Lời mở đầu
Chúng ta đang ở những nấc thang đầu tiên trớc tòa lâu đài vĩ đại thiên niên
kỷ thứ ba với bao ớc vọng mà trí tởng tợng của con ngời, dù phong phú đến
mấy, cũng khó hình dung hết những thành tựu sắp tới, bởi những bớc tiến nh vũ
bão của khoa học kỹ thuật. Không gian kinh tế và thơng mại ngày càng mở
rộng, biên giới kinh tế giữa các quốc gia ngày càng thu hẹp. Chất lợng cuộc
sống của con ngời ngày một đòi hỏi cao hơn, tinh tế hơn. Các sản phẩm từ cây
chè - đồ uống cho con ngời không nằm ngoài yêu cầu ấy.
Từ khi sản phẩm chè trở thành hàng hóa, giao lu trong nhân dân và phần
lớn Nhà nớc dùng làm hàng hóa trao đổi trên thị trờng thế giới mấy thập kỷ qua
đã xác định đợc rằng nó có vị trí quan trọng trong đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, mọi con đờng dẫn đến sự thành công đều không tuân theo một
lợc đồ thẳng tắp, tuyến tính mà đều phải thông qua những trải nghiệm thành
công, thất bại. Bản lĩnh của một con ngời, một tập thể, một cộng đồng đều bộc
lộ qua những trải nghiệm đó. Ngành chè đã đi qua những giai đoạn thăng trầm,
suy thoái để chứng kiến những ngày tháng đáng tự hào của những năm cuối thế
kỷ XX với những đột biến về tốc độ phát triển. Nhng bớc sang thế kỷ XXI, với
nhiều biến động của tình hình trong nớc và thế giới, ngành chè Việt Nam đã
tiếp tục gặp phải không ít những khó khăn và có thể sẽ còn tiếp diễn. Chính vì
thế, để phát huy đợc lợi thế so sánh, khắc phục nhợc điểm, nhằm nâng cao hiệu
quả kinh tế - xã hội nói chung và ngành chè Việt Nam nói riêng, bắt buộc
chúng ta phải có những nhận thức và chiến lợc đúng đắn trong việc phát triển
sản xuất cũng nh xuất khẩu mặt hàng chè - một tiềm năng rất lớn của kinh tế
Việt Nam.
1
Xuất phát từ quan điểm trên, em xin chọn đề tài: Các giải pháp nâng cao
khả năng cạnh tranh của mặt hàng chè nhằm tăng sản lợng xuất khẩu ra thị
trờng quốc tế.
Bài viết đợc chia làm 3 chơng:
- Chơng I: Tổng quan về thị trờng chè thế giới và ngành chè Việt Nam
- Chơng II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu
vạn tấn.
(1)
Năm 1995 đã chứng kiến một kỷ lục mới về sản phẩm chè mặc dầu ở một
số ít nớc sản xuất chè lớn thì sản phẩm có thấp hơn so với năm 1994. Tổng sản
phẩm dự kiến khoảng 2.590.000 tấn tăng khoảng 2% so với năm 1994 bằng
khoảng 48.000 tấn. Sự tăng mạnh sản phẩm ở hai nớc là Kenia và Inđônêxia
1
(1) Vũ Bội Tuyền, Khái quát về sản xuất và tiêu thụ chè trên thị trờng quốc tế, Tạp chí Kinh tế và khoa học
kỹ thuật chè số 1, Hiệp hội chè Việt Nam-năm 1995, trang 29.
3
đồng thời sản phẩm của Srilanca và ấn Độ sản xuất nhiều hơn là nguyên nhân
chính làm cho sản lợng chè thế giới tăng.
Do điều kiện thiên nhiên thuận lợi Kenia là một nớc sản xuất chè lớn ở
Châu Phi đã tăng 17% sản lợng so với năm 1994 đạt kỷ lục 244.500 tấn năm
1995. Sau khi bị giảm sản lợng năm 1994 thì năm 1995 sản phẩm chè của
Inđônêxia cũng tăng lên nhanh, đạt khoảng 150.000 tấn, hơn 16% so với mức
độ năm trớc và sản phẩm từ các xí nghiệp tăng 22%. Sự gia tăng đáng kể sản
phẩm ở hai nớc sản xuất chè lớn này đã làm cho sản phẩm chè thế giới lên đến
55.000 tấn năm 1995.
