Trao đổi nhiệt
Hoà trộn
Hoà trộn
Làm lạnh
Thùng chứa
Thanh trùng
Đồng hoá
Tiệt trùng UHT
Lưu 3 giây
Làm nguội
Rót & đóng gói
Rót & đóng gói
Kho chứa
Lên men sữa chua
Giám đốc
Phó giám đốc
Phòng KT & kiểm tra chất lượng
Phân xưởng sản xuất
Hành chính
Kế toán
Tiêu thụ
Tổ sản xuất
Hội đồng quản trị
Tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Giám đốc nghiệp vụ
Giám đốc thương mại
Giám đốc sản xuất
Phòng hành chính
Phòng kế toán
Phòng tổng hợp
không còn phù hợp nữa. Liệu sản phẩm sữa Việt Nam có tìm đợc chỗ đứng cho
mình hay không khi những đặc chế này bị xoá bỏ. Cùng với những giới hạn của
các nguồn lực phát triển không cho phép chúng ta đầu t lãng phí vào những
ngành không có hiệu quả cạnh tranh cao.
Vì vậy, việc đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam là
cần thiết, góp phần quan trọng trong việc định hớng và xây dựng những chính
sách phát triển liên quan đến ngành.
Đứng trớc yêu cầu trên em đã lựa chọn đề tài Đánh giá khả năng cạnh tranh
trên thị trờng nội địa của ngành sản phẩm sữa Việt Nam để làm đề tài cho
chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Chuyên đề gồm có ba chơng, kết cấu nh sau:
Chơng I: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa
Việt Nam.
Chơng II: Đánh giá năng lực cạnh tranh trên thị trờng nội địa của
Nguyễn Thị Minh Trang
1
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
ngành sản phẩm sữa Việt Nam.
Chơng III: Một số giải pháp phát triển cho ngành sản phẩm sữa
Việt Nam.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhng do hạn chế về kinh nghiệm và trình độ nên
chuyên đề này không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận đợc ý kiến
đóng góp của thầy cô, cán bộ hớng dẫn nơi thực tập và của các anh chị em sinh
viên.
Em xin chân thành cảm ơn ThS. Vũ Cơng cùng tập thể cán bộ Ban nghiên cứu
và phát triển các ngành sản xuất đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực
hiện chuyên đề này
!
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2005
2
Cạnh tranh có thể đợc phân chia thành nhiều loại dựa trên các tiêu thức
khác nhau, nếu xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể kinh tế trong cạnh
tranh, có cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành. C.Mác đã
dùng cách phân loại trên đây nghiên cứu cơ sở khoa học của các phạm trù giá
trị thị trờng, giá cả sản xuất và lợi nhuận bình quân. ở đó, C.Mác chỉ rõ trớc hết
để đạt mục tiêu bán cùng một loại hàng hoá đã xuất hiện sự cạnh tranh trong
nội bộ ngành, kết quả là hình thành giá trị thị trờng. Và sau nữa, để đạt mục tiêu
giành nơi đầu t có lợi, giữa các chủ thể kinh tế đã xuất hiện cạnh tranh giữa các
ngành, kết quả là hình thành lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất. Cuối cùng
xét theo phạm vi lãnh thổ ngời ta nói tới cạnh tranh trong nớc và cạnh tranh
quốc tế. Trong trờng hợp này năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa đợc đánh
giá trên góc độ là cạnh tranh trong nội bộ ngành sản phẩm đồng thời xét theo
phạm vi lãnh thổ chúng ta đánh giá và so sánh khả năng cạnh tranh nh là cuộc
cạnh tranh quốc tế, mặc dù vấn đề chúng ta nghiên cứu chủ yếu là cạnh trên thị
trờng trong nớc là chính.
