TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Hoàn Thiện Quản Lý Tiêu Thụ Sản Phẩm
Ở Công Ty Tnhh Nguyên Ngọc
Giảng viên hướng dẫn :
NCS. NGUYỄL LỆ THÚY
Sinh viên thực hiện :
Nguyễn thành trinh
Lớp :
QUẢN LÝ KINH TẾ 46A
Hà Nội- 05/2008
MỤC LỤC
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1. c i m chung c a công ty máy tính Nguyên Ng c ......................18
2.1.1 Quá trình hình th nh v phát tri n:à à .............................................18
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế hàng hoá ở nước ta như hiện nay cùng với sự
chuyển đổi nền kinh tế sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự
điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì các
doanh nghiệp nước ta chuyển sang hạch toán độc lập, có quyền tự chủ
trong hoạt động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt
động động kinh doanh của mình. Sự đổi mới có tính chất. Bước ngoặt
này đòi hỏi các doanh nghiệp phải biết sản xuất kinh doanh có hiệu
quả và không ngừng nâng cao hơn nữa hiệu quả đó. Một tất yếu khách
quan trong nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh gay gắt giữa các
doanh nghiệp. Để có thể tồn tại và phát triển được trong điều kiện hiện
nay bắt buộc các doanh nghiệp phải có các chính sách và biện pháp
kiến thức của mình để phân tích, nghiên cứu và phát triển những thành
công, những mặt còn tồn tại trong công tác tiêu thụ hàng hoá góp phần
cùng Công ty đưa ra được những giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện
SV: Nguyễn Thành Trinh - Lớp: QLKT 46A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tiêu thụ hàng hoá của Công ty. Chính vì vậy em đã mạnh dạn chọn đề
tài: Quản lý tiêu thụ sản phẩm ở công ty máy tính Nguyên Ngọc làm
báo cáo chuyên đề thực tập của mình
Báo cáo này được thực hiện trên cơ sở nhận thức và từ tình hình
kinh doanh của Công ty máy tính Nguyên Ngọc. Đồng thời kết hợp
những kiến thức đã được đào tạo ở nhà trường, cùng với sự giúp đỡ
Công ty máy tính Nguyên Ngọc và nhất là sự giúp đỡ tận tình của cô
giáo Nguyễn Lệ Thúy do đó em đã hoàn thành báo cáo này.
Báo cáo gồm 3 phần:
Ch ương I : Cơ sở lý luận về quản lý tiêu thụ sản phẩm
Ch ương II : Quản lý tiêu thụ sản phẩm ở Công ty máy tính Nguyên
Ngọc
Ch ương III : Một số biện pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tiêu
thụ tại Công ty máy tính Nguyên Ngọc
SV: Nguyễn Thành Trinh - Lớp: QLKT 46A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ch ương I :
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TIÊU THỤ
SẢN PHẨM
1.1
Tiêu thụ sản phẩm và vai trò của tiêu thụ sản phẩm
1.1.1 Khái niệm
1
mua được thực hiện. Về nguyên tắc kết thúc tiêu thụ sản phẩm thì người bán
phải thu được tiền bán sản phẩm đó.
Đứng trên góc độ luân chuyển vốn thì tiêu thụ sản phẩm là một quá
trình chuyển hoá vốn từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ làm cho vốn
trở lại hình thái ban đầu khi nó bước vào chu kỳ kinh doanh tiếp theo.
Thực chất của quá trình tiêu thụ sản phẩm là sự vận động đồng thời của
vật tư và tiền vốn, chỉ khi nào diễn ra đồng thời của cả vật tư và tiền vốn thì
mới kết luận rằng hàng hoá được thực hiện gía trị và giá trị sử dụng. Do vậy
trong thực tế, tiêu thụ sản phẩm bao gồm hai quá trình chính là xuất giao hàng
cho khách và thanh toán tiền hàng.
Thanh toán tiền hàng là quá trình rất quan trọng quyết định sự hoàn
thành hay không của công tác tiêu thụ sản phẩm. Thời điểm thanh toán càng
nhanh bao nhiêu càng có lợi cho doanh nghiệp bấy nhiêu. Quá trình thanh
toán này là cơ sở để doanh nghiệp có thể xác định đợc kết quả bán ra, đồng
thời giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp biết đợc tình hình hoạt động kinh
doanh để đa ra quyết định tiếp tục hay chuyển hướng kinh doanh.
Thanh toán tiền hàng diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau như:
Thanh toán tiền mặt, bằng séc, chuyển khoản, hàng đổi hàng ... tại các thời
điểm khác nhau: Thanh toán ngay, thanh toán sau một vài ngày, sau một
tháng, hai tháng...