Sản phẩm chè của Srilanca theo báo cáo tăng khá nhanh trong mấy chục
năm qua đã làm ảnh hởng đến thành công của việc cải cách kinh tế trong ngành
chè. ấn Độ vẫn duy trì là nớc sản xuất chè lớn nhất thế giới.
ở các nớc sản xuất chè lớn ở Châu Phi sản lợng cũng thay đổi liên tục.
Trong khi Zimbabuê và Tanzania đợc mùa thì Malavi và Uganda lại bị giảm sản
lợng trong năm 1995. Sản lợng chè ở Zimbabuê tăng 17% lên 16.000 tấn trong
khi đó ở Tanzania sản lợng đợc đánh giá chỉ tăng 1%. Hạn hán đã ảnh hởng đến
vùng phát triển cây chè ở Malavi và là nguyên nhân gây giảm sản lợng 2% còn
34.500 ha của các năm trớc đó xuống 11.193 ha và sản lợng chè chỉ còn 12.700
tấn, giảm 6%.
(2)
1999 806 284 249 200 165 288 1.992 - 7,3
2000 870 315 245 200 170 300 2.100 5,4
2001 870 320 260 200 170 312 2.132 1,5
2002 890 320 280 200 170 325 2.185 2,5
2003
(*)
890 320 300 200 170 335 2.215 1,4
Nguồn: Hội đồng chè Quốc tế (ITC) và Cơ quan dự báo kinh tế (EFU) năm 2002. (*)
Số ớc tính, Hiệp hội chè Việt Nam.
Ghi chú: Số liệu bao gồm cả chè đen và chè xanh.
Theo FAO, sản lợng chè thế giới năm 2002 so với năm 2001 tăng 2,5%
(khoảng 3.097 ngàn tấn) do sản xuất chè ở nhiều nớc đạt mức sản lợng khá cao,
đặc biệt là Srilanca, ấn Độ. Bên cạnh đó, Việt Nam và Achentina đã cải thiện đ-
ợc tình trạng canh tác chè. Trong năm 2002, sản lợng tăng trởng mạnh không
chỉ trong những nớc trên và một số nớc cung cấp chè lớn ở Đông Phi, mà cả
những nớc nhập khẩu lớn nh Pakistan, Iran, Nêpan và Etiopia.
1.2. Nhu cầu.
(3)
Tiêu thụ chè trên thế giới không chỉ của các nớc nhập khẩu, mà còn bao
gồm cả bản thân các nớc sản xuất (nội tiêu).
Phần lớn các nớc xuất khẩu chè là các nớc đang phát triển và chậm phát
triển, nghèo nàn về kinh tế. Nhng sau chiến tranh, một số nớc thuộc địa đã lần l-
ợt giành đợc độc lập; theo đà nâng cao các điều kiện kinh tế và đời sống, lợng
chè nội tiêu đã tăng lên rất lớn. Nhu cầu chè ở các nớc đang phát triển tăng,
3
(3)Nguyễn Tiến Cơ, Tổng quan thị trờng chè thế giới, Tạp chí Ngời làm chè số 5, Tổng công ty chè Việt Nam
-năm 2001, trang 21
5
ngoài nguyên nhân tăng trởng dân số, còn do tác dụng bảo vệ sức khỏe của chè
ngày càng hấp dẫn con ngời.
Các nớc phát triển ở Tây Âu và Mỹ có tập quán uống chè với đờng, sữa
phù hợp với cách uống của cà phê, cocacola nên rất coi trọng các loại chè có
màu nớc đỏ tơi sáng, vị nồng mạnh đậm đà, ngọt mát, hàm lợng chất tan không
dới 32%. Ngoài ra, do nhịp sống xã hội khẩn trơng nên họ a thích các loại chè
tan nhanh tiện lợi nh chè mảnh CTC, chè bột, chè túi nhúng,... Vì vậy trong
những năm gần đây nhu cầu chè đen mảnh CTC đã tăng rất nhanh ở các nớc
này. Tỷ trọng chè bột và túi nhúng trong tổng nhu cầu tiêu dùng ở một số nớc
Tây Âu và Mỹ cũng đang ngày càng nhiều.
Chè xanh trong thời gian này cũng đang dần dần đợc nhiều ngời tiêu dùng
a thích.
