Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
mở đầu
Ngành sản phẩm sữa Việt Nam đã hình thành và phát triển từ những năm
1960, cũng đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử phát triển kinh tế
nớc nhà. Trong quá trình này ngành sản phẩm sữa đã có những đóng góp nhất
định cho sự phát triển ngành công nghiệp nói riêng và tổng thể nền kinh tế nói
chung, tạo công ăn việc làm cho nhiều ngời lao động, đóng góp tích cực vào ch-
ơng trình xoá đói giảm nghèo của khu vực nông thôn, thực hiện công nghiệp
hoá và hiện đại hóa nông nghiệp. Song từ trớc tới nay ngành sản phẩm sữa nội
địa đợc phát triển trong chế độ bảo hộ của Nhà nớc để thực hiện chiến lợc thay
thế hàng nhập khẩu. Những biểu hiện thuận lợi hiện nay của sản phẩm sữa Việt
Nam không hẳn đã phản ánh đúng bản chất năng lực thực sự.
Trong bối cảnh mới, khi mà Việt Nam đã là thành viên của các tổ chức quốc tế
nh ASEAN, APEC, AFTA và với xu thế hội nhập của nền kinh tế nớc ta vào nền
kinh tế khu vực và thế giới, môi trờng cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, nền kinh tế thị
trờng sẽ đợc hoàn thiện hơn, chế độ bảo hộ đối với ngành sản phẩm sữa sẽ
không còn phù hợp nữa. Liệu sản phẩm sữa Việt Nam có tìm đợc chỗ đứng cho
mình hay không khi những đặc chế này bị xoá bỏ. Cùng với những giới hạn của
các nguồn lực phát triển không cho phép chúng ta đầu t lãng phí vào những
ngành không có hiệu quả cạnh tranh cao.
Vì vậy, việc đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam là
cần thiết, góp phần quan trọng trong việc định hớng và xây dựng những chính
sách phát triển liên quan đến ngành.
Đứng trớc yêu cầu trên em đã lựa chọn đề tài Đánh giá khả năng cạnh tranh
trên thị trờng nội địa của ngành sản phẩm sữa Việt Nam để làm đề tài cho
chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Chuyên đề gồm có ba chơng, kết cấu nh sau:
Chơng I: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa
Việt Nam.
Chơng II: Đánh giá năng lực cạnh tranh trên thị trờng nội địa của
1
sản phẩm trong cùng một nớc.
1.Khái niệm về năng lực cạnh tranh và cách tiếp cận vấn đề :
Vấn đề cạnh tranh, về mặt lý luận, từ lâu đã đợc các nhà kinh tế học trớc
C.Mác và chính các nhà kinh tế của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã đề cập đến.
Thuật ngữ cạnh tranh đợc dùng ở đây là cách gọi tắt của cụm từ cạnh tranh kinh
tế (Economic Competition ) bằng một dạng cụ thể của cạnh tranh.
Cạnh tranh xuất hiện trong quy trình hình thành và phát triển của sản xuất
và trao đổi hàng hoá. Do đó, hoạt động cạnh tranh gắn liền với sự tác động của
các quy luật thị trờng, nh quy luật giá trị, quy luật cung cầu do các cách tiếp
cận khác nhau, nên trong thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh.
Kế thừa các quan điểm của các nhà nghiên cứu, chúng ta có thể thấy rằng: cạnh
tranh là quan hệ kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể của nền kinh tế
thị trờng cùng theo đuổi mục đích, đó là lợi ích (trong đó bao gồm cả vấn đề lợi
nhuận tối đa). Cạnh tranh chính là phơng thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh
tế giữa các chủ thể.