Hàng hoá được xác định là tiêu thụ trong thực tế thường quy định như sau:
Bán hàng trực tiếp thu tiền hàng.
Xuát hàng cho khách và được chấp nhận thanh toán.
SV: Nguyễn Thành Trinh - Lớp: QLKT 46A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm có thể xảy ra trong các trường hợp sau:
Th1: Việc xuất giao và thanh toán tiền hàng diễn ra đồng thời. Khi đó
lượng hàng hoá được xác định ngay là tiêu thụ và đồng thời doanh nghiệp
cũng nhận được tiền hàng do đơn vị mua thanh toán.
gắng của mình để hoạt động tiêu thụ được tổ chức một cách hợp lý và
đem lại lợi nhuận cao nhất.
1.1.3 Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
a. Đối với doanh nghiệp
Trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn ngự trị tuyệt đối của bán hàng
việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa luôn là vấn đề được quan tâm hàng
đầu của các doanh nghiệp. Có đảm bảo được hoạt động tiêu thụ doanh
nghiệp mới đạt được mục tiêu cuối cùng là thu được lợi nhuận từ đó cơ
sở tích lũy và tái sản xuất mở rộng quyết định sự tồn tại của doanh
nghiệp trên thị trường.
Tiêu thụ hàng hóa giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển và
mở rộng thị trường, duy trì mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng.
Để có thể phát triển thì doanh nghiệp phải tiêu thụ được ngày
càng nhiều sản phẩm, không những chỉ bán được ở thị trường hiện tại
mà còn phải tìm cách mở rộng thị trường, tìm kiếm, xâm nhập thị
trường mới, ở đây công tác tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò rất lớn.
Trước hết doanh nghiệp phải giữ được khách hàng rồi mới tính đến
việc mở rộng thị trường do đó cần phải cải thiện mối quan hệ giữa
doanh nghiệp và khách hàng. Họ phải tìm hiểu về khách hàng, biết
được khách muốn gì ở doanh nghiệp để có chiến lược kinh doanh phù
hợp tạo niềm tin, uy tín và khả năng tái tạo nhu cầu của con người tiêu
dùng đối với doanh nghiệp
SV: Nguyễn Thành Trinh - Lớp: QLKT 46A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thông qua việc tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp có thể bù được
chi phí hoạt động, giảm thời gian dự trữ hàng hóa,giảm hao hụt, mất
mát...từ đó thực hiện mục tiêu tìm kiếm và tối đa hóa lợi nhuận, tăng
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, giải quyết được các mâu thuẫn
cơ bản trong quá trình kinh doanh và lợi ích cơ bản giữa nhà nước và
b. Công tác lập kế hoạch tiêu thụ.
Thực chất của quá trình này là trên cơ sở của những nghiên cứu về thị
trường, giá cả và mặt hàng kinh doanh công ty lập kế hoạch tiêu thụ nhằm tổ
chức đưa hàng hoá đến tay người tiêu dùng. Các hoạt động cơ bản của quá
trình này bao gồm:
Lập kế hoạch tổ chức, thiết lập các điểm bán tại những nơi có yêu cầu.
Các điểm bán này có thể do công ty tự tổ chức hoặc thuê mua các đơn vị
ngoài. Công ty cần xác định mức cầu ở mỗi khu vực để có kế hoạch dự trữ
hàng hoá một cách hợp lý đảm bảo cho nhu cầu bán trong một thời gian nhất
định.
Lập kế hoạch vận chuyển hàng hoá đến các cửa hàng, tổ chức bốc xếp
hàng hoá một cách hợp lý, xác định phương tiện và hình thức vận chuyển.
Lập kế hoạch mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho quá trình bán hàng,
kế hoạch trưng bày hàng hoá, bán hàng, phương thức thanh toán. Tổ chức lực
lượng đảm nhận công tác bán hàng bao gồm: nhân viên bán hàng trực tiếp ,
giám sát viên và các cán bộ quản lý khác phụ trách hoạt động bán hàng. Phân
công tác cho các đối tượng một cách hợp lý đảm bảo mỗi người thực hiện tốt
nhiệm vụ của mình, có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình tổ chức hoạt động
bán hàng.
Công ty cần lập kế hoạch tiêu thụ hàng hoá. Xây dựng kế hoạch về khối
lượng hàng hoá, cơ cấu mặt hàng theo nhu cầu của từng khu vực. Từ đó xác
định chương trình cụ thể cho từng cửa hàng về khối lượng về cơ cấu mặt hàng
mà nó có thể phục vụ theo nhu cầu của khách hàng. Xác định nhiệm vụ của
công ty trong từng giai đoạn cụ thể.
