Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MAI HOÀNG ĐẠT
ĐÁNH GIÁ VỀ THÀNH PHẦN LOÀI, NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG CỦA TẬP ĐOÀN CÂY THỨC ĂN GIA SÚC
HUYỆN YÊN SƠN - TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60-42-60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. HOÀNG CHUNG Thái Nguyên - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Sản lượng VCK và chất lượng những loài cỏ trên vùng đất thấp
vào 45 ngày cắt.
Bảng 1.2. Sản lượng VCK của cỏ Ghinê tía cắt sau 30 ngày
Bảng 1.3. Năng suất của các giống cỏ hoà thảo (tấn/ha/năm)
Bảng 1.4. Giá trị dinh dưỡng của một số cây thức ăn chăn nuôi được phân
tích, đánh giá tại Việt Nam
Bảng 1.5. Những dạng sống chính của thực vật đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
4
1.1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới 5
1.1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam 9
1.2. Tình hình nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên 14
1.2.1. Vấn đề nguồn gốc và phân bố đồng cỏ trong đai nhiệt đới 14
1.2.2. Những nghiên cứu về khu hệ thực vật 15
1.2.3. Những nghiên cứu về dạng sống 17
1.2.4. Những nghiên cứu về năng suất 18
1.2.5. Giá trị chăn thả của tập đoàn cây cỏ trong đồng cỏ Bắc Việt
Nam
20
1.2.6. Vấn đề thoái hoá đồng cỏ do chăn thả 23
1.2.7. Những nghiên cứu về sử dụng đồng cỏ Việt Nam 25
1.3. Tình hình nghiên cứu về đồng cỏ trồng 26
1.3.1. Tình hình phát triển đồng cỏ trên thế giới 26
1.3.2. Tình hình phát triển đồng cỏ ở Việt Nam 26
1.3.3. Đặc điểm thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây trồng làm thức
ăn gia súc
28
1.4. Nhận xét chung 38
Chƣơng 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI
VÙNG NGHIÊN CỨU
39
2.1. Điều kiện tự nhiên 39
2.1.1. Vị trí địa lý 39
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2.1.2. Địa hình, địa mạo 39
2.1.3. Khí hậu, thời tiết 40
2.1.4. Thuỷ văn 42
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4.3.1. Đánh giá chất lượng đất cỏ tự nhiên 89
4.3.2. Đánh giá chất lượng đất trồng cỏ 90
4.4. Đánh giá một số mô hình kinh tế chăn nuôi trong địa bàn
huyện
92
4.4.1. Mô hình trồng cỏ Voi thương phẩm 92
4.4.2. Mô hình chăn nuôi bò sữa tại trại bò Hoàng Khai – Xã
Hoàng Khai – Yên Sơn
93
4.4.3. Mô hình trồng cỏ voi, nuôi bò thịt 97
4.4.4. Mô hình trồng cỏ Voi, VA 06 thương phẩm 98
4.4.5. Mô hình kết hợp trồng cỏ giống và thương phẩm 101
4.4.6. Mô hình trồng cỏ, nuôi bò kết hợp chăn thả 103
4.5. Đề xuất mô hình chăn nuôi 106
4.5.1. Mô hình chăn nuôi hộ gia đình 108
4.5.2. Mô hình chăn nuôi trang trại nhỏ 109
4.5.3. Mô hình trồng cỏ, ngô thương phẩm 110
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
112
1. Kết luận 112
2. Đề nghị 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO
114
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
Hình thức chăn thả tự nhiên theo cung cách truyền thống như trước ngày
nay không còn phổ biến. Ngày càng xuất hiện nhiều mô hình kinh tế đạt hiệu
quả cao với cách thức trồng cỏ và nuôi nhốt, mô hình chăn nuôi trang trại
ngày càng được nhân rộng và khuyến khích phát triển. Theo báo cáo của 64
tỉnh, thành phố (vào cuối năm 2006), toàn quốc có 17.721 trang trại chăn nuôi
(trong đó có 6.405 trang trại chăn nuôi bò), trong đó miền Bắc là 6.313 trang
trại , chiếm 35,6%; miền Nam là 11.408 trang trại, chiếm 64,4%. Theo báo
cáo của Tổng cục Thống kê năm 2001 toàn quốc có 1.761 trang trại chăn
nuôi, như vậy, sau 5 năm số lượng trang trại chăn nuôi tăng hơn 15.960 trang
trại, bình quân mỗi năm tăng 3.192 trang trại, tăng 58,7%/năm) [4].