Năm 2001 mức tiêu thụ chè thế giới ớc đạt 2,072 triệu tấn, tăng 2,4%
(khoảng 49 ngàn tấn) so với năm 2000, trong đó năm nớc tiêu thụ chè chủ yếu
là ấn Độ, CIS, Anh, Pakistan và Hoa Kỳ (chiếm khoảng 58,5% tổng mức tiêu
thụ thế giới) tăng 50 ngàn tấn và các nhóm nớc khác giảm 1 ngàn tấn. Tiêu thụ
chè thế giới trong năm này đã phục hồi so với năm 2000 và cao hơn 0,9% so với
tốc độ tăng trởng của mức cung. Sang năm 2002 và 2003 tình hình nhu cầu trên
thế giới đang có xu hớng chững lại (bảng 2).
Hiện nay, thị trờng chè thế giới đang ở giai đoạn bão hòa, có thể nhận thấy
sản lợng sản xuất ra giữa các năm có sự chênh lệch không đáng kể. Do vậy
những ngời làm chè đang nỗ lực để chuyển sang chú trọng hơn nữa đến chất l-
ợng trong khi về số lợng đã tơng đối đáp ứng đủ.
Bảng 2: Cầu chè thế giới theo thị trờng
Đơn vị tính: 1.000 tấn
Năm
ấn Độ
CIS Anh Pakistan Hoa Kỳ Thị trờng
khác
Tổng cộng So với năm
trớc (%)
1999 650 182 137 108 90 835 2.005 - 1,6
19,1%. Xuất khẩu chè của Inđônêxia, Kênia, Uganđa, Bănglađét, Achentina
cũng liên tục phát triển. Do đó từ một nớc Trung Quốc xuất khẩu chè độc nhất
và sớm nhất thế giới, đã tăng lên hơn 10 nớc (trớc 1938) và đến nay đang tăng
lên trên 30 nớc.
2.2. Một số nớc xuất khẩu chè lớn trên thế giới
.
(4)
4(4)
Đỗ Kim Oanh, Thị trờng chè thế giới-Hiện thực và xu thế phát triển, Tạp chí Kinh tế và khoa học kỹ thuật
số 3, Hiệp hội chè Việt Nam-năm 1999, trang18,19
8
Srilanka: Trong những năm gần đây sản lợng chè của Srilanka tăng
nhanh. Nhờ đó, xuất khẩu chè cũng tăng khá mạnh. Năm 1997 xuất khẩu đạt
268.000 tấn cho thấy nớc này đã đợc đứng vào vị trí nớc xuất khẩu chè lớn nhất
thế giới. Năm 1998 doanh thu về xuất khẩu chè tại nớc này tăng 8,4% đạt 779,7
triệu Đô la Mỹ. Tuy nhiên xuất khẩu chè của Srilanca năm 1998 gặp một số trở
ngại: Thị trờng xuất khẩu chè lớn của Srilanka là Nga và Cộng đồng các quốc
gia độc lập (SNG) chiếm 25% tổng lợng chè xuất khẩu của nớc này nhng kể từ
khi lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế, Nga đã không có khả năng thanh
toán, nên Srilanka đã tạm ngừng xuất khẩu chè sang Nga. Mặc dù vậy, phía Nga
cam kết đảm bảo thanh toán cho Srilanca và đề nghị Srilanka vẫn tiếp tục xuất
khẩu chè cho họ. Từ sự kiện này buộc Srilanca vẫn phải tìm kiếm thêm thị tr-
ờng, bạn hàng mới để duy trì xuất khẩu. Và kết quả là Srilanka vẫn tiếp tục duy
trì đợc vị trí đứng đầu của mình về xuất khẩu chè trên thế giới với lợng xuất
khẩu năm 2000 là 281.352 tấn; năm 2001 là 282.900 tấn, năm 2002 là 290.325
tấn và năm 2003 ớc tăng lên 300.000 tấn.
ấn Độ: Đây là nớc sản xuất chè lớn nhất thế giới, đồng thời cũng là nớc
tấn còn chè xanh: 181.502 tấn).
Mấy năm gần đây, chè hữu cơ của Trung Quốc phát triển với tốc độ rất
nhanh. Dự tính trong năm 2003, chè hu cơ sẽ chiếm lĩnh thị trờng trong nớc.
Đây sẽ là động lực để Trung Quốc nâng cao toàn diện chất lợng chè xanh trong
cả nớc.