3
Nguyễn Thị Minh Trang
3
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Cạnh tranh có thể đợc phân chia thành nhiều loại dựa trên các tiêu thức
khác nhau, nếu xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể kinh tế trong cạnh
tranh, có cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành. C.Mác đã
dùng cách phân loại trên đây nghiên cứu cơ sở khoa học của các phạm trù giá
trị thị trờng, giá cả sản xuất và lợi nhuận bình quân. ở đó, C.Mác chỉ rõ trớc hết
để đạt mục tiêu bán cùng một loại hàng hoá đã xuất hiện sự cạnh tranh trong
nội bộ ngành, kết quả là hình thành giá trị thị trờng. Và sau nữa, để đạt mục tiêu
giành nơi đầu t có lợi, giữa các chủ thể kinh tế đã xuất hiện cạnh tranh giữa các
ngành, kết quả là hình thành lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất. Cuối cùng
xét theo phạm vi lãnh thổ ngời ta nói tới cạnh tranh trong nớc và cạnh tranh
quốc tế. Trong trờng hợp này năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa đợc đánh
doanh nghiệp hay cho ngành.
2.Phơng pháp phân tích khả năng cạnh tranh của ngành sản
phẩm sữa:
Phơng pháp phân tích này dựa trên cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh
của M.Porter về ngành sản phẩm. Theo M.Porter năng lực cạnh tranh của sản
phẩm có thể dựa vào hai tiêu thức: sản phẩm có giá rẻ hơn so với đối thủ cạnh
tranh hoặc là sản phẩm có giá cao hơn bằng cách tạo ra sự khách biệt. Nhng xét
đến sau cùng M.Porter vẫn cho rằng bản chất khả năng cạnh tranh của một
ngành sản phẩm đối với một nớc là khả năng giảm chi phí sản xuất loại sản
phẩm ngành đó.
Do vậy chúng ta có thể sử dụng hai chỉ tiêu sau để đánh giá khả năng cạnh
tranh của ngành sản phẩm:
2.1.Các tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh của sản phẩm:
2.1.1 Khả năng cạnh tranh của sản phẩm về giá:
Chỉ tiêu này đợc sử dụng với vai trò là một sự so sánh về giá giữa các
doanh nghiệp cạnh tranh. Đây là chỉ tiêu cơ bản quan trọng đầu tiên khi xem
xét xem một sản phẩm nào đó có khả năng cạnh tranh hay không. Bởi thông
qua giá, mà doanh nghiệp có khả năng thu hút ngày càng nhiều hơn khách hàng
về phía mình, tất nhiên là trong mối tơng quan với chất lợng sản phẩm mà
doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng. Chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng nhất là
5
Nguyễn Thị Minh Trang
5
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
đối với các doanh nghiệp hay với ngành sản xuất sản phẩm có ít hàm lợng khoa
học kĩ thuật, nh hàng tiêu dùng thông thờng đặc biệt là hàng lơng thực thực
phẩm. Nhất là trong điều kiện về thu nhập của ngời tiêu dùng còn thấp.
Vấn đề khả năng cạnh tranh về giá còn cho thấy chi phí sản xuất của doanh
nghiệp thấp hơn các đối thủ của nó. Điều này thể hiện các hoạt động tạo ra giá
trị của doanh nghiệp có tính u việt hơn các đối thủ cạnh tranh. Chi phí thấp cho
trong điều kiện cạnh tranh tơng đối hoàn hảo thì khả năng cạnh tranh của một
doanh nghiệp hay một ngành sản phẩm của một nớc đợc biểu hiện ở chỉ số thị
phần chiếm lĩnh đợc. Thế nhng trên thực tế, trong lịch sử kinh tế năng lực cạnh
tranh ngành của một số nớc dựa phần lớn vào chế độ bảo hộ của Chính phủ. Nh
việc Chính phủ đa ra hạn ngạch có thể làm hạn chế sự cạnh tranh của các sản
phẩm nhập khẩu do vậy mà sản phẩm trong nớc mới chiếm lĩnh đợc thị trờng
lớn hơn.