Tuy nhiên, trong hình thức nuôi nhốt đại gia súc, nguồn thức ăn là một
vấn đề thiết yếu, quyết định tính thành hay bại của một mô hình.
Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam là nơi có ngành chăn nuôi đại gia
súc phát triển mạnh, trong đó có tỉnh Tuyên Quang. Theo số liệu của Cục
Thống kê Tuyên Quang, tính đến thời điểm tháng 4/2009, toàn tỉnh
có đàn trâu 144.693 con, đàn bò 53.043 con. Đã có nhiều dự án lớn về chăn
nuôi đại gia súc được thực hiện tại Tuyên Quang, với trọng điểm là huyện
Yên Sơn. Trong đó có những mô hình thành công bước đầu, có mô hình gặp
phải thất bại. Một trong những nguyên nhân chính là do nguồn thức ăn không
đáp ứng đủ số lượng và chất lượng so với nhu cầu thực tế.
Với truyền thống làm nghề nông nghiệp lâu đời, nên huyện Yên Sơn –
Tuyên Quang vẫn rất trú trọng phát triển kinh tế nông nghiệp, với mục tiêu cụ
thể đến năm 2009: Về trồng trọt: Sản lượng lương thực đạt trên 71.000 tấn,
năng suất lúa bình quân đạt trên 59 tạ/ha (năng suất lúa lai đạt trên 63 tạ/ha)
và trồng 2.468,3 ha ngô, năng suất bình quân đạt 45,9 tạ/ ha. Về chăn nuôi:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Tiếp tục phát triển đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn phấn đấu đạt kế hoạch
năm 2009; đàn trâu 29.691 con; đàn bò 15.440 con; đàn lợn 103.100 con; đàn
không những rất cần thiết mà lại có tỉ lệ thích hợp đối với nhu cầu sinh lý của
trâu bò. Ví dụ: nếu tỉ lệ đường - đạm thích hợp nhất cho khẩu phần thức ăn
của bò sữa là 1:1 thì tỉ lệ đó trong cỏ non thay đổi từ 1:1 đến 1.4:1 [2]. Cỏ còn
là loại cây thức ăn dễ sản xuất, có năng suất cao, tương đối ổn định và là
nguồn thức ăn rẻ tiền góp phần làm giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi, chưa
kể ưu thế của các giống cỏ lâu năm là thường chỉ cần gieo trồng một lần mà
sử dụng được nhiều năm.
Họ Hoà thảo quan trọng không những vì nó phân bố rộng rãi chiếm tỉ lệ
cao trong số thực vật trên đồng cỏ, có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là lượng
hyđratcacbon và đặc biệt là các chất đinh dưỡng được bảo tồn, ít hao hụt khi
thu hoạch. Các cây họ đậu tuy chiếm tỉ lệ ít hơn trong số cây cỏ làm thức ăn
gia súc nhưng có vai trò quan trọng vì giá trị dinh dưỡng cao, nhất là lượng
Protein và khoáng thích hợp cho việc chế biến thức ăn tinh bổ sung.
Ở bãi cỏ tự nhiên với điều kiện thổ nhưỡng tốt thì 1kg cỏ tươi cung cấp
được 16g protein tiêu hoá và 32g lipit, 8 kg loại cỏ này tương đương 1 đơn vị
thức ăn [38].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Theo Meilroy (1972) cần chọn cỏ để làm thức ăn gia súc là khi thu
hoạch dưới dạng này hay dạng khác phải đảm bảo các yêu cầu sau [52]:
- Cỏ phải có khả năng tái sinh mầm chồi còn lại sau mỗi lần thu hoạch.
- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc là nơi thu
hoạch ít bị ảnh hưởng tới.
- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu hạn và chịu lạnh cao.
- Cần có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất.
