh tranh là rất khó.
Vì sản phẩm này phục vụ cho nhóm khách hàng tơng đối khó tính, đòi hỏi
nhiều về thành phần dinh dỡng. Các sản phẩm nhập khẩu luôn có thế mạnh hơn
trong việc cạnh tranh nhóm sản phẩm này. Ngoài công nghệ sản xuất hiện đại mà
chúng ta không thể theo kịp, phải nói rằng các sản phẩm nhập khẩu này đều đợc
các tổ chức có uy tín trên thế giới đánh giá cao và công nhận về chất lợng. Mặc dù
giá sản phẩm nhập khẩu này cao hơn rất nhiều so với giá sản phẩm tơng tự trong n-
ớc nhng vẫn đợc ngời mua sử dụng. Nếu không bị hạn chế bởi thuế và hạn ngạch
thì sản phẩm này sẽ áp đảo các sản phẩm nội địa, nhất là những doanh nghiệp
không có tên tuổi trên thị trờng quốc tế Bên cạnh đó cũng phải nói rằng, khả năng
cạnh tranh cao
5.Bột dinh dỡng: Sản phẩm chế biến từ bột sữa + sữa đậu nành + dầu thực vật
+ bột ngũ cốc + đờng kính + các loại vitamin sau đó trộn đều và thực hiên đồng hoá
- thanh trùng - sấy phun - tạo hạt - làm nguội - đóng hộp. Sản phẩm ăn liền, tiện lợi
cho việc nuôi dỡng trẻ em.
Nguyễn Thị Minh Trang
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status