Tích hợp tác tử SNMP với các hệ thống quản trị mạng dựa trên XML - Pdf 11


Tích hợp tác tử SNMP với các hệ thống quản trị
mạng dựa trên XML
Integrating SNMP agents with XML-based network management systems
NXB H. : ĐHCN, 2012 Số trang 106 tr. + Nguyễn Thanh Hương Trường Đại học Công nghệ
Luận văn ThS ngành: Mạng và Truyền số liệu; Mã số: 60 48 15
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Văn Tam
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Luận văn giới thiệu chung về chức năng và mô hình kiến trúc của các hệ quản trị mạng.
Giới thiệu tổng quan về kiến trúc các hệ quản trị mạng dựa trên SNMP và mô hình kiến trúc các
hệ quản trị mạng dựa trên XML. Tích hợp tác tử SNMP với các hệ quản trị mạng dựa trên XML:
Giới thiệu cổng chuyển đổi XML/SNMP tích hợp các tác tử SNMP với các hệ quản trị mạng dựa
trên XML.

Keywords: Công nghệ thông tin; Mạng truyền thông; Quản trị dữ liệu; Mạng máy tính

Content.
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÁC HỆ QUẢN TRỊ MẠNG
1.1. Giới thiệu
1.2. Chức năng quản trị mạng
Mỗi hệ thống mạng có thể bao gồm một hoặc nhiều chức năng. Mô hình quản trị mạng do Tổ chức
Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) định nghĩa gồm có 5 vùng chức năng quản trị mạng chính sau:
- Quản trị lỗi: Phát hiện, phân lập, thông báo, và chỉnh sửa lỗi gặp phải trong mạng

Appl: Các ứng dụng
OS: Hệ điều hành
Máy chủ kiểm soát mạng được chỉ định là máy quản trị (manager). Nó bao gồm cả NME và
NMA. Manager giao tiếp và kiểm soát các NME ở các hệ thống khác. Agent bao gồm các máy dịch vụ,
máy trạm, router, bridge Các agent đều có NME đáp ứng yêu cầu từ hệ manager.
1.5. Kiến trúc của một hệ quản trị mạng
Hệ điều hành quản trị mạng có thể sử dụng các kiến trúc khác nhau để cung cấp các chức năng
quản trị mạng. Hiện có 3 phương pháp phổ biến để xây dựng kiến trúc một hệ quản trị mạng:
NMA
NME
Appl
Comm
OS
NME
Appl
Comm
OS
NME
Appl
Comm
OS
NME
Comm
OS
Máy chủ kiểm soát mạng
(Manager)
Máy dịch vụ
(Agent)
Máy trạm
(Agent)

trị
Mạng
Mạng
NMA
NMA
MIB
MIB
Proxy
Proxy
Tài nguyên mạng với
các agent quản trị
(swicht, router, )
Các client quản trị
(PC, máy trạm)
Thiết bị được
quản trị
Các thiết bị với các giao
thức quản trị khác nhau
Mỗi client có thể truy
cập đến một hoặc nhiều
server quản trị Hình 1.3: Mô hình kiến trúc phần mềm một NMS
1.7. Kết luận
Tóm lại, một hệ quản trị mạng được mô hình hóa với năm thành phần như sau:
- Một hoặc nhiều nút là trạm quản trị, hay còn gọi là manager. Trên nút này có các ứng dụng quản
trị mạng.
- Một hoặc nhiều nút được quản trị, mỗi nút có một tác nhân hay còn gọi là agent.
-Thực thể mạng có vai trò kép; vừa hoạt động như tác nhân, vừa có chức năng như người quản trị.