Khi nghiên cứu về cạnh tranh, các nhà nghiên cứu còn sử dụng các khái
niệm nh sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Rõ ràng
các khái niệm trên đều có quan hệ với cạnh tranh nhng không hoàn toàn đồng
nhất với nhau. Trong thực tế, thì sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và năng
lực cạnh trang đợc sử dụng nh những khái niệm đồng nghĩa. Thuật ngữ năng lực
cạnh tranh đợc sử dụng rộng rãi trong các phơng tiện thông tin đại chúng, trong
các sách báo chuyên môn, trong giao tiếp hàng ngày của các chuyên gia kinh tế,
các chính khách, nhà kinh doanh Cho đến nay vẫn ch a có một sự nhất trí cao
trong các học giả và giới chuyên môn về khái niệm và cách thức đo lờng phân
tích năng lực cạnh tranh của cấp quốc gia, ngành, công ty Lý do là ở chỗ có
nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực cạnh tranh.
Trong bài này, trên quan điểm xuất phát của cạnh tranh là bắt đầu từ khi
các doanhh nghiệp phải đơng đầu với những khó khăn trong việc chiếm lĩnh thị
trờng khi cung lớn hơn cầu. Nên chúng ta có thể hiểu khả năng cạnh tranh của
4
5
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
đối với các doanh nghiệp hay với ngành sản xuất sản phẩm có ít hàm lợng khoa
học kĩ thuật, nh hàng tiêu dùng thông thờng đặc biệt là hàng lơng thực thực
phẩm. Nhất là trong điều kiện về thu nhập của ngời tiêu dùng còn thấp.
Vấn đề khả năng cạnh tranh về giá còn cho thấy chi phí sản xuất của doanh
nghiệp thấp hơn các đối thủ của nó. Điều này thể hiện các hoạt động tạo ra giá
trị của doanh nghiệp có tính u việt hơn các đối thủ cạnh tranh. Chi phí thấp cho
phép doanh nghiệp có khả năng đơng đầu với những diễn biến bất lợi của có tác
động đến giá cân bằng thị trờng.
2.1.2 Khả năng cạnh tranh của sản phẩm về chất l ợng:
Trớc tiên, chất lợng sản phẩm ít nhất phải đợc xác nhận về chất lợng và
quy trình công nghệ của các cơ quan chuyên trách. Đây là nhân tố đầu tiên đảm
bảo doanh nghiệp thực hiện các tiêu chuẩn cơ bản, đủ t cách sản xuất ra loại
hàng hoá nào đó theo quy định của pháp luật (đối với từng sản phẩm đặc thù
đều có những tiêu chuẩn kiểm định riêng về chất lợng do cơ quan có thẩm
quyền đa ra).
Thứ hai đó là chất lợng đợc khẳng định trong tâm trí ngời mua hàng, đó là
một thứ tài sản vô hình vô cùng quý báu của doanh nghiệp nh uy tín, tên tuổi
sản phẩm. Nó thể hiện sự tin tởng vào sản phẩm của khách hàng, tức là khi lựa
chọn để sử dụng loại sản phẩm đó ngời mua nghĩ ngay đến sản phẩm của doanh
nghiệp, ngay cả khi giá sản phẩm có cao hơn thị trờng. Đó là khi, nếu cùng một
chủng loại sản phẩm giá nh nhau, chất lợng sản phẩm sẽ đợc đo bằng số lợng
ngời mua lựa chọn loại sản phẩm của doanh nghiệp, tức là thị phần của doanh
nghiệp có đợc trên cùng một loại sản phẩm. Chất lợng tạo sự tin cậy lâu dài của
khách hàng vào sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp doanh nghiệp nào có uy
tín hơn về chất lợng sẽ thắng thế trong cạnh tranh.
Chất lợng sản phẩm còn đợc đánh giá theo quy trình sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm. Nh vậy, chỉ tiêu chất lợng thực ra xét về bản chất nó đã nằm trong chỉ
tiêu về giá. Tuy nhiên, trong một số trờng hợp nó đợc chú trọng nhiều hơn, nhất
*Sau đó, chúng ta đi vào bản chất vấn đề, những biểu hiện khả năng cạnh
tranh trên thị trờng nhờ vào phân tích thị phần có thể tin cậy đợc hay không.