Kênia: Chính phủ Kênia đã tăng cờng đầu t vào cơ sở hạ tầng trong một
vài năm gần đây để cải tiến hơn nữa việc trồng và xuất khẩu chè, nhất là việc
xây dựng đờng xá ở các vùng trồng chè, thực hiện các biện pháp cải tiến cơ cấu,
trong đó có việc loại bỏ giám sát bán chè trên thị trờng nội địa, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc cạnh tranh trong phân phối và đóng gói chè.
Cũng nhờ những cố gắng này sản lợng xuất khẩu của Kênia tăng đáng kể,
kim ngạch xuất khẩu năm 1998 là 264.311 tấn chè tăng 27% so với năm trớc.
Sau đó thì giảm dần và đến năm 2000 là 217.000 tấn; năm 2001 lại có xu hớng
tốt hơn, đạt 258.000 tấn. Xuất khẩu năm 2002 của nớc này đã đem lại 475,1
triệu USD. 6 tháng đầu năm 2003, do sản lợng chè ở Kênia tăng khoảng 2.000
10
tấn so với cùng kỳ năm ngoái, nên ngành chè Kênia phấn đấu tăng xuất khẩu
22% để bù lại cho việc giá xuất khẩu giảm. Những khách hàng thờng xuyên của
Kênia là Mĩ, Anh, Pakistan, Ai Cập, Afganistan, Sudan, Iran.
Inđônêxia: Có thể nói, Inđônêxia cũng là nớc có sản xuất và xuất khẩu
chè lớn trên thế giới. Sản lợng xuất khẩu của Inđônêxia chỉ đứng sau Srilanka,
ấn Độ, Trung Quốc, Kênia. Xuất khẩu năm 2000 đạt 105.597 tấn; năm 2001 là:
99.805 tấn. Và vào năm 2002, 2003 xuất khẩu của nớc này vẫn tiếp tục giảm.
Việt Nam: Từ năm 1995 đến nay, Việt Nam đã cải thiện vị trí của mình
một cách rõ rệt trong xuất khẩu chè. Năm 1998, Việt Nam vẫn còn đứng ở vị trí
thứ 15 trên thế giới về xuất khẩu chè thì đến nay Việt Nam đã vơn lên vị trí thứ
6. Đây là một thành tích đáng kể đối với ngành chè Việt Nam. Vào năm 1998,
5)
Anh: Ngời Anh có lịch sử uống chè đã trên dới 300 năm. Uống chè tại n-
ớc Anh đã hình thành phong cách và tập quán. Trớc những năm 70 của thế kỷ
chè chiếm trên 70% thị phần các loại nớc uống. Tuy nhiên trong thời gian gần
đây, cà phê và các loại nớc ngọt khác đã giành lại đợc phần đáng kể thị phần n-
ớc uống của chè. Vì vậy, lợng chè nhập khẩu vào Anh giảm đáng kể từ 178.000
tấn năm 1998 còn 163.000 tấn năm 1999, đến năm 2000 chỉ còn 157.664 tấn;
và năm 2001 là 165.537 tấn (trong đó chè đen là 163.318 tấn còn chè xanh là
2.219 tấn). Các nớc chủ yếu xuất khẩu chè vào Anh là Kênia từ 45-50% tổng l-
ợng chè nhập khẩu của Anh, ấn Độ từ 16-18%, Nam Phi từ 6-10%, Malavi 3%
(riêng năm 2000 đạt 15,9%), Inđônêxia từ 5-10%, Srilanka 5-8%, Việt Nam
năm 1998 cao nhất giành đợc 0,53% thị phần tại Anh là 947 tấn trong số 78.000
tấn nhập vào nớc Anh.
Nga: Nớc này nhập khẩu chè rất lớn trên thế giới, chỉ kém Anh một
chút. ở Nga chè luôn luôn đợc coi là thực phẩm quan trọng trong cuộc sống
hàng ngày và là hàng nhập khẩu duy nhất trong bảng xác định chỉ số tiêu dùng.