2.2.Nội dung phân tích nh sau:
Trong tác phẩm bàn về cạnh tranh toàn cầu, Porter đã tổng hợp phơng pháp
nghiên cứu trong quá khứ, xây dựng mô hình lý luận gồm bốn nhân tố giữ vai
trò mấu trốt đối với sự thành công trong cạnh tranh của một ngành nhất định.
Trong bốn nhân tố này, em kết hợp nhân tố thứ ba và thứ t để thuận lợi hơn
trong quá trình phân tích, nh vậy chỉ còn ba nhân tố cơ bản:
2.Nhu cầu trong nớc.
1.Việc kết hợp các yếu tố sản xuất.
3.Cạnh tranh trong nớc với các doanh nghiệp chủ chốt.
Dựa trên cơ sở lý luận của M.Porter, chúng ta có thể tiến hành phân tích
nh sau:
*Trớc tiên chúng ta phân tích khái quát theo quan sát trên thị trờng xem
ngành sản phẩm đợc sản xuất trong nớc phục vụ cho quy mô thị trờng nh thế
nào. Rõ ràng sản phẩm của một nớc chiếm thị phần lớn, phục vụ đa số khách
hàng của thị trờng thì phải là sản phẩm u điểm nổi trội, tức là có khả năng cạnh
tranh. Từ đây chúng ta có những nhận định ban đầu về khả năng cạnh tranh của
ngành sản phẩm.
*Sau đó, chúng ta đi vào bản chất vấn đề, những biểu hiện khả năng cạnh
tranh trên thị trờng nhờ vào phân tích thị phần có thể tin cậy đợc hay không.
7
Nguyễn Thị Minh Trang
7
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
3.Các yếu tố ảnh hởng đến năng lực cạnh tranh của ngành sản
phẩm:
Theo phơng pháp phân tích trên của M.porter ta có thể chia các yếu tố ảnh
hởng đến năng lực cạnh tranh của ngành sản phẩm nh sau:
4.1.Các nhân tố từ phía thị trờng:
Phân tích đánh giá nhóm điều kiện về cầu phản ánh bản chất cầu thị trờng
trong nớc đối với sự sản phẩm của ngành. Nhóm này sẽ cho ta thấy chu kỳ sống
sản phẩm của ngành, ngành nào có cầu càng lớn, đơn giản, ngành đó càng có
khả năng cạnh tranh nhờ giản chi phí, giảm giá nhng lại tăng doanh thu. Nhu
cầu trong nớc lớn, khiến ngành sản phẩm trong nớc có điều kiện phát triển vững
hơn, không phải đối phó vất vả để giành giật những khoảng thị trờng nhỏ bé và
sự tốn kém để cạnh tranh với các đối thủ mạnh mẽ nớc ngoài trên thị trờng quốc
tế.
4.2.Các yếu tố về điều kiện nguồn lực:
Một nớc muốn phát triển ngành thuỷ sản không thể không có vùng biển
rộng, nguồn thuỷ sản phong phú, muốn phát triển ngành sản phẩm mỹ nghệ
không thể không có nguồn nhân công có kĩ thuật và kinh nghiệm, Các yếu tố
về nguồn lực sẽ tạo cho ngành sản phẩm của nớc đó có lợi thế cạnh tranh so
sánh, là tiền đề để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Dựa vào những lợi thế so sánh này,
các doanh nghiệp sẽ có các phơng thức kết hợp đầu vào hợp lý, có nhiều điều
kiện cho ra sản phẩm có chất lợng cao, chi phí thấp hơn so với những doanh
nghiệp ở các nớc không có những thuận lợi về nhân tố đầu vào sản xuất. Bên
cạnh đó chúng ta luôn biết rằng bất kỳ một nớc nào, một ngành nào, một doanh
nghiệp nào cũng đều bị hạn chế bởi sự khan hiếm tài nguyên. Do vậy luôn phải
có sự lựa chọn để phát triển ngành đen lại lợi ích tối u nhất.. Phân tích đánh giá
nhóm các điều kiện về nhân tố sản xuất: điều này đem lại tiềm năng phát triển
ổn định chủ động cho ngành, đồng thời tạo điều kiện cơ sở cho lợi thế cạnh
tranh trong tơng lai. Nhóm gồm:
1.Nguồn nguyên liệu.
phát triển, giảm tính cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nội bộ
ngành để phân chia thị trờng.