- Có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và đảm
bảo lấy được dinh dưỡng đã được giải phóng hay phân huỷ từ dưới.
Tuy nhiên, để chọn làm cỏ chăn thả hay thu cắt cần phải dựa vào các nhân
tố sau để xét duyệt và quyết định hướng sử dụng cho từng loại cỏ như: độ ngon
cỏ để trồng. Thái Lan đã sản xuất được 418 tấn hạt cỏ (1991) và 1.336 tấn
(1994). Trong điều kiện d iện tích chăn thả hẹp, mùa khô kéo dài, đất dinh
dưỡng kém, chua, mặn, ngập nước, dự án cây nhập nội đã đánh giá: ở Khon
Kean 37 giống cây thức ăn trồng để chọn giống thích hợp với đất cát khô, đã
chọn được mười giống cây cỏ họ Đậu và Hoà thảo thích hợp thuộc chi
Andropogon, Brachiaria, Paspalum, Stylo, Leucoena. Ở Marathiwat với mục
đích chọn cây thức ăn chịu đất chua đã xác định được 8 giống cỏ triển vọng
trong số 26 giống nhập nội (Báo cáo dự án trồng cỏ Thái Lan-1994).
Nghiên cứu 19 giống của chi Brachiria thuộc bốn loài (Brachiaria
decubens, Brachiaria brizontha, Brachiria humidicola, Brachiria fubata) đã
xác định được bảy giống có năng suất hạt và năng suất chất xanh ở mùa khô
khá. Những giống này được tiếp tục khảo nghiệm và nhân ra diện rộng.
Giống Paspalum atratum nhập vào Thái Lan năm 1995 được đánh giá
trong mục tiêu là cây thức ăn cho đất thấp nó đã thể hiện là giống tốt, chịu đất
chua, ngập nước, sản xuất chất xanh và khả năng sản xuất hạt cao (Chaing
sang Phai Keow, 1999)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
- Ở Philippiin, với 90% gia súc nhai lại nuôi tại vườn nhà hoặc ở các
trang trại nhỏ được trồng các giống Stylo 184, Panicum maxinum, Paspalum
atratum...đều phát triển tốt cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc. Ngoài ra, các
giống cỏ trên còn được trồng theo đường đồng mức ở đất dốc, cải tạo đất
trống đồi núi trọc, trồng dưới tán cây ăn quả. Hằng năm sản xuất được trên 1
tấn hạt cỏ (E.F.Lating, F.Gagunada, 1995).
Một số nước khác như Malaysia, Lào,...cũng đã chú trọng đầu tư phát
triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985. Cho đến nay một số giống
cỏ Hoà thảo và cỏ họ Đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao trong
sản xuất. Hằng năm sản xuất được 2 -3 tấn hạt cỏ các loại. Như vậy, phong
trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước quan
Thời gian cắt Năng suất VCK (tấn/ha)
11/8/2000 8,9
11/9/2000 7,1
11/10/2000 6,9
11/11/2000 6,8
11/12/2000 4,6
11/01/2001 2,6
11/02/2001 4,1
11/03/2001 4,3
11/04/2001 5,8
11/05/2001 3,7
Nguồn: Annual Report on Animal Nutrition Division (2001) [47]
Theo Quilichao (Colombia CIAT, 19780 [48], giống Brachiaria
decumbens có thể đạt năng suất chất khô trên 42.000 kg/ha/năm với thí
nghiệm không bón phân đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất
trong điều kiện bón lân và đạm thích hợp. Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng
suất chất khô đạt 36.700 kg/ha, kết quả này cao hơn so với cỏ Pangola
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
(Digitaria decumbens), Para(Brachiaria mutica) và Ghinê (Panicum
maximum) (Barnard, 1969) [48].