Các mạng được quản trị

Cơ sở dữ liệu
thông tin quản trị
(MIB)
Mô tả thông tin quản trị đến người dùng
Giao diện người dùng thống nhất Hình 2.1: Mô hình quản trị mạng dựa trên SNMP
Manager thường là một máy tính chạy các ứng dụng quản trị SNMP (SNMP manager), dùng để
giám sát và điều khiển tập trung các agent.
Agent là các thiết bị, máy tính, hoặc phần mềm tương thích SNMP, thường là các thành phần như
máy chủ, bộ nối, bộ định tuyến và hub được gắn các SNMP agent để có thể được quản trị bởi manager.
Giao thức SNMP: dùng để liên kết manager và agent. SNMP bao gồm ba toán tử SET, GET,
TRAP.
SNMP manager là tiến trình chạy trên manager, có nhiệm vụ quản lý, theo dõi và kiểm soát
agent.
SNMP agent là tiến trình chạy trên agent, có nhiệm vụ cung cấp thông tin của agent cho manager,
nhờ đó manager có thể quản lý được agent. Thực tế thì SNMP manager và SNMP agent mới là 2 tiến
trình SNMP trực tiếp liên hệ với nhau.
2.2.3. SMI và MIB
2.2.3.1. Cơ sở thông tin quản trị MIB
MIB là một cấu trúc dữ liệu gồm các đối tượng được quản trị, được dùng cho việc quản lý các thiết bị
chạy trên nền TCP/IP. MIB được thể hiện thành một tệp tin MIB (MIB file) và có cấu trúc dạng cây bao
gồm các biến cụ thể. Đối tượng trong MIB được nhận diên thông qua OID của nó. Có 2 loại MIB:
- MIB chuẩn định nghĩa các đối tượng quản trị dùng chung cho hầu hết các hệ thống được định
nghĩa bởi IETF. MIB chuẩn của SNMPv1 là MIB-II và MIB chuẩn của SNMPv2 là SNMPv2-MIB
- MIB riêng dùng để định nghĩa thông tin quản trị riêng cho từng công ty
2.2.3.2. Cấu trúc thông tin quản trị SMI

Hình 2.5: Kiến trúc quản trị mạng dựa trên SNMP
Theo RFC1157, SNMP được thiết kế là một giao thức tầng ứng dụng, một phần của bộ giao thức
TCP/IP. Nó được cài đặt trên giao thức UDP.
SNMP có 05 bản tin cơ bản (Get, GetNext, GetResponse, Set, và Trap) để kết nối giữa manager và
agent. Bản tin Get và GetNext cho phép manager yêu cầu thông tin của một biến cụ thể. Bản tin Trap
cho phép agent tự phát thông tin cho manager trong hoàn cảnh “đặc biệt”. Các bản tin Get,GetNext và
Set thường chỉ được phát ra bởi SNMP manager vì bản tin Trap chỉ được khởi tạo bởi agent. Trap là bản

GetRequest
GetNextRequest
SetRequest
GetResponse
Trap
Ứng dụng quản trị
SNMP manager
UDP
IP
Các giao thức
phụ thuộc mạng

GetRequest
GetNextRequest
SetRequest
GetResponse
Trap
Các đối tượng SNMP
được quản trị
SNMP agent
UDP
IP

PDU - Protocol Data Unit) như sau:
GetRequest: Bản tin GetRequest được manager gửi đến agent để yêu cầu agent cung cấp thông tin
nào đó dựa vào OID. Trong GetRequest có chứa OID của đối tượng muốn lấy. Trong một bản tin
GetRequest có thể chứa nhiều OID, nghĩa là dùng một GetRequest có thể lấy về cùng lúc nhiều thông
tin.
Tiến trình quản trị
SNMP
UDP
IP
Các giao thức phụ
thuộc mạng
Chức năng ánh xạ
Tiến trình Agent
SNMP
UDP
IP
Các giao thức
phụ thuộc mạng

Kiến trúc
giao thức được
thiết bị ủy quyền
sử dụng
Các giao thức
phụ thuộc mạng
Tiến hành quản trị
Các giao thức
được thiết bị
ủy quyền sử dụng
Các giao thức

2.5. Các cơ chế bảo mật cho SNMP
2.5.1. Community string
Community string là một chuỗi ký tự được cài đặt giống nhau trên cả SNMP manager và SNMP
agent, đóng vai trò như “mật khẩu” giữa 2 bên khi trao đổi dữ liệu. Community string có 3 loại: Read-
community, Write-Community và Trap-Community.