Nguyễn Thị Minh Trang
7
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Tức là chúng ta đi vào đánh giá sức cạnh tranh theo các tiêu chí về giá và chất l-
ợng của sản phẩm. Nếu sản phẩm có khả năng cạnh tranh thật sự thì những thì
việc sản phẩm có quy mô thị trờng lớn là hoàn toàn hợp lý. Nếu ngợc lại, tức là
thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo, không phản ánh đợc thực chất vấn đề.
*Từ việc đánh giá chỉ tiêu cạnh tranh trên sẽ có hai trờng hợp xảy ra:
TH1: Nếu ngành sản phẩm trong nớc có khả năng cạnh tranh chúng ta
phân tích các yếu tố tác động đến sức cạnh tranh của ngành sản phẩm. Từ đó, có
các định hớng giải pháp khắc phục những khó khăn từ các yếu tố tác động.
TH2: Nếu trên tổng thể ngành không có khả năng cạnh tranh, ta có thể
phân tích theo cơ cấu ngành có thể có khả năng phát triển ở những nhóm sản
phẩm nào, nguyên nhân tại sao và có những định hớng gì để khắc phục nếu
không thể khắc phục đợc thì có những chuyển sang hớng đến sản phẩm mới.
Phơng pháp phân tích ở đây chúng ta phân tích theo hớng đặt ngành trong
mối quan hệ cạnh tranh công bằng trên thị trờng, tức là không công nhận khả
năng cạnh tranh nhờ vào chế độ bảo hộ của Nhà nớc. Bên cạnh đó phải chỉ ra đ-
ợc khả năng cạnh tranh của ngành trong tơng lai là có hay không, tức là khả
năng giảm giá sản phẩm của ngành có thể thực hiện đợc hay không.
Cách phân tích khả năng giảm giá của sản phẩm trong điều kiện có đóng
góp của các yếu tố sản xuất từ nớc ngoài, ta dựa vào tỷ lệ phần đóng góp của
các yếu tố đầu vào và quy trình tạo ra giá trị sản phẩm. Trong đó phần nào
chiếm tỷ lệ cao nhất và khả năng nội địa hoá là bao nhiêu. Phần nội địa hoá
càng có góp phần tạo giá trị mới cho sản phẩm càng cao thì khả năng cạnh tranh
của ngành sản phẩm đó càng cao. Vấn đề này càng phải đợc phân tích chặt chẽ
khi sản phẩm có chứa những yếu tố sản xuất từ nớc ngoài mà khả năng cạnh
tranh hiện tại cha có hay cha thể hiện rõ.
ổn định chủ động cho ngành, đồng thời tạo điều kiện cơ sở cho lợi thế cạnh
tranh trong tơng lai. Nhóm gồm:
1.Nguồn nguyên liệu.
2.Lao động.
3.Khoa học công nghệ.
Nguyễn Thị Minh Trang
9
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
4.3.Các nhân tố từ môi trờng cạnh tranh trong nớc với doanh
nghiệp chủ chốt:
Phân tích nhân tố này cho thấy khả năng của các công ty trong việc nâng
cao năng lực cạnh tranh ngành nh: số lợng công ty tham gia vào ngành, vị thế
đàm phán của bên cung ứng, thị phần và tình hình sản xuất kết hợp các yếu tố
đầu vào cho ra sản phẩm. Sự cạnh tranh gay gắt trong nội bộ ngành có thể sẽ
làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp nhng lại khiến ngành ở nơi sở tại ấy
đi trớc đối thủ cạnh tranh là ngời nớc ngoài. Hay nói cách khác đó là đánh giá
trình độ quản lý, quy trình để có đợc sản phẩm đầu ra. Có thể chia mục này
thành hai phần cơ bản sau:
1. Các công ty tham gia vào ngành, thị phần và hiệu quả hoạt động kinh
doanh của các công ty hiện nay.