Chè là một trong 16 mặt hàng thực phẩm đợc Chính phủ phân phối cho các
vùng sâu, vùng xa. Sức tiêu thụ khoảng 147-162 ngàn tấn chè / năm với tổng trị
giá trên thị trờng hiện nay khoảng 600-650 triệu USD. Chè nhập vào Nga chủ
5(5)
Nguyễn Tiến Cơ,Tổng quan thị thrờng chè TG,TC Ngời làm chè số 5,Tổng công ty chè VN-2001,tr21-23
12
yếu là chè của ấn Độ, chiếm khoảng 100-115.000 tấn/ năm, chiếm 71,5% thị
phần năm 2000. Một nhân tố làm thị phần chè của ấn Độ lớn là Hiệp định từ
năm 1994 giữa Chính phủ hai nớc cho phép ấn Độ trả nợ bằng chè và các công
ty nhập khẩu chè trả nợ không phải chịu thuế VAT (20%). Đến năm 2001, chè
của ấn Độ không còn đợc hởng u đãi VAT nh trớc, do vậy thị phần chè của ấn
Theo các quan chức ngành chè, Pakistan đã yêu cầu Kênia ký một Hiệp
định tự do thơng mại (FTA) về việc thúc đẩy thơng mại giữa 2 nớc. Pakistan-đất
nớc tiêu thụ gần 140.000 tấn chè mỗi năm là thị trờng chè lớn nhất của Kênia,
chiếm gần 24% thị trờng xuất khẩu nớc này.
Mỹ: Đây là nớc tiêu thụ cà phê là chính, tỷ lệ tiêu dùng giữa chè và cà
phê là 1:10. Chính phủ Mỹ miễn thuế cho chè nhập nhng qui định tiêu chuẩn
cho chè tùy theo từng nớc xuất vào Mỹ. Năm 1998, Mỹ đã nhập 100.204 tấn
chè, năm 1999 giảm xuống còn 95.062 tấn; năm 2000 vẫn tiếp tục giảm với sản
lợng nhập khẩu là 90.892 tấn; nhng vào năm 2001 đã tăng lên là 100.124 tấn.
Có 4 hãng chè lớn chi phối thị trờng Mỹ là Lipton 43% thị phần, Tetley 10%,
Nestle và Southern mỗi hãng 5%. Còn lại là thị phần của trên 40 hãng và cửa
hàng. Nớc xuất khẩu nhiều nhất vào Mỹ là Achentina chiếm 38%, Trung Quốc
10%, Inđônêxia là 8%; ấn Độ, Srilanka, Kênia, Malaixia mỗi nớc giành đợc
5%. Việt Nam năm cao nhất cũng mới chỉ đạt 1.745 tấn bằng 1,8% thị phần.
Chè Việt Nam nhập vào Mỹ chủ yếu là chè cấp trung và cấp thấp. Ngời Mỹ có
tới 80% dân số thích uống chè lạnh, chè hòa tan, chè bột hỗn hợp đợc uống với
đá hoặc pha trà để nguội cho tủ lạnh mới uống nhng nớc chè để trong tủ lạnh
phải đỏ tơi, trong suốt, không bị kết tủa váng kem sữa. Cũng do uống chè tan,
chè nhúng trong túi lọc, ngời tiêu dùng không trực tiếp nhìn mặt chè nên họ chỉ
coi trọng mầu nớc khi đã qua tủ lạnh, họ không để ý đến ngoại hình nên các
loại chè cấp thấp, cấp trung sẽ đợc các nhà nhập khẩu Mỹ quan tâm nhiều hơn.
Nhật: Đất nớc Nhật Bản có truyền thống uống chè từ lâu đời, sản xuất
chè đứng thứ 6 trên thế giới về sản lợng song cũng lại là nớc nhập khẩu chè t-
ơng đối lớn vì sản xuất không đủ cho tiêu dùng trong nớc. Sản lợng sản xuất
hàng năm từ 70-80.000 tấn, toàn bộ là chè xanh. Vùng trồng chè quan trọng
nhất của Nhật là tỉnh Shizuoka ở chân núi Phú Sĩ, tuy nhiên chè ngon nhất vẫn
14
là chè ở vùng Kyoto. Nhu cầu về chè đen bắt đầu xuất hiện ở Nhật vào những
thuật, chính vì vậy, các nớc sản xuất và xuất khẩu chè đều muốn chứng tỏ uy
15
tín, thơng hiệu cũng nh chất lợng sản phẩm của mình trên thị trờng quốc tế, do
vậy họ không ngần ngại tham gia vào các cuộc cạnh tranh trên thơng trờng,
trong khi đó vai trò điều tiết của Hiệp hội chè Thế giới lại cha đợc khẳng định.