SV: Nguyễn Thành Trinh - Lớp: QLKT 46A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tóm lại, trong giai đoạn này công ty phải lập kế hoạch một cách chi tiết
cho tất cả các hoạt động nhằm đảm bảo về hàng hoá cho quá trình bán hàng.
Giữa các hoạt động phải có sự liên kết chặt chẽ tránh sai sót.
- Lượng đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng là bao nhiêu. ?
- Khi nào đặt hàng?
e. Giá cả hàng hoá.
Giá cả hàng hoá là một trong những nhân tố hết sức quan nhạy
bén và chủ yếu tác động đến kết quả tiêu thụ hàng hoá của công ty. Giá
cả hàng hoá có thể kích thích hay hạn chế đến cung cầu ( khi giá tăng
thì cần giảm và cung tăng thì cầu giảm) và do đó ảnh hưởng đến tiêu
thụ hàng hoá.
Xác định giá đúng sẽ có khả năng kích thích tiêu thụ hàng hoá và
do đó sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ và thu lợi hay tránh được ứ đọng
hạnchế thu lỗ. Giá cả còn được sử dụng như một công cụ trong cạnh
tranh. Song trong điều kiện hiện tại công cụ chủ yếu vẫn là chất lượng
sản phẩm. Trong cạnh tranh nếu lạm dụng vũ khí giá cả, nhiều trường
hợp “gậy ông đập lưng ông” không những khong thúc đẩy được tiêu thụ
mà còn bị thiệt hai. Vì khi công ty hạ giá bán thì đối thủ cạnh tranh có
thể hạ thấp, thậm chí thấp hơn giá cả hàng hoá thay thế hoặc hàng hoá
cùng loại dẫn đến không thúc đẩy được thu mà lợi nhuận còn bị giảm
xuống. Do đó phải hết sức thận trọng trong cạnh tranh qua giá. Sau nữa
trong định giá bán phải nhận thức được rằng giá cả là một nhân tố thể
hiện chất lượng. Người tiêu dùng đánh giá chất lượng hàng hoá thông
qua giá của nó khi đứng trước những hàng hoá cùng loại hoặc thay thế.
Do đó, đặt giá thấp không phải bao giờ cũng kích thích được tiêu thụ.
f. Xác định vị trí cạnh tranh và đối thủ cạnh tranh.
SV: Nguyễn Thành Trinh - Lớp: QLKT 46A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hiện nay trên thị trường, thị trường vi tính có xu hướng bão hoà.
Chính vì thế làm công ty sử dụng biện pháp bán hàng để tiếp xúc được
với người tiêu dùng. Tiếp xúc, là những khoảng khắc đầu tiên của việc
bán hàng, có tầm quan trọng đáng kể. Người bán cần phải tạo những ấn
sẽ có nhiều chính sách cho việc phát triển hàng hoá của công ty.
- Công ty sẽ có nhiều mặt hàng mới để đáp ứng nhu cầu của
khách hàng. Bên cạnh đó công ty sẽ tìm lại những bạn hàng tiềm năng
của mình. Công ty sẽ đầu tư vào quảng cáo để đem lại lợi nhuận cao và
công ty sẽ mở rộng thêm thị trường miềm Trung để đáp ứng những nhu
cầu của người tiêu dùng. Không những thế, công ty còn đào tạo lại độ
ngũ bán hàng của mình để nâng cao kiến thức trình đô nghiệp vụ, đồng
thời công tác tại chỗ cũng được chú trọng hơn.
- Công ty sẽ bổ sung thêm nguồn vón vào các mặt hàng và đẩy
mạnh phương thức bán buôn, bán lẻ hàng hoá.
1.3
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết qủa và hiệu quả của quản
lý tiêu thụ sản phẩm
3
1.3.1.Chỉ số ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả quản lý tiêu thụ sản
phẩm
Khi tiêu thụ được sản phẩm, các doanh nghiệp sẽ có một khoản tiền thu
bán hàng hay còn gọi là doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
Vậy doanh thu tiêu thụ sản phẩm được xác định theo công thức:
Trong đó:
DT: Doanh thu
tiêu thụ sản phẩm
3
Quản trị doanh nghiệp
SV: Nguyễn Thành Trinh - Lớp: QLKT 46A
n
DT =
n
( S
doanh của doanh nghiệp. Vì vậy trong công tác tiêu thụ sản phẩm các doanh
nghiệp không thể xem nhẹ công việc xác định nội dung của doanh thu tiêu
SV: Nguyễn Thành Trinh - Lớp: QLKT 46A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thụ, đồng thời tuỳ thuộc vào tình hình kinh doanh của đơn vị mà xác định