2. Vị thế đàm phán của bên cung ứng.
II/Ngành sản phẩm sữa và sự cần thiết phải đánh giá
khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt
Nam:
1.Đặc điểm của ngành sản phẩm sữa:
Ngành sản phẩm sữa Việt Nam đợc hình thành từ những năm 1960, nhng
chỉ thực sự phát triển từ năm 1986 khi đất nớc thực hiện công cuộc đổi mới.
Trong những năm trở lại đây, thu nhập bình quân ngời dân Việt Nam tăng lên,
do vậy mới phát triển mạnh mẽ nhu cầu sử dụng sữa, và khả năng mở rộng thị
trờng tiêu thụ sản phẩm sữa ở Việt Nam sẽ tiếp tục tăng nhiều hơn nữa trong
Bảng1: Giá trị sản xuất công nghiệp
Đơn vị: Tỷ đồng
1995 1997 1998 1999 2000 2001
Công nghiệp toàn
quốc
103.374 134.420 150.685 168.749 195.225 223.578
Nguyễn Thị Minh Trang
11
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Bộ Công nghiệp
quản lý
24.783 32.080 34.956 36.284 41.793 48.159
Công ty Sữa VN 1.065,3 1.119,4 1.420 1.896,1 2.316 3.648
(Nguồn: Số liệu của Bộ Công nghiệp)
So sánh về giá trị sản xuất công nghiệp, tỷ trọng của Vinamilk so với Bộ
Công nghiệp chiếm 4,30% trong năm 1995 đã tăng lên 5,54% trong năm 2000
(so với toàn ngành công nghiệp, con số tơng ứng là 1,03% và 1,19%). Nhìn
chung, tốc độ tăng trởng của ngành sữa cao hơn tốc độ tăng trởng của toàn
ngành công nghiệp. Tính theo giá trị sản xuất công nghiệp, ngành sữa có mức
tăng trởng trung bình là 20%/năm trong giai đoạn 1996-2000. Trong khi đó,
mức tăng trởng cùng thời kỳ của toàn ngành công nghiệp là 13,57%/năm (theo
giá cố định 1994). Điều này cho thấy ngành công nghiệp chế biến sữa trong quá
trình phát triển, ngành đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển chung
của toàn ngành công nghiệp cũng nh cả nớc. Bên cạnh đó, còn có những lý do
sau cần phải đánh giá thực trạng khả năng cạnh tranh sau để có đợc định hớng
nhập khẩu hay phát triển ngành một cách hợp lý.
Thứ hai, thu nhập bình quân đầu ngời của Việt Nam ngày càng cao, ngành
công nghiệp chế biến sữa đang phải đáp ứng nhu cầu sử dụng sữa và các sản
phẩm từ sữa của ngời dân ngày một nhiều hơn. Theo thống kê, dự báo sẽ đạt 8
lít vào năm 2005 và 10-12 lít vào năm 2010. Phát triển sản xuất sản phẩm sữa
vật nuôi trong nông nghiệp. Hiện nay, vấn đề này đã đợc các Ban ngành có
thẩm quyền quan tâm, nh Chơng trình phát triển đàn bò sữa 135 của Nhà nớc để
thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo.