Khi có sự khủng hoảng về kinh tế đồng tiền nội tệ của các nớc sản xuất chè mất
giá thì sự cạnh tranh này lại càng trở nên gay gắt hơn.
Trong những năm gần đây, giá cà phê thế giới liên tục giảm xuống tới mức
thấp cha từng có trong lịch sử cộng với đã có ý kiến của một số nhà khoa học
cho rằng cà phê không ảnh hởng xấu đến sức khỏe của con ngời nên đã kích
thích số đông thanh niên yêu thích chè chuyển sang cà phê, vì thế giá chè thế
giới đang có chiều hớng đi xuống.
Đầu thế kỷ XXI, cung về chè vẫn vợt cầu nên giá chè vẫn tiếp tục giảm
xuống. Để hạn chế sự xấu đi này của thị trờng, cần ngăn chặn nạn buôn lậu chè
với ớc tính khoảng 50 ngàn tấn/ năm và tích cực tiêu thụ số d thừa ngay tại nớc
sản xuất. Tuy nhiên còn có một số yếu tố khác đẩy giá chè rớt xuống nh yếu tố
kỳ vọng về mùa vụ bội thu hơn mức dự đoán.
Cho đến gần cuối những năm 2002, giá chè trên thế giới vẫn tiếp tục duy
trì ở mức thấp, nhng giá ở các nớc tơng đối xấp xỉ nhau, chỉ có thị trờng Trung
Quốc là có giá thấp hơn hẳn so với các nớc khác. Nguyên nhân có thể là do sản
lợng chè của Trung Quốc đạt năng suất cao, d thừa tiêu dùng nội địa, vì vậy
xuất khẩu lớn, hạ giá thành sản phẩm (bảng 4).
Bảng 4: Giá chè thế giới (Tại thị trờng Pakistan tháng 9/2002)
Loại chè Tên nớc Giá bán
Bangladesh 1,12 USD/kg
Burundi 1,45 USD/kg
China 0,32 USD/kg
India 1,55 USD/kg
Indonesia 1,13 USD/kg
Kenya 1,70 USD/kg
2000 lên 900 ngàn tấn năm 2010 (tăng bình quân 2,6%/ năm). Trung Quốc
cũng sẽ tăng 2,7%/ năm từ 500.000 tấn lên 671.000 tấn, chiếm 75% tổng sản l-
ợng chè xanh thế giới. Còn ở Nhật Bản dự kiến chỉ tăng 0,1%/năm, đạt 90.800
tấn. Sản lợng chè xanh của Việt Nam sẽ tăng ở mức 2,5%/ năm, đạt trên 50.000
tấn. Inđônêxia tăng 2,3%/ năm, đạt 49.000 tấn.
Chúng ta có thể xem bảng 5 để thấy rõ hơn nữa sự biến động của chè trong
những năm tới: Nhìn chung mức độ tăng sản lợng từ nay đến năm 2010 có tăng
nhng không đáng kể, tốc độ tăng giảm dần theo thời gian, tuy nhiên dẫn đầu về
nguồn cung chè trên thế giới sẽ vẫn là ấn Độ, Trung Quốc, Kênia, Srilanka
6((
)
FAO năm 2002.
17
Chè xanh
Bảng 5: Về cung cấp chè thế giới theo thị trờng.
Đơn vị tính: 1.000 tấn
Năm
Nớc
2000 2005 2010
ấN Độ
870 900 1.007
SRILANKA 315 325 329
KENYA 237 300 304
TRUNG QuốC
700 660 671
INĐÔNÊXIA 159 178 196
CáC NƯớc khác
669 900 993
Năm
Nớc
2000 2005 2010
ấN Độ
663 763 919
TRUNG QuốC
400 425 450
ANH 134 132 125
PAKISTAN 112 128 150
HOA Kỳ
89 91 95
LIÊN BANG NGA 158 182 215
THị TRờng khác
724 769 836
Tổng cộng
2.280 2.490 2.790
Nguồn: Theo dự báo của ITC và EFU, F.O Lichts năm 2002
- Xuất khẩu chè xanh cũng tăng mạnh với tốc độ 6,1%/năm từ 186,8 ngàn
tấn năm 2000 lên 254 ngàn tấn năm 2010. Trung Quốc vẫn giữ vai trò lớn trong
thị trờng chè xanh với tổng lợng xuất khẩu đạt 210 ngàn tấn năm 2010.