Tại Purertorico, Vieente- Chandler Silva và Figarella (1959) [57] thông
báo năng suất giống Panicum maximum Cv Makueni đạt 26.846 kg VCK/ha
với mức bón 440kg đạm/ha và cứ 40 ngày cắt 1 lần khi trồng cỏ. Middleton
và Micosker, (1975) [54] cho biết vào năm 1973 và 1974 tại miền Nam
Johnstone, vùng Queensland, vẫn giống Panicum maximum Cv Makueni đã
sản xuất được 60.000kg VCK/ha với điềukiện cung cấp 300kg đạm/ha.Tại
Samford, Queesland năng suất hàng năm giống Paspalum rinâttum là
15.000kg VCK/ha (Davies, 1970) [51].
nghiệm ở các vùng khác để có cơ sở chắc chắn mở rộng ra sản xuất.
1.1.2.2 Những kết quả nghiên cứu
Kết quả những công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi cũng
chưa nhiều. Trong những năm gần đây, một số nhà khoa học mới tập trung
vào nghiên cứu một số giống cây thức ăn hoà thảo, họ đậu nhập nội ở một số
vùng như: Lê Hoà Bình và cộng sự (1992), khảo sát năng suất cây thức ăn
mới nhập nội ở một số vùng và ứng dụng trong hộ chăn nuôi đã có kết quả
như trình bày ở bảng 1.3 [6].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Bảng 1.3. Năng suất của các giống cỏ hoà thảo (tấn/ha/năm)
TT Tên giống
Long Mỹ Sơn Thành Bà Vì Thụy Phƣơng
Xanh VCK Xanh VCK Xanh VCK Xanh VCK
1
Panicum maximum hamil
56.91 9.73 92.9 17.6 86.3 16.5 90.5 17.3
2
Pancium maximum Liconi
40.57 8.11 99.96 18.9 97.5 17.5
3
Panicum maximum
Trichoglumen
40.89 8.21 62.4 12.6 44 10.1 68.2 15.7
4 Panicum maximum Makueni 59.96 11.92 77.1 15.1 60.8 12.4 108 19.4
5 Pennisetum King grass 119 19.02 170.1 22.3 207 23.6
6 Pennisetum purpureum 99.73 16.95 176 22.9 169.5 20.4 198 21.8
7 Setaria splendida 28.13 5.56 75.1 14.1 80.4 12.6
8 Brachiaria mutica 28.42 7.61 68.9 12.7 42.6 10.2 86.6 15.9
phân đạm bón từ 60 – 90 kg/ha. Năng suất chất xám cỏ TD 58 đạt 64,59 –
83,33 tấn/ha/lứa cắt thích hợp là 40 ngày/lứa/ Tỷ lệ tiêu hoá của dê đối với cỏ
TD 58 cao, khả năng sử dụng của gia súc như: Trâu sữa, bò sữa, bò thịt, dê
sữa đều tiêutốn từ 80 – 100%.
Tại trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi Thái
Nguyên, tác giả Nguyễn Văn Quang (2002) khi nghiên cứu so sánh về tốc độ
sinh trưởng, năng suất, chất lượng, tính ngon miệng của 5 giống cỏ nhập nội
cho biết: Cả 5 giống cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá cao từ 1,45 – 1,82
cm/ngày. Trong đó 2 giống cỏ Paspalum astratum và Panicum maximum TD
58 tốc độ sinh trưởng cao nhất (1,82 và 1,70 cm/ngày) [29].