2.5.2. View
Khi manager có read-community thì nó có thể đọc toàn bộ OID của agent. Tuy nhiên agent có thể
quy định chỉ cho phép đọc một số OID có liên quan nhau, tức là chỉ đọc được một phần của MIB. Tập
con của MIB này gọi là view. Trên agent có thể định nghĩa nhiều view.
Một view phải gắn liền với một community string. Tùy vào community string nhận được là gì mà
agent xử lý trên view tương ứng. Vệc định nghĩa các view như thế nào tùy thuộc vào từng SNMP agent
khác nhau. Có nhiều hệ thống không hỗ trợ tính năng view.
2.5.3. SNMP access control list
SNMP ACL là một danh sách các địa chỉ IP được phép quản lý/giám sát agent, nó chỉ áp dụng
riêng cho giao thức SNMP và được cài trên agent. Nếu một manager có IP không được phép trong ACL
gửi request thì agent sẽ không xử lý, dù request có community string là đúng.
2.6. RMON
Mục đích:
Quản lý, giám sát tập trung toàn mạng từ xa
Giúp mạng có thể tự hoạt động và các thiết bị riêng lẻ có thể hoạt động đồng bộ trong mạng
Không chỉ dùng cho việc giám sát lưu lượng trong LAN mà còn cho cả các giao diện WAN
RMON bổ sung MIB-RMON cho MIB-II và cung cấp thông tin quan trọng về liên mạng cho quản
trị viên. Các Monitor tạo ra các thông tin tóm tắt, gồm số liệu thống kê lỗi và số liệu thống kê hiệu năng
mạng…
2.7. Kết luận
Những hạn chế của quản trị mạng dựa trên SNMP:
- Tính mở rộng và hiệu quả
- Bảo mật
- Mô hình thông tin quản trị kém

chèn, cập nhật, và xóa dữ liệu trong các tài liệu XML.
SOAP - Giao thức truy cập đối tƣợng đơn giản: là một giao thức đơn giản giúp trao đổi thông
tin trong môi trường phân tán. SOAP định nghĩa việc sử dụng XML và HTTP hoặc SMTP để truy cập
các dịch vụ, đối tượng, trong các máy chủ độc lập về hệ điều hành và ngôn ngữ.
WSDL - Ngôn ngữ mô tả dịch vụ web: là một ngôn ngữ dựa trên XML được dùng để xác định các
dịch vụ Web và mô tả cách truy cập đến các dịch vụ đó.

3.3. Các kỹ thuật liên quan đến XML
- Sử dụng XML để trình bày dữ liệu quản lý.
- Sử dụng HTTP để truyền dữ liệu quản trị.
- Sử dụng API DOM và SAX để truy cập dữ liệu quản trị từ ứng dụng.
- Sử dụng XSL để xử lý dữ liệu quản trị.
- Sử dụng XML Schema để định nghĩa cấu trúc dữ liệu quản trị.
3.4. Quản trị mạng dựa trên XML
3.4.1. Ứng dụng các công nghệ XML đối với các nhiệm vụ quản trị mạng
Các nhiệm vụ quản trị cơ bản trong một hệ quản trị mạng được mô tả như hình 3.3.

Hình 3.3: Các nhiệm vụ cơ bản trong hệ quản trị mạng
3.4.1.1. Mô hình hóa thông tin quản trị
Các XML Schema được sử dụng để tối đa hóa những lợi thế quan trọng của XML trong mô hình
thông tin quản trị so với các giải pháp thay thế khác.
3.4.1.2. Hợp thức hóa thông tin quản trị
Nhiệm vụ của việc hợp thức hóa thông tin quản trị bao gồm tất cả các hoạt động đảm bảo tính nhất
quán giữa các đối tượng và nguồn tài nguyên quản trị trong một hệ thống agent. Các hoạt động cập nhật
từ trạng thái tài nguyên quản trị đến các biến của các đối tượng quản trị phải được thực thi khi trạng thái
tài nguyên quản trị bị thay đổi.
Hợp thức hóa thông tin quản trị có thể được coi như là một nhóm các tiến trình biên dịch, tạo và
sửa đổi các tài liệu XML. Có hai công nghệ biên dịch các tài liệu XML chuẩn gồm: DOM và SAX. Hai
công nghệ này khiến việc biên dịch, tạo, và sửa đổi các tài liệu XML trở nên dễ dàng
3.4.1.3. Giao thức quản trị

agent và chuyển dữ liệu cấu hình sang XML. Các agent cấu hình trong thiết bị sử dụng XML parser
riêng của nó để giải thích các dữ liệu cấu hình từ các tệp tin cấu hình nhận được.
Nhóm làm việc Cấu hình mạng (Netconf WG) định nghĩa giao thức cấu hình Netconf và chuyển
các ánh xạ. Giao thức Netconf sử dụng XML để mã hóa dữ liệu, và RPC cho cơ chế truyền thông.
3.4.3. Các mô hình quản trị
Hình 3.4 cho thấy bốn mô hình có thể kết hợp giữa các manager và agent có triển vọng trong quản
trị mạng tích hợp dựa trên XML.