Inđônêxia dự kiến có mức tăng trởng xuất khẩu chè xanh khoảng 3,8%/ năm,
lên tới 12 ngàn tấn năm 2010. Việt Nam cũng đạt mức tăng trởng 2,5%/ năm và
xuất khẩu khoảng trên 25 ngàn tấn chè xanh vào năm 2010.
Nhập khẩu: Trong những năm qua, dự trữ chè thế giới đã có xu hớng
chuyển dịch từ các nớc xuất khẩu chính sang các nớc nhập khẩu chính, đặc biệt
là đối với chè chất lợng cao. Mặt khác, khả năng cung cấp vẫn luôn cao hơn so
với mức tiêu thụ nên nhập khẩu trong giai đoạn tới sẽ tăng trởng thấp hơn chút
ít so với xuất khẩu.
- Dự đoán nhập khẩu chè thế giới năm 2005 đạt 1,27 triệu tấn, tăng bình
quân 2,3%/năm và năm 2010 đạt 1,42 triệu tấn, tăng bình quân 2,2%/năm.
Cây chè đã đợc ngời dân Việt trồng từ rất lâu đời nhng cha phát triển rộng
rãi, đến năm 1913 ngời Pháp bắt đầu xây dựng ở Việt Nam một số đồn điền
20
trồng chè nh đồn điền Cầu Đất (Lâm Đồng), Biển hồ, Bầu Cạn (Gia Lai,
Kontum), Thanh Ba, Đồng Lơng, Phú Hộ (Phú Thọ)... Năm 1918, ngời Pháp đã
xây dựng một trạm nghiên cứu đặc sản tại Phú Hộ (Phù Ninh-Phú Thọ). Ban
đầu trạm lấy cây cà phê và cây chè để nghiên cứu, nhng sau 1930 nghiên cứu
cây chè là chính, cây cà phê chuyển vào Bảo Lộc (Lâm Đồng). Trạm hoạt động
liên tục cho tới ngày nay và đã đợc chuyển thành Viện nghiên cứu chè (1988)
sau khi hợp nhất với trung tâm nghiên cứu chè ở Thanh Ba (Phú Thọ).
Sản xuất chè phát triển nhanh những năm 1930-1940. Tiêu thụ chè trong
nớc ngày càng tăng lên. Đất đai, khí hậu thích hợp cho việc trồng chè, ngời dân
thờng trồng chè theo kiểu vờn hộ gia đình, trang trại, tiêu doanh điền của các
điền chủ nhỏ bản xứ, có 3 vùng chè đợc hình thành: Vùng chè Cao nguyên
Miền trung gồm các tỉnh Gia Lai, Kon tum, Đắc Lắc và Lâm Đồng; Vùng chè
Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ gồm các tỉnh Phú Thọ, Hà Tây, Thái Nguyên, Thanh
Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh; Vùng chè Trung Kỳ gồm các tỉnh Quảng Trị, Quảng
Ngãi, Bình Định, Quảng Nam.
Năm 1930, diện tích chè cả nớc là 8000ha., năng suất 7,5 tạ/ha, sản lợng
chè khô 6000 tấn. Năm 1935, diện tích tăng lên 13.000 ha, năng suất 6,9 tạ/ha,
với sản lợng chè khô đạt 8.970 tấn. Đến năm 1940, diện tích là 14.500 ha, với
năng suất 6,6 tạ/ ha và sản lợng chè khô là 9.570 tấn.
(7)
Về cơ cấu chè có 2 loại: Chè xanh và chè đen, trong đó chè đen là chính và
đợc chế biến theo công nghệ của Anh và Hà Lan. Chè đen bán tại các thị trờng
Châu Âu và Mỹ, chè xanh bán sang Bắc Phi.
Những năm 1940-1945, Nhật chiếm đóng Đông Dơng nên việc sản xuất
kinh doanh bị đình trệ.
Từ năm 1945 đến 1954, là thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sản xuất chè
bị giảm sút mạnh ở cả 2 miền (Bắc và Nam), diện tích chè bị bỏ hoang. Sản l-
Hòa.