Ở Việt Nam cây trồng làm thức ăn cho gia súc khá phong phú, ngoài cỏ
tự nhiên và cỏ trồng, rất nhiều loài cây trồng, cây mọc hoang dại hoặc các phụ
phẩm nông nghiệp khác cũng được sử dụng làm thức ăn gia súc: Bèo, thân lá
cây ngô, cây mía, rơm… Giá trị dinh dưỡng của một số loài và phụ phẩm
được phân tích ở Việt Nam được thể hiện ở bảng 1.4 [18].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Bảng 1.4. Giá trị dinh dưỡng của một số cây thức ăn chăn nuôi được
phân tích, đánh giá tại Việt Nam
TT Tên cây trồng
Vật
chất
khô
(%)
Protêin
thô
(%)
Lipid
thô
9 Ngọn,lá mía tuơi 29.61 0.78 0.54 8.52 18.52 1.25 0.06 0.06
10 Ngọn,lá mía khô 85.49 8.17 1.89 42.89 39.15 7.9 0.45 0.21
11 Rỉ mật mía 78 11 1.43 0 59.5 7.5 0.22 0.02
12 Ngọn, lá sắn đỏ 16.67 4.72 0.67 3.12 6.82 1.34 0.18 0.09
13 Ngọn, lá sắn trắng 15.48 4.77 0.6 3.07 5.35 1.7 0.16 0.09
14
Cây Keo dậu
(Leucaeana
Ieucocephala)
23.9 6.27 1.19 5.22 9.55 1.67 0.42 0.07
15
Cây chè khổng lồ
(Trichantera
Ghigantea)
13.68 2.08 0.6 1.72 6.07 3.21 0.86 0.04
16
Cây đậu Sơn Tây
(Flemingia
macrophilla)
28.5 17.3 1.76 37.9 5.76
17 Cây Mía (ngọn,lá tươi) 29.61 0.78 0.54 8.52 18.52 1.25 0.06 0.05
18 Cây lạc (thân,lá) 25.93 4.05 0.79 6.53 11.7 2.86 0.52 0.15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
1.2. Tình hình nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên
1.2.1. Vấn đề nguồn gốc và phân bố đồng cỏ trong đai nhiệt đới
Qua quá trình nghiên cứu nguồn gốc đồng cỏ trong đai nhiệt đới có
nhiều tác giả đưa ra các ý kiến khác nhau. Đa số tác giả cho rằng trong điều
kiện khí hậu nhiệt đới không có đồng cỏ tồn tại, các quần xã cỏ ở đây là lại
Nam không có savan, Dương Hữu Thời (1981) cũng đưa ra kết luận tương tự.
Theo Hoàng Chung (1980) là: Trên thực tế Bắc Việt Nam tồn tại nhiều
kiểu savan, đồng cỏ và dạng trung gian. Trong đai nhiệt đới, trên những vùng
rừng bị phá, khi mà đất còn khá tốt, độ ẩm còn khá cao thì sẽ hình thành ở đây
loại hình đồng cỏ. Trong quá trình tác động tiếp theo của con người sẽ làm
cho tỉ lệ cây hạn sinh tăng lên, cuối cùng chỉ tồn tại ở đồng cỏ các loài cỏ, cây
bụi hạn sinh và cây đoản mệnh, hình thành savan cây bụi. Quá trình này trên
miền Bắc Việt Nam có thể tóm tắt như sau: rừng nguyên sinh → rừng thứ
sinh → đồng cỏ → savan cỏ → savan bụi → thảm cây bụi hạn sinh [10].
1.2.2. Những nghiên cứu về khu hệ thực vật
Nghiên cứu khu hệ thực vật có thể ở từng vùng hay trên từng thảm thực
vật khác nhau. Đối với loại hình đồng cỏ, thảo nguyên, ở Liên Xô (cũ), có
nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài thực vật trong đồng cỏ, thảo
nguyên đã công bố như: Alekhin (1904), Vưsotxki (1915), Graxits (1927),
Sennhicop (1938), Creepva (1978), ... [10]. Nói chung, theo các tác giá thì ở
mỗi một vùng sinh thái xác định sẽ hình thành các thảm thực vật đặc trưng, cơ
sở để phân biệt sự khác nhau giữa chúng là thành phần loài và dạng sống, đó
là chỉ tiêu quan trọng của các công trình nghiên cứu thực vật.
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về khu hệ thực vật trong đồng cỏ, savan
hoặc một số loại hình thuộc thảo khác mới chỉ được tiến hành từ những năm 1950
trở về đây. Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu khu hệ thực vật trong đồng cỏ như:
Hoàng Chung (1980) nghiên cứu thành phần loại và dạng sống của
đồng cỏ miền núi Bắc Việt Nam đã được ra bảng phân loại các kiểu đồng cỏ,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
savan, thảo nguyên. Tác giả đã công bố thành phần loại thu được là 233 loại
thuộc 54 họ và 44 chi [10]. Trong cuốn “Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam”
năm 2004 là 79 họ, 402 loài [11].