Hình 3.4: Các phối hợp giữa manager và agent

3.5. Thiết kế kiến trúc của XBM manager và XBM agent
3.5.1. XBM Agent
3.5.1.1. Mô hình hóa thông tin
Thông tin quản trị được xác định bởi XML Schema.
3.5.1.2. Hợp thức hóa thông tin quản trị
XPath Handler trong DOM lựa chọn nút cụ thể. DOM cập nhật giá trị nút cho nút được chọn thông
qua giao diện hỗ trợ quản trị MBI. MBI sẽ chịu trách nhiệm cập nhật một số nút không cần cập nhật giá trị
nút DOM trước khi trả lời.
Phương thức hoạt động: Đối với những dữ liệu thay đổi thường xuyên, như dữ liệu đo lưu lượng
truy cập, sử dụng pull-based update ở MBI. Đối với những dữ liệu tĩnh hoặc bán động, MBI sử dụng
push-based update.
3.5.1.3. Giao thức quản trị
- XBM agent truyền dữ liệu XML cho manager thông qua HTTP.
- XBM agent xác định các hoạt động quản trị và dữ liệu quản trị bằng cách sử dụng SOAP.
3.5.1.4. Kiến trúc XBM Agent
Kiến trúc XBM agent dựa trên DOM
Hình 3.7 minh họa kiến trúc của một XBM agent dựa trên DOM.

Hình 3.7: Kiến trúc của XBM Agent dựa trên DOM
XBM agent bao gồm hai thành phần cơ bản là HTTP Server và SOAP Server. Các thành phần bổ

liệu theo lịch đến manager thông qua HTTP Client tại thời điểm theo lịch. Push Handler cũng sẽ gửi một
thông báo được tạo ra ở các agent, thông báo này sẽ được gửi cho manager thông qua HTTP Client. Nếu
XBM agent không nhận được đáp ứng 'HTTP OK' đối với thông báo từ manager, Push Handler sẽ gửi
lại bản tin thông báo cho manager.

3.5.2. XBM Manager
3.5.2.1. Mô hình hóa thông tin
Thông tin quản trị được xác định bởi XML Schema
3.5.2.2. Giao thức quản trị
SOAP là giao thức trao đổi các bản tin dựa trên XML thông qua HTTP hoặc SMTP với XBM
agent và cổng chuyển đổi.
3.5.2.3. Phân tích
DOM có thể phân tích dữ liệu quản trị của các định dạng tài liệu XML. XML DB lưu trữ thông tin
quản trị
3.5.2.4. Trình diễn
XSLT sẽ thực hiện việc trình diễn ở XBM manager
3.5.2.5. Kiến trúc XBM Manager
Hình 3.10 minh họa kiến trúc của một XBM manager: Một dịch vụ web (Web server) được sử
dụng để cung cấp cho các quản trị viên với một Web-MUI và dành cho việc nhận các yêu cầu từ các ứng
dụng quản trị (management application) và đi qua chúng vào các thành phần quản trị thông qua các kịch
bản quản trị (management script). Dịch vụ web được sử dụng để nhận các bản tin không đồng bộ cho
các thông báo từ các thiết bị thông qua giao thức SOAP/HTTP. SOAP/HTTP client giữ vai trò trong các
mô đun giao diện của thiết bị và trao đổi thông tin quản trị đồng bộ với agent. Cơ sở dữ liệu (DB) được
sử dụng để lưu trữ thông tin quản trị nhằm phân tích dài hạn. Kho các mẫu XSL (XLS template
repository) lưu trữ các tệp tin XSL để tạo ra các tài liệu HTML từ các tài liệu XML. Các thành phần
quản trị, như trạm quản trị cấu hình thiết bị (Device config. manager) hoặc bộ phân tích (Analyzer), sử
dụng giao diện DOM để thực hiện các chức năng ứng dụng quản trị vì thông tin quản trị được mô tả
trong dữ liệu XML. Các chức năng này bao gồm tạo, xóa, lọc, nhận, thiết lập, logging,… và thu thập dữ
liệu từ các agent.


các tài liệu XML thông qua HTTP. Các phần MIB có thể được xử lý thông qua các biểu thức XPath
được mã hóa trong các URL thu được.
Avaya Labs phát triển một giao diện quản trị dựa trên XML cho các thiết bị tương thích SNMP.
Hệ thống gồm 3 phần:
- Một công cụ để tự tạo ra một DTD dựa trên các thông tin SNMP SMI
- Một giao thức bản tin XML-RPC để lấy và sửa đổi thông tin MIB trong các thiết bị tương thích
SNMP.
- Một bộ chuyển đổi để lấy và sửa đổi thông tin thiết bị theo dạng dữ liệu XML dựa trên các thông
tin trong MIB của thiết bị
Cổng chuyển đổi XML/SNMP của POSTECH: phát triển 3 phương pháp chuyển đổi tương tác
giữa một cổng XML/SNMP và một XBM manager, dựa trên 3 công nghệ DOM, HTTP và SOAP.