Do sản phẩm sữa là sản phẩm có liên quan đến sức khoẻ, chế độ dinh d-
ỡng, an toàn thực phẩm của con ngời nên ngành công nghiệp chế biến sữa hiện
10
Nguyễn Thị Minh Trang
10
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
đang rất đợc các nớc trên thế giới đặt trong sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nớc.
Đối với các nớc phát triển chăn nuôi bò sữa, sự kiểm soát này đợc Bộ Nông
nghiệp và các Hiệp hội sữa thực hiện thông qua các điều luật chặt chẽ. Ngay từ
đầu thế kỷ 20 (1908) các nớc trên thế giới đã có các quy định thống nhất về quy
trình kỹ thuật, an toàn thực phẩm cho việc sản xuất và chế biến sữa. ở Việt
Nam những vấn đề này hầu nh cha đợc Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà
nớc quan tâm và vẫn ở trình trạng buông lỏng. Điều này có tác động không tốt
tới cạnh tranh bình đẳng trong nớc, có thể một số doanh nghiệp sử dụng công
nghệ chế biến kém, nguyên liệu chất lợng xấu để cạnh tranh về giá. Đồng thời
sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm sữa trong nớc đối với hàng nhập
khẩu (vì sản phẩm nhập khẩu thờng đã đợc chứng nhận về chất lợng).
2.Sự cần thiết phải đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sữa
Việt Nam:
Trớc hết, trong quá trình phát triển, ngành công nghiêp sữa Việt Nam đã
có những đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của ngành công nghiệp
cả nớc. Trong ngành công nghiệp chế biến sữa, đơn vị nòng cốt là Công ty Sữa
Việt Nam (Vinamilk). Từ năm 1994 có thêm công ty Foremost (nay là Dutch
Lady) là công ty liên doanh giữa Công ty suất nhập khẩu Sông Bé với Công ty
Friesland Vietnam Holding B.V đợc cấp giấy phép hoạt động (tháng 4/1994) và
Công ty Nestle Việt Nam- doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài. Thực trạng đóng
góp và phát triển của ngành công nghiệp chế biến sữa đợc thể hiện trong bảng
sau:
lít vào năm 2005 và 10-12 lít vào năm 2010. Phát triển sản xuất sản phẩm sữa
với chiến lợc thay thế hàng nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ nhập khẩu.
Thứ ba, việc phát triển ngành công nghiệp chế biến sữa có tác động tích
cực đến phát triển một số ngành khác nh ngành chăn nuôi bò sữa, ngành công
nghiệp đờng, ngành công nghiệp dầu luyện Những ngành phụ trợ này phát
triển tạo điều kiện cho các ngành sản xuất hàng thực phẩm tiêu dùng khác phát
triển nh sản xuất nớc quả, sản xuất bánh kẹo. Đặc biệt, hiện nay hai ngành công
nghiệp đờng và công nghiệp dầu luyện đang gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu
thụ sản phẩm đầu ra. Phát triển công nghiệp chế biến sữa cũng là một trong
những giải pháp để phát triển hai ngành sản xuất này.
12
Nguyễn Thị Minh Trang
12
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Thứ t, ngành công nghiệp sữa phát triển sẽ tạo thên việc làm cho xã hội ,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn, tăng thu nhập
cho ngời nông dân, thực hiện xoá đói giảm nghèo. Có lẽ đây là một trong
những vấn đề quan trọng nhất trong vai trò phát triển của ngành sữa Việt Nam.