Đặc biệt là Dương Hữu Thời (1981) đã công bố công trình tổng hợp
sống của thực vật thuộc thảo vùng ôn đới đã sử dụng những đặc điểm sinh vật
học như: đặc điểm chồi, những phương thức sinh sản, sự kéo đời sống, sự phát triển ...
Drude (1913), Raunkiner (1905, 1934) khi phân chia dạng sống đã sử
dụng vị trí của chồi và khả năng tồn tại trong điều kiện bất lợi làm tiêu chuẩn
để phân chia [11].
I.K.Patrotxki (1915) chia thảm thực vật thành 5 nhóm: Thực vật thường
xanh, thực vật rụng lá và điều kiện bất lợi, thực vật có thời kỳ sinh trưởng và
phát triển ngắn, thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm.
Đối với cây thuộc thảo có các bảng phân loại dạng sống đã được làm
do Cannon (1911), Markie (1917),… Ở Liên Xô (cũ) có G.N.Vưsoxki (1915),
Kadakêvich (1922), Laprenko (1935) ... Đặc biệt, trong phân loại dạng sống
thực vật của T.Isatrenko (1954), I.V.Brixôva (1960, 1961), ... đã sử dụng
những đặc điểm cấu trúc cả phần dưới đất của thực vật. Dôdulin (1969),
Xêbêbriacôp (1954, 1955, 1962, 1964) cũng đã đưa ra một số hệ thống dạng
sống tương tự. Như hệ thống dạng sống hoàn mỹ hơn cả cho hoà thảo có lẽ là
của Golubep (1957, 1962, 1968) [11].
Những công trình nghiên cứu về dạng sống thực vật thuộc thảo ở Việt
Nam cũng như ở Đông Dương hình như chưa có. Doãn Ngọc Chất (1969) đã
nghiên cứu dạng sống của một số loài thuộc họ hoà thảo. Hoàng Chung
(2004) dựa trên những nguyên tắc phân loại của Golubep (1962, 1968), thống
kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam đã đưa ra 18
kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại nó được trình bày ở bảng 1.5 [11].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
1.2.4. Những nghiên cứu về năng suất
Nghiên cứu về năng suất sinh vật học của các thảm thực vật đã bắt đầu từ
thế kỷ XIX, ban đầu chủ yếu là những công trình nghiên cứu có tính chất thống
kê trong kinh tế nông nghiệp. Sang đầu thế kỷ XX, Những công trình nghiên cứu
6
Cây nửa bụi
4.6
4.2
7
Cây thảo lâu năm có rễ cái
4.2
4.2
8
Cây có chồi mọc từ rễ
0.9
1
9
Cây thảo lâu năm có hệ rễ cái, có thân rễ ngắn
0.9
0
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
10
Cây thảo có hệ rễ chùm, sống lâu năm
14.4
14.7
11
Cây thảo có hệ rễ chùm, sống lâu năm có thân bò
2.3
4.2
12
Cây thảo mọc thành búi thưa, sống lâu năm
15.7
Sau đó nhiều công trình nghiên cứu phần trên mặt đất được tiến hành
cùng với phần dưới đất trong sự phụ thuộc từ những điều kiện tạo thành nó
của các kiểu thực bì khác nhau: Balôchina (1950), Gorskova (1954), Salưt
(1950), Andreev, Lapverenko và Leonchiev (1955); Badilevich (1958)
Xưrokomskaia và Ponhiatopkaia (1960), Igơnachenkôn (1965), Xemen-Nova-
Chiansianskaia (1966), Alekxenko (1967), Hoàng Chung (1974), Alekxeev
(1975), Uchekhi (1977), ... Nghiên cứu riêng phần trên mặt đất có các tác giả:
Kalininna (1954); Xemennôva-Chian-Sanskia (1966) ...
Nghiên cứu riêng phần dưới mặt đất có các tác giả: Baranops - Kaia (1954);
Krưm (1960); Xemennop (1966); Kharitonôp (1967); Gawood (1968);
IgonachenKo, Kirillova và PonhiatopsKaia (1968); Hoàng Chung (1980).
Ivannop (1941), Odum (1968) và Rodin (1968); Mantranop và Siminop
(1967) ... có những công trình nghiên cứu quá trình tích luỹ chất hữu cơ, cũng