Hiệp hội chè Việt Nam ra đời (VITAS: Vietnam Tea association) năm
1988, có nhiệm vụ tham gia t vấn cho Bộ và các cơ quan nhà nớc trong việc xây
dựng chiến lợc phát triển ngành chè, các chủ trơng chính sách khuyến khích
phát triển sản xuất và tiêu thụ chè. Viện nghiên cứu chè cũng đợc thành lập năm
1988 (Phú Thọ) trên cơ sở hợp nhất 2 cơ sở nghiên cứu trớc đây: Viện nghiên
22
cứu chè của Liên hiệp các xí nghiệp công nông nghiệp chè Việt Nam thành lập
năm 1985 tại Thanh Ba (Phú Thọ) và trạm nghiên cứu chè Phú hộ của Viện
công nghiệp - cây ăn quả, thành lập từ năm 1918 tại Phú Hộ (Phú Thọ).
Thời kỳ này gắn liền với sự ra đời của Tổng công ty chè Việt Nam trên cơ
sở sáp nhập: Liên hiệp các xí nghiệp chè Việt Nam và Công ty xuất nhập khẩu
và đầu t phát triển chè (VINATEA). Tổng công ty chè đợc thành lập theo quyết
định 90/ TTg của Thủ tớng chính phủ. Với mô hình mới, Tổng công ty chè Việt
Nam vẫn là cơ quan quản lý cấp trên của các doanh nghiệp quốc doanh sản xuất
chè.
Diện tích và sản lợng chè của thời kỳ này thể hiện ở bảng 8 dới đây:
Bảng 8: Diện tích và sản lợng thời kỳ 1979-1990
Năm Diện tích (ha) Sản lợng khô (tấn)
1979 48.000 22.080
1980 46.000 20.240
1981 44.000 20.680
1982 48.000 24.960
1983 49.000 24.010
1984 49.000 26.950
1985 50.000 27.500
1986 58.000 29.580
1987 59.000 29.610
1988 59.100 29.700
1989 58.300 30.200
sự mệt mỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ơng, kích thích vỏ đại não, làm cho
tinh thần minh mẫn sảng khoái, hng phấn do chất cafêin, trong những thời gian
lao động căng thẳng về trí óc và chân tay.
Chè có tác dụng bảo vệ sức khỏe con ngời: chữa bệnh đờng ruột nh kiết lị,
ỉa chảy (do tanin), lợi tiểu (do theofilin, theobromin), kích thích tiêu hóa mỡ,
chống béo phì, chống đợc sâu răng và bệnh hôi miệng. Trong chè còn có nhiều
vitamin C, B
2
, PP, K, E, F,...và các axit amin rất cần thiết cho cơ thể. Gần đây
các Hội nghị quốc tế về chè và sức khỏe con ngời tại Canlcuta (ấn Độ, 1993),
Thợng Hải (1995), Bắc Kinh (1996), Shizuoka (Nhật Bản, 1996), Pari (2000),
Kênia (2001) đã thông báo tác dụng của chè xanh về chức năng điều hòa sinh lí
con ngời, chức năng phòng ngừa ung th bằng cách củng cố hệ thống miễn dịch,
24
phòng ngừa bệnh huyết áp cao và bệnh tiểu đờng, ngăn ngừa cholesterol tăng
cao, chống lão hóa do tác dụng chống ôxi hóa.
Chè là cây trồng bản địa truyền thống có tác dụng bảo vệ môi trờng ở Việt
Nam. Đến nay đã xác định đợc 16 tỉnh có khả năng thích hợp nhất để trồng chè,
tập trung chủ yếu ở trung du miền Bắc và Tây Nguyên. Trồng chè đúng quy
trình kỹ thuật sẽ tạo ra một thảm thực vật có tác dụng phủ xanh đất dốc đồi núi
trọc, xây dựng và bảo vệ môi trờng sinh thái.
Cần phải có biện pháp hữu hiệu để khắc phục các tác hại của thiên nhiên
nhiệt đới nh chống xói mòn, thoái hóa đất chè, hạn chế tác hại của sâu bệnh và
nắng hạn ở các vùng chè Tây Nguyên, Khu IV cũ....có gió tây khô nóng.
Cây chè là cây xóa đói giảm nghèo tạo ra công ăn việc làm và ổn định đời
sống cho hàng chục vạn hộ gia đình. Quy hoạch các vùng sản xuất chè tập
trung, bao gồm sản xuất nông - công nghiệp - dịch vụ, đã hình thành các cụm
dân c, nhằm góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân,
nhất là tại các vùng sâu vùng xa của đồng bào dân tộc, khai hoang ở trung du,
miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.