Theo dự báo trong Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam, năm
2005 tạo đợc việc làm cho 200.000 lao động, năm 2010 sẽ có 380.000 lao động
làm việc trong ngành sữa. Nh đã nói ở trên, phát triển ngành công nghiệp sữa có
tác động tích cực cho phát triển ngành chăn nuôi bò sữa trong nớc. Nhất là
trong điều kiện hiện nay, đất đai canh tác ngày càng bị thu hẹp, nông dân ít vốn,
hình thức chăn nuôi bò sữa tỏ ra có hiệu quả tốt trong việc xoá đói giảm nghèo.
Các mô hình này đặc biệt hiệu quả ở các vùng ngoại thành thành phố, nơi đất
trồng trọt ngày càng thiếu thốn, sức ép lao động cao, có nhiều điều kiện tiếp thu
kĩ thuật hơn so với các vùng nông thôn xa thành phố, xa nơi sản xuất, đã tạo ra
việc làm cho nhiều ngàn hộ nông dân. Hiện tại do còn gặp nhiều khó khăn trong
vấn đề bảo quản tiêu thụ nguyên liệu sữa, nên ngời nông dân còn chịu nhiều
thiệt thòi, mới chỉ chăn nuôi theo quy mô gia đình nhỏ, lấy công làm lãi. Tuy
chơng ii
đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành
sản phẩm sữa việt nam
i/điều kiện về cầu thị trờng trong nớc:
Cùng với sự chuyển biến chung của nền kinh tế cả nớc, năm 1986, từ khi
đất nớc thực hiện công cuộc đổi mới thị trờng sữa mới thực sự phát triển. Ngời
mua không chỉ dùng nhiều sữa hơn, mà cơ cấu, chủng loại sản phẩm sữa cũng
đa dạng phong phú hơn. Trớc đây sản phẩm sữa tiêu thụ phổ biến là sữa đặc có
đờng và sữâ bột cho đến nay cơ cấu sản phẩm đã tăng lên nhanh chóng thành
nhiều nhóm sản phẩm phong phú. Lợng sữa tiêu thụ tăng hàng năm:150 triệu lít
năm 1991 (quy ra sữa tơi), 200 triệu lít năm 1993, năm 1997 tăng lên 275 triệu
lít và năm 2000 khoảng 460 triệu lít. Trong đó, thị phần nội địa của sữa sản xuất
14
Nguyễn Thị Minh Trang
14
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
trong nớc tăng từ 57% trong năm 1991 lên 92% trong năm 1995. Còn cơ cấu
sản phẩm hiện nay có thể chia thành 8 nhóm sản phẩm cơ bản:
1.Nhóm sản phẩm sữa tơi thanh trùng.
2. Nhóm sản phẩm sữa tơi tiệt trùng.
3. Nhóm sản phẩm sữa đặc có đờng.
4. Nhóm sản phẩm sữa bột.
5. Nhóm sản phẩm bột dinh dỡng.
6. Nhóm sản phẩm sữa chua.
7. Nhóm sản phẩm các loại kem cao cấp.
8. Nhóm các sản phẩm khác từ sữa (nh bơ, phomát ).
Hiện tại các sản phẩm sữa tiêu thụ trên thị trờng nội địa có thể phân biệt
tơng đối rõ nh sau:
*Sữa đặc chiếm lĩnh thị trờng nông thôn và miền núi, những đối tợng sử
dụng chủ yếu là chẻ nhỏ, ngời ốm, ngời già yếu; một phần dùng làm nguyên
năm 1982, danh mục các sản phẩm chế biến từ sữa bắt đầu đợc mở rộng phuc
vụ cho nhiều đối tợng tiêu dùng. Trong cơ cấu thu nhập, khoảng các thu nhập
cũng dẫn đến đòi hỏi về hàng hoá là khác nhau. Ngời nông thôn có thu nhập
thấp hơn không những số lợng sữa tiêu thụ thấp hơn mà loại sản phẩm họ mua
cũng khác, chủ yếu là sữa đặc có đờng. Sản phẩm này giá rẻ, thuận tiện cho việc
phân phối bảo quản tiêu dùng ở nông thôn và vùng sâu vùng xa.