- Chuyển đổi dựa trên DOM, cho phép manager trực tiếp truy cập DOM để trao đổi thông tin quản
trị với SNMP agent.
- Chuyển đổi dựa trên HTTP, mở rộng chuỗi URI có chứa thông tin về yêu cầu với XPath và
XQuery, giúp cải thiện hiệu quả trong truyền thông XML/HTTP.
- Chuyển đổi dựa trên SOAP, cổng chuyển đổi sẽ cung cấp một phương pháp chuẩn linh hoạt
tương tác với XBM manager trong môi trường phân tán
4.3. Tích hợp SNMP agent vào XNMS
4.3.1. Chuyển MIB SMI thành các định nghĩa XML Schema
XML Schema là ngôn ngữ mô hình hóa chính thống. Các định nghĩa Schema là những tài liệu
được viết theo SMIv2 và có thể định nghĩa cấu trúc của các tài liệu XML có thể mô tả dữ liệu quản trị
(xem hình 4.1).

Hình 4.1: Ánh xạ các ngôn ngữ mô hình dữ liệu, mô hình dữ liệu và dữ liệu
Có 2 mục đích khi thiết kế thuật toán ánh xạ. Mục đích trước tiên là muốn các tài liệu XML càng
thuận tiện trong việc đọc và xử lý càng tốt. Mục đích thứ hai là giảm mất mát thông tin trong quá trình
chuyển đổi.
4.3.2. Cấu trúc XML của dữ liệu quản trị
Bước đầu tiên khi thiết kế cấu trúc tài liệu XML là xác định phạm vi của nó. Có thể đặt ra một số

OBJECT IDENTIFIER
xsd:string with regexp restriction
4.3.4. Cổng chuyển đổi SNMP-to-XML
Chuyển đổi dựa trên giao thức HTTP. SOAP có thể là giải pháp thay thế nhưng nó sẽ làm tăng chi
phí giao thức nhiều hơn HTTP mà không có thêm tính năng nào.
Chỉ có dữ liệu của yêu cầu SET mới được truyền vào trong nội dung của các yêu cầu HTTP POST
Các tài liệu đạt được từ cổng chuyển đổi có thể được kết hợp trực tiếp thông qua các chuyển đổi
XSL mà không cần tới SOAP client engine.

Hình 4.3: Cấu trúc cổng chuyển đổi SNMP-to-XML và 3 chức năng chính của nó
(a) Tìm kiếm dữ liệu quản trị, (b) điều khiển và định cấu hình, (c) truyền thông báo
Hình 4.3 mô phỏng cấu trúc của cổng chuyển đổi và 3 hoạt động chính của nó:
(a) XBM manager đọc dữ liệu quản trị, sau đó gửi yêu cầu HTTP GET tới cổng chuyển đổi. Lúc
này URL bao gồm giao thức (http hoặc https), máy chủ chứa cổng và đường dẫn tới dịch vụ cổng trên
máy chủ và cuối cùng là một chuỗi truy vấn HTTP quy định hoạt động này (GET) và biểu thức xác định
dữ liệu quản trị được yêu cầu.
(b) Tương tự như yêu cầu GET, XBM manager có thể ban hành các yêu cầu HTTP POST để kiểm
soát hoặc cấu hình các agent thông qua các tài liệu XML. Trong trường hợp này, chuỗi truy vấn URL chỉ
bao gồm chế độ thao tác (SET) trong chuỗi truy vấn HTTP. Văn bản XML truyền đi được tách thành các
biểu diễn bên trong DOM. Sau đó bộ chuyển đổi sẽ duyệt cây để xác định các nút mà các định nghĩa đối
tượng MIB bên dưới cho phép SNMP ghi các truy cập. Và một lần nữa, kho XML Schema lại cung cấp tất
cả thông tin để thực hiện điều này. Dựa trên các nút này, bộ chuyển đổi sẽ tạo ra các yêu cầu SNMP SET
và gửi chúng tới agent. Các đáp ứng SNMP được sử dụng để phê chuẩn các chuyển đổi trong cây DOM
hoặc bổ sung thông tin lỗi vào cây DOM khi thao tác SNMP SET bị lỗi. Cuối cùng cây DOM thu được sẽ
được dùng để chuyển tài liệu XML như một đáp ứng thành yêu cầu HTTP POST ban đầu.