3.Quan điểm đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản
phẩm sữa Việt Nam:
Thực tế thấy rằng ngành công nghiệp Sữa của Việt Nam sinh sau đẻ muộn
và vô cùng nhỏ bé so với các đại gia trên thế giới, trong khi đó nhu cầu tiêu
dùng của thị trờng nội địa mới phát triển và còn nhiều tiềm năng lớn bởi mức
tiêu dùng sữa của ngời dân Việt Nam còn quá thấp so với thế giới và còn phải
mất rất nhiều năm phấn đấu để ngành này đáp ứng đợc mức tiêu dùng của ngời
Nguyễn Thị Minh Trang
13
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
dân Việt Nam bằng các nớc trong khu vực chứ cha nói gì theo kịp mức các nớc
công nghiệp phát triển. Đặc biệt là nếu ngành sản phẩm Việt Nam muốn thâm
nhập vào thị trờng xuất khẩu mới, ngoài các yếu tố về giá cả và chất lợng mà
phải có uy tín về thơng hiệu của mình, đây chính là điểm yếu của sản phẩm sữa
Việt Nam so với các hãng hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, trong mấy năm qua,
các sản phẩm sữa Việt Nam cũng đã xuất khẩu đợc sang thị trờng thế giới, nhng
phải nhìn nhận rằng thực chất việc xuất khẩu đó là do ta đã tận dụng đợc hoàn
cảnh chính trị đặc biệt của thế giới, và cũng chủ yếu là đối với thị trờng Irăk
(Trung Đông). Nh vậy thị trờng hiện nay và trong tơng lai tới của ngành sản
phẩm sữa Việt Nam chủ yếu tập trung khai thác là thị trờng nội địa. Vì lý do đó,
trong khuôn khổ bài viết này, em chỉ tập trung phân tích khả năng cạnh tranh
của ngành sản phẩm sữa Việt Nam trên thị trờng nội địa. Do vậy khi nói đến thị
trờng trong bài chúng ta có thể ngầm hiểu ở đây là thị trờng nội địa.
chơng ii
đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành
sản phẩm sữa việt nam
i/điều kiện về cầu thị trờng trong nớc:
khi thu nhập tăng sẽ làm tăng nhu cầu sử dụng về loại hàng này, hiện nay hệ số
co dãn của loại hàng hoá này theo thu nhập của nhóm chuyên gia của tổ chức
phát triển liên hợp quốc giúp Việt Nam nghiên cứu năm ngành công nghiệp
(công nghiệp chế bién thực phẩm, công nghiệp dệt may, công nghiệp điện tử,
công nghiệp ôtô và công nghiệp cơ khí) thời kỳ 1990 - 1995 hệ số này là 1,42
(do xuất phát điểm năm1990 của Việt Nam quá thấp, lợng tiêu thụ chỉ đạt 31
triệu lít). Thời kỳ 1996 - 2000 con số này là 0,75 và hiện nay con số này đạt
khoảng 0,95 và tơng đối ổn định, tất nhiên là sẽ không cao đợc nhiều nh thời kỳ
Nguyễn Thị Minh Trang
15
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
1990 - 1995, nhng cũng không thấp nh thời kỳ 1996 - 2000 do chịu nhiều biến
động kinh tế nh cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998.
Xét về sự thay đổi trong cơ cấu về chủng loại sản phẩm : Việt Nam là nớc
nghèo, có mức thu nhập bình quân đầu ngời thuộc loại thấp nhất thế giới, vì lẽ
đó trong nhiều năm qua ngời dân cha có điều kiện tiêu dùng sữa một cách rộng
rãi. Sau những năm đổi mới kinh tế tăng trởng đều và ở mức cao, thu nhập bình
quân đầu ngời khá hơn nhất là đối với khu vực thành thị và các khu tập trung
công nghiệp, nhu cầu tiêu dùng trong dân đã có mức tăng đột biến, thể hiện rõ
nhất trong giai đoạn 5 năm 1990 - 1995 và 1996 - 2000. Nh vậy là tăng trởng
thu nhập quốc dân có liên quan chặt chẽ đến mức tiêu dùng sữa của ngời dân.
Từ năm 1976, sản phẩm sữa chế biến của ngời dân chủ yếu là sữa bột và
sữa đặc có đờng, đối tợng tiêu thụ chủ yếu là trẻ em, ngời già, ngời ốm. Đến
năm 1982, danh mục các sản phẩm chế biến từ sữa bắt đầu đợc mở rộng phuc
vụ cho nhiều đối tợng tiêu dùng. Trong cơ cấu thu nhập, khoảng các thu nhập
cũng dẫn đến đòi hỏi về hàng hoá là khác nhau. Ngời nông thôn có thu nhập
thấp hơn không những số lợng sữa tiêu thụ thấp hơn mà loại sản phẩm họ mua
cũng khác, chủ yếu là sữa đặc có đờng. Sản phẩm này giá rẻ, thuận tiện cho việc
phân phối bảo quản tiêu dùng ở nông thôn và vùng sâu vùng xa.
Trên thị trờng những ngời có thu nhập cao hơn, họ dùng nhiều sữa hơn và
nhu cầu đang ban đầu đợc mở rộng nhanh chóng do có nhiều khách hàng mới
tham gia vào thị trờng. Điều này có tác động đến mức độ cạnh tranh giữa các
đối thủ cạnh tranh trong ngành (ở đây là với sản phẩm nhập khẩu), nó đa đến
nhiều cơ hội cho phát triển ngành, giảm sứa ép cạnh tranh giữa các đối thủ. Do
sự cạnh tranh còn yếu, nên sự tăng mạnh về cầu cho phép các công ty nội địa
tăng doanh số và lợi nhuận mà không cần phải thôn tính thị trờng của đối thủ
cạnh tranh ngay trong nớc cũng nh đối thủ nhập khẩu. Các sản phẩm nội địa
cũng nh nhập khẩu đều có thể mở rộng hoạt động. Đây là khoảng cách cần
thiết cho các công ty trong nớc tận dụng nắm lấy thuận lợi của điều kiện thị tr-
ờng trong giâi đoạn này là sự cạnh tranh tơng đối hoà dịu để chuẩn bị cho sự
cạnh tranh quyết liệt sau này.
Nguyễn Thị Minh Trang
17
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
ii/đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm sữa
việt nam:
Nếu nhận định tổng quát theo tình hình tiêu thụ trên thị trờng nội địa, thì
hiện nay sản phẩm sữa Việt Nam có những biểu hiện khả năng cạnh tranh rất
cao, dựa vào các chỉ tiêu về thị phần và tốc độ tăng thị phần của sản phẩm sữa
nội địa.
Dựa theo số liệu của hai bảng dới đây, cho thấy sản phẩm nội địa nhanh
chóng chiếm lĩnh thị trờng từ 57% năm1991 cho đến nay đã chiếm lĩnh áp đảo
sản phẩm nhập khẩu là 92% thị trờng nội địa. Trong khi đó, sản phẩm nhập
khẩu ngày càng giảm từ 43% thị phần hiện nay chỉ còn chiếm có 3 - 5% thị
phần nội địa.
Bảng 2: Thị phần sữa năm 1991 trên thị trờng Việt Nam
(Đơn vị:%)
Nguồn gốc sản xuất của sản phẩm sữa Thị phần
Tổng 100%
Các sản phẩm sản xuất trong nớc 57%
Dutch Lady, Nestle và các
doanh nghiệp trong nớc khác
30 - 35% 35-40% 2 - 6%
Sản phẩm nhập khẩu <1% 20% 2 - 3%
(Nguồn: Tính toán dựa theo số liệu của Viện Quy hoạch và thiết kế nông
nghiệp)
Theo số liệu trên thì Vinamilk gần nh độc quyền đối với sản phẩm sữa tơi,
chiếm phầm lớn thị phần của sản phẩm sữa đặc và sản phẩm sữa bột cũng chiếm
đến một nửa thị trờng. Tức là trong cơ cấu sản phẩm, sản phẩm nội địa cũng
chiếm thế áp đảo đối với mọi nhóm sản phẩm ngành sữa, trong đó có mạnh nhất
có lẽ là sản phẩm sữa tơi.