Trên thị trờng những ngời có thu nhập cao hơn, họ dùng nhiều sữa hơn và
những họ cũng đòi hỏi nhiều chủng loại để lựa chọn hơn. Những sản phẩm đợc
a chuộng chủ yếu là: sữa tơi tiệt trùng, sữa chua, các loại ken cao cấp và các sản
phẩm khác từ sữa nh bơ, phomat
Khoảng cách thu nhập đa tạo ra sự phong phú cho các chủng loại của sản
phẩm sữa để đáp ứng những mảng thị trờng khác nhau.
Thứ hai là tại sao phần lớn những sản phẩm có chất lợng tốt hơn hay sự đòi
hỏi cao từ phía ngời tiêu dùng chủ yếu tập trung ở các khu vực thành thị phát
triển. Phải nói rằng, một trong những lý do tác động đến sự phân chia chủng
loại sản phẩm đó là kiến thức ngời tiêu dùng, sự tiếp cận của các khách hàng
này tới sản phẩm này là thờng xuyên. Mức sống cao họ đò hỏi chất lợng nhiều
16
Nguyễn Thị Minh Trang
16
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
hơn số lợng, thông tin đại chúng đợc thờng xuyên cập nhập, thông thờng trong
một ngày đêm có ít nhất là 10 lần có mặt sản phẩm sữa đợc quảng cáo trên
truyền hình, các dịch vụ khách hàng giới thiệu sản phẩm của công ty đợc phát
triển rộng rãi.
Đồng thời dân trí cao khiến những ngời tiêu dùng này chở nên khó tính
hơn, hiểu biết hơn trong việc lựa chọn sản phẩm cho bản thân. Nhất là đối với
một số loại sản phẩm đặc biệt đặc biệt từ sữa nh: sữa cho trẻ em, cho phụ nữ
mang thai, cho ngời ốm, ngời bị bệnh tiểu đờng Sản phẩm không chỉ đến tay
ngời tiêu dùng thông qua các đại lý phân phối hay cơ sở bán lẻ mà nó còn xuất
Dựa theo số liệu của hai bảng dới đây, cho thấy sản phẩm nội địa nhanh
chóng chiếm lĩnh thị trờng từ 57% năm1991 cho đến nay đã chiếm lĩnh áp đảo
sản phẩm nhập khẩu là 92% thị trờng nội địa. Trong khi đó, sản phẩm nhập
khẩu ngày càng giảm từ 43% thị phần hiện nay chỉ còn chiếm có 3 - 5% thị
phần nội địa.
Bảng 2: Thị phần sữa năm 1991 trên thị trờng Việt Nam
(Đơn vị:%)
Nguồn gốc sản xuất của sản phẩm sữa Thị phần
Tổng 100%
Các sản phẩm sản xuất trong nớc 57%
Các sản phẩm nhập khẩu 43%
Bảng 3: Thị phần sữa hiện nay trên thị trờng Việt Nam (từ năm 1995 )
Đơn vị:%
Nguồn gốc sản xuất của sản phẩm sữa Thị phần
Tổng 100%
Công ty Vinamilk 70 - 75%
Dutch Lady, Nestle, các doanh nghiệp khác và các cơ sở
bán lẻ
Khoảng 22%
Các sản phẩm nhập khẩu 3 - 5%
18
Nguyễn Thị Minh Trang
18
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
(Nguồn của cả hai bảng: Theo đánh giá của Viện Quy hoạch và thiết kế nông
nghiệp)
Đồng thời, dựa vào bảng 3, cho thấy sản phẩm của Công ty Vinamilk là có
sức cạnh tranh cao nhất, thị phần của công ty này luôn chiếm đến 70 - 75% thị
trờng tiêu thụ cả nớc. Tức là, nếu quan sát qua thị phần nh vậy ta có thể cho
rằng khả năng cạnh tranh cao nhất là thuộc về sản phẩm sữa của các công ty nội
Vậy điều đó có thể hiện đúng bản chất của sức cạnh tranh của ngành sản phẩm
sữa Việt Nạm hay không. Để làm đợc thế, chúng ta phải sử dụng các tiêu chí
phản ánh khả năng cạnh tranh của nhóm sản phẩm này để đánh giá, đó là tiêu
chí về giá và chất lợng. Từ đó mới có kết luận chính xác là ngành sản phẩm sữa
Việt Nam thực sự có khả năng cạnh tranh thuần thuý và lâu dài hay không, hay
là nó chỉ cạnh tranh đợc nhờ sự thuận lợi không bền vững từ các yếu tố ngoài
ngành khác, đặc biệt là sự bảo hộ từ phía Chính phủ.