(c) Cuối cùng, cổng chuyển đổi cũng có thể hoạt động như một SNMP Trap. Khi bộ chuyển đổi
nhận được thông báo, nó sẽ tìm kiếm các OID liên quan và các giá trị từ kho XML Schema và tạo ra
một mục thông tin thành tố nhỏ trên mỗi thông báo. Những mục thông tin này được xử lý theo 2 cách.
Chúng có thể được gửi đi dưới dạng một tài XML ngắn trong các yêu cầu HTTP POST tới các XBM

XPath, XQuery và XUpdate chỉ ra các đối tượng quản trị tìm kiếm được và áp dụng trong các bản tin
yêu cầu SOAP như một tham số của từng phương pháp.
4.4.3. Kiến trúc cổng XML/SNMP
Hình 4.4 minh họa kiến trúc của một cổng XML/SNMP, nghĩa là, kiến trúc dựa trên SOAP gồm XBM
manager và cổng chuyển đổi. Trong kiến trúc này, SOAP Client ở manager tạo ra một yêu cầu SOAP được
mã hóa bởi XML, như get và set. Sau đó, các HTTP Client sẽ gửi yêu cầu HTTP POST, bao gồm các yêu
cầu SOAP của nó vào HTTP Server ở cổng chuyển đổi. SOAP Server phân tích các bản tin HTTP thành một
cuộc gọi RPC đã được định dạng thích hợp và gọi một phương pháp thích hợp do cổng chuyển đổi ban hành.
SOAP Server sẽ nhận kết quả từ phương pháp này và tạo ra một bản tin đáp ứng SOAP. Bản tin đáp ứng
theo lối cũ trở về SOAP Client ở manager. Cuối cùng, ứng dụng của manager sẽ nhận kết quả của theo yêu
cầu của phương pháp. Bất cứ khi nào Handler Trap nhận được một bản tin thông báo từ SNMP agent, nó sẽ
gọi sự kiện DOM cho các nút Trap trong cây DOM. Đối với việc phân phối thông báo, SOAP Client ở cổng
chuyển đổi sẽ gửi một bản tin thông báo sự kiện không đồng bộ được định nghĩa tại XML Trap Schema đến
SOAP Server ở manager. Hình 4.4: Kiến trúc gồm manager và cổng dựa trên SOAP
4.5. Kết luận
Chương này trình bày 2 kiểu cổng chuyển đổi tiêu biểu dành cho tích hợp SNMP agent với các hệ
quản trị mạng dựa trên XML gồm cổng chuyển đổi SNMP-to-XML và chuyển đổi theo cổng XML/SNMP.
Phần chuyển đổi đặc tả của cổng chuyển đổi cũng giới thiệu thủ tục ánh xạ tự động của các mẫu dữ liệu SMI
MIB sang các định nghĩa XML Schema trong đó bao hàm ánh xạ dữ liệu quản trị SNMP sang các tài liệu
XML. Sự khác biệt cần thiết của phương pháp được giới thiệu so với các phương pháp khác được định
hướng bởi mục tiêu gắn kết tiềm năng đầy đủ của XML và XML Schema để bản chuyển đổi được tạo ra phù
hợp với hệ thống thuần túy dựa trên XML mà không cần kế thừa gánh nặng từ SNMP.
Tóm lại, công nghệ XML được xem như là một phương pháp tiếp cận mang tính cải cách để giải quyết
các vấn đề tồn tại trong các chuẩn hiện hành và thực hành cho quản trị mạng và các hệ thống. Cần có nghiên
cứu sâu hơn để chứng tỏ điều này bằng việc phát triển không chỉ các chuẩn mà còn áp dụng để quản trị các
mạng và các hệ thống thực.


http://www.w3.org/TR/REC-xml .
15. W3C (2002), XML Path Language (XPath) Version 2.0, W3C Working Draft.
16. W3C (2001), XML Schema, W3C Recommendation, Z.
17. W3C (2002), XQuery 1.0: An XML Query Language, W3C Working Draft.
18. W3C (1999), XSL Transformations (XSLT) Version 1.0, W3C Recommendation.
19. Yoon-Jung Oh, Hong-Taek Ju, James W. Hong (2002), Interaction Translation Methods for
XML/SNMP Gateway Using XML Technologies, DP&NM Lab. POSTECH, Korea


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status