Nguyễn Thị Minh Trang
19
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Nh vậy, nếu chỉ quan sát qua thị trờng tiêu thụ sữa mà đánh giá khả năng
cạnh tranh của sản phẩm sữa thì rõ ràng sản phẩm sữa nội địa hiện nay của Việt
Nam rất cao, nhất là đối với các sản phẩm sản xuất từ doanh nghiệp Nhà nớc.
Vậy điều đó có thể hiện đúng bản chất của sức cạnh tranh của ngành sản phẩm
sữa Việt Nạm hay không. Để làm đợc thế, chúng ta phải sử dụng các tiêu chí
phản ánh khả năng cạnh tranh của nhóm sản phẩm này để đánh giá, đó là tiêu
chí về giá và chất lợng. Từ đó mới có kết luận chính xác là ngành sản phẩm sữa
Việt Nam thực sự có khả năng cạnh tranh thuần thuý và lâu dài hay không, hay
là nó chỉ cạnh tranh đợc nhờ sự thuận lợi không bền vững từ các yếu tố ngoài
ngành khác, đặc biệt là sự bảo hộ từ phía Chính phủ.
1.Khả năng cạnh tranh về giá của sản phẩm sữaViệt Nam:
Nhìn chung, trên thị trờng sữa hiện nay, giá sản phẩm sữa sản xuất trong n-
ớc luôn rẻ hơn giá sữa sản phẩm nhập khẩu cùng loại từ 50 - 60%.
Ta chia sản phẩm sữa ra làm ba nhóm sản phẩm gồm: sản phẩm sữa bột,
sản phẩm sữa đặc có đờng và sản phẩm sữa tơi để phân tích giá.
Sản phẩm sữa bột, bột dinh dỡng: Đối thủ cạnh tranh của chúng ta gồm có
hoàn chỉnh cho các sản phẩm sữa từ sữa nguyên liệu nhập khẩu đến sữa thành
phẩm. Tức là, chất lợng sản phẩm nội địa đợc thả nổi, không đợc đảm bảo bởi
bất kỳ một tổ chức có uy tín nào, mà phụ thuộc vào cách làm của từng công ty.
Hơn nữa sản phẩm sữa trong nớc chủ yếu đơc sản xuất từ sữa bột nhập khẩu, mà
để sản phẩm chế biến từ nguồn sữa bột nhập đạt đợc chất lợng nh sản phẩm tạo
ra từ nguồn sữa tơi tại chỗ thì trong quá trình chế biến phải bổ xung thêm vi l-
ợng vi lợng các khoáng chất, vitamin, béo
Trong khi chúng ta so sánh với các đại gia sản xuất sữa trên thế giới, chất
lợng sản phẩm luôn đợc đảm bảo bởi các hiệp hội có uy tín trên thế giới. Từ trớc
đến nay đã luôn đợc ngời tiêu dùng tin cậy, ngay cả ngời tiêu dùng trong nớc,
đối với các sản phẩm nhập ngoại này giá rất cao ngay cả khi bị chịu thuế vẫn có
ngời tiêu dùng, nếu không bị hạn chế bởi thuế và hạn ngạch của Chính phủ thì
sản phẩm sữa trong nớc có khả năng sẽ bị đè bẹp ngay trên thị trờng nội địa.
Nguyễn Thị Minh Trang
21
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Kết luận nhỏ: Từ phân tích trên ta đánh giá tổng quát về sức cạnh tranh
chung của toàn ngành nh sau: chúng ta có khả năng cạnh tranh về giá nhng là
rất thấp và không ổn định do không chủ động đợc nguồn nguyên liệu đầu vào,
còn khả năng cạnh tranh về chất lợng thì chúng ta không có. Tức là nhìn chung
khả năng cạnh tranh của sản phẩm sữa Việt Nam so với hàng nhập khẩu là rất
thấp. Do vậy chúng đi sâu vào phân tích khả năng cạnh tranh của từng nhóm
ngành nhỏ để có những nhận định chi tiết và chính xác hơn. Nếu không có khả
năng cạnh tranh chung để phát triển toàn ngành chúng ta có thể đi vào định h-
ớng đầu t phát triển vào những nhóm sản phẩm có năng lực cạnh tranh.