1.Khả năng cạnh tranh về giá của sản phẩm sữaViệt Nam:
Nhìn chung, trên thị trờng sữa hiện nay, giá sản phẩm sữa sản xuất trong n-
ớc luôn rẻ hơn giá sữa sản phẩm nhập khẩu cùng loại từ 50 - 60%.
Ta chia sản phẩm sữa ra làm ba nhóm sản phẩm gồm: sản phẩm sữa bột,
sản phẩm sữa đặc có đờng và sản phẩm sữa tơi để phân tích giá.
Sản phẩm sữa bột, bột dinh dỡng: Đối thủ cạnh tranh của chúng ta gồm có
Pháp, Hà Lan, Bỉ, Nhật Bản, Mỹ. Các sản phẩm nhập khẩu này đợc bán trên thị
trờng với giá cao hơn giá sản phẩm cùng loại sản xuất trong nớc từ 50-100% tập
trung tiêu thụ chủ yếu ở các thành phố lớn nh Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải
Phòng,
Sản phẩm sữa đặc có đờng: Đối với sản phẩm sữa đặc có đờng nhập ngoại
đã giảm nhiều trong những năn gần đây vì khó cạnh tranh đợc với sản phẩm của
Vinamilk và Dutch Lady. Do giá sản phẩm này trong nớc luôn thấp hơn nhập
khẩu 30%. Hiện nay sản phẩm này gần nh không nhập khẩu vào đợc Việt Nam.
Sản phẩm sữa tơi: Đối thủ cạnh tranh mặt hàng nay gồm có Pháp và New
Zealand, hiện nay giá một lít sữa tơi của sản phẩm nội địa khi bán cho ngời tiêu
dùng vào khoảng 11.000đ/lít, giá bán của hàng nhập khẩu vào khoảng
17.000đ/lít
20
Nguyễn Thị Minh Trang
20
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Nếu xét về giá nh trên thì sản phẩm sữa trong nớc có khả năng cạnh tranh
21
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Kết luận nhỏ: Từ phân tích trên ta đánh giá tổng quát về sức cạnh tranh
chung của toàn ngành nh sau: chúng ta có khả năng cạnh tranh về giá nhng là
rất thấp và không ổn định do không chủ động đợc nguồn nguyên liệu đầu vào,
còn khả năng cạnh tranh về chất lợng thì chúng ta không có. Tức là nhìn chung
khả năng cạnh tranh của sản phẩm sữa Việt Nam so với hàng nhập khẩu là rất
thấp. Do vậy chúng đi sâu vào phân tích khả năng cạnh tranh của từng nhóm
ngành nhỏ để có những nhận định chi tiết và chính xác hơn. Nếu không có khả
năng cạnh tranh chung để phát triển toàn ngành chúng ta có thể đi vào định h-
ớng đầu t phát triển vào những nhóm sản phẩm có năng lực cạnh tranh.
*Phân tích khả năng cạnh tranh theo từng nhóm sản phẩm
trong ngành sản phẩm sữa:
Kết hợp cả việc phân tích về giá và chất lợng teo nhóm sản phẩm, chúng ta
có xét những nhóm sản phẩm chủ yếu sau:
1.Sữa tơi thanh trùng: sản phẩm này chế biến từ sữa bò tơi đợc gia nhiệt
thanh trùng ở nhiệt độ 70
0
C, sau đó đóng gói bằng bao BBIST và đa ra thị tr-
ờng. Đặc điểm của sản phẩm là luôn phải bảo quản lạnh.
Loại sản phẩm này hiện nay trên thị trờng chỉ có các công ty trong nớc,
gần nguồn nguyên liệu tại chỗ cung cấp. Nh đã nói ở trên sản phẩm từ sữa bò t-
ơi giá trị dinh dỡng cao, chỉ thanh trùng ở nhiệt độ 70
0
C nên rất chóng hỏng,
hạn sử dụng ngắn, phơng pháp chế biến đơn giản nhng bảo quản không thuận
tiện. Tơng tự nh điều kiện sản xuất, thị trờng tiêu thụ sản phẩm này cũng phải
gần thị trờng thì mới không làm tăng giá do chi phí bảo quản. Do vậy, không có
mặt hàng này nhập khẩu.
Giá sản phẩm này trên thị trờng đợc bán với giá khoảng 9.500 đồng/lít
Sữa tiệt trùng
Sữa chua dạng uống
23
Nguyễn Thị Minh Trang
23
Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành sản phẩm sữa Việt Nam
Sữa tơi tiệt trùng (UHT) Sản phẩm đợc chế biến từ sữa bò tơi, gia nhiệt tiệt
trùng ở nhiệt độ cao 150
0
C trong thời gian từ 1-2 giây sau đó đóng bằng bao
BBIST. Đặc điểm của sản phẩm có thời hạn sử dụng lâu (có thể đợc 12 tháng)
trong điều kiện nhiệt độ bình thờng, thuận tiện khi vận chuyển phân phối và sử
dụng nên các nớc Châu á trong đó có Việt Nam rất a chuộng loại sản phẩm
này. Sản phẩm sữa tơi tiệt trùng nếu đợc sản xuất từ nguồn nguyên liệu sữa tơi
tại chỗ thì bỏ qua công đoạn hoà trộn
Sữa chua: sản phẩm đợc chế biến sữa bò (sữa bột hoặc sữa tơi) + dầu bơ +
đờng đợc đồng hoá - thanh trùng - làm nguội - cấy men- ủ - làm lạnh - đóng
hộp PE. Sản phẩm đợc bảo quản ở nhiệt độ 5
0
C. Đặc điểm của sản phẩm có
nhiều chất bổ dỡng, kích thích tiêu hoá, thích hợp cho mọi tầng lớp ngời tiêu
dùng tại mọi thị trờng.
Hai loại sản phẩm này hiện nay là sản phẩm chủ lực của công ty Vinamilk,
Dutch Lady, hiện đợc tiêu thụ rộng rãi và rất đợc ngời tiêu dùng a chuộng. Canh
tranh với các doanh nghiệp trong nớc ở nhóm sản phẩm này có sản phẩm sữa t-
ơi tiệt trùng của Pháp và New Zealand. Các sản phẩm này có hơng vị thơm ngon
hơn sản phẩm của chúng ta, do đợc sản xuất từ sữa cha tác bơ tại bản địa, cũng
vì vậy nên có thành phần dinh dỡng tơng đối đầy đủ tơng tự nh sữa tơi nguyên
chất. Giá của các sản phẩm nhập khẩu này luôn có giá cao hơn sản phẩm trong
bì xuống, tức là chuyển hớng tìm nhà cung cấp bao bì trong nớc. Đây là phơng
hớng khả quan, hiện đã có nhiều công ty tham gia vào lĩnh vực sản xuất này.
Nếu muốn nâng cao chất lợng, chúng ta có hai cách: sử dụng nguyên liệu
sữa tơi trong nớc hoặc sử dụng nguyên liệu sữa bột ngoại nhập. Sữa nhập khẩu
25
Nguyễn Thị Minh Trang
25