*Phân tích khả năng cạnh tranh theo từng nhóm sản phẩm
trong ngành sản phẩm sữa:
Kết hợp cả việc phân tích về giá và chất lợng teo nhóm sản phẩm, chúng ta
có xét những nhóm sản phẩm chủ yếu sau:
1.Sữa tơi thanh trùng: sản phẩm này chế biến từ sữa bò tơi đợc gia nhiệt
Sữa chua dạng uống
Nguyễn Thị Minh Trang
23
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Sữa tơi tiệt trùng (UHT) Sản phẩm đợc chế biến từ sữa bò tơi, gia nhiệt tiệt
trùng ở nhiệt độ cao 150
0
C trong thời gian từ 1-2 giây sau đó đóng bằng bao
BBIST. Đặc điểm của sản phẩm có thời hạn sử dụng lâu (có thể đợc 12 tháng)
trong điều kiện nhiệt độ bình thờng, thuận tiện khi vận chuyển phân phối và sử
dụng nên các nớc Châu á trong đó có Việt Nam rất a chuộng loại sản phẩm
này. Sản phẩm sữa tơi tiệt trùng nếu đợc sản xuất từ nguồn nguyên liệu sữa tơi
tại chỗ thì bỏ qua công đoạn hoà trộn
Sữa chua: sản phẩm đợc chế biến sữa bò (sữa bột hoặc sữa tơi) + dầu bơ +
đờng đợc đồng hoá - thanh trùng - làm nguội - cấy men- ủ - làm lạnh - đóng
hộp PE. Sản phẩm đợc bảo quản ở nhiệt độ 5
0
C. Đặc điểm của sản phẩm có
nhiều chất bổ dỡng, kích thích tiêu hoá, thích hợp cho mọi tầng lớp ngời tiêu
dùng tại mọi thị trờng.
Hai loại sản phẩm này hiện nay là sản phẩm chủ lực của công ty Vinamilk,
Dutch Lady, hiện đợc tiêu thụ rộng rãi và rất đợc ngời tiêu dùng a chuộng. Canh
tranh với các doanh nghiệp trong nớc ở nhóm sản phẩm này có sản phẩm sữa t-
ơi tiệt trùng của Pháp và New Zealand. Các sản phẩm này có hơng vị thơm ngon
hơn sản phẩm của chúng ta, do đợc sản xuất từ sữa cha tác bơ tại bản địa, cũng
vì vậy nên có thành phần dinh dỡng tơng đối đầy đủ tơng tự nh sữa tơi nguyên
chất. Giá của các sản phẩm nhập khẩu này luôn có giá cao hơn sản phẩm trong
nớc 50%. Nên các sản phẩm cùng loại của chúng ta cạnh tranh đợc chủ yếu về
giá. Song sản phẩm nhập khẩu có mức giá cao nh vậy phần lớn là do thuế, thuế
này đánh 30% vào sản phẩm sữa nhập khẩu. Nói chung hiện nay, sản phẩm
mua của nông dân về đến nhà máy 1kg sữa với giá 3.550 đồng tơng đơng 0,23
USD. Nếu sử dụng nguyên liệu sữa tơi tại chỗ trong nớc, sản phẩm sẽ có chất l-
ợng cao nhng sẽ làm tăng chi phí sản phẩm lên khoảng 0,02-0,08 USD, tức là
giá mỗi lít sữa nội địa tăng thêm khoảng 400-1.200 đồng/lít sữa trên thị trờng.
Tơng đối bằng giá sản phẩm nhập ngoại khi không có tác động của thuế.Còn
nếu sử dụng nguyên liệu nhập khẩu thì phải bổ xung thêm một số chất dinh d-
ỡng, điều này làm giá thành sản phẩm cao hơn cả việc sử dụng nguyên liệu
Nguyễn Thị Minh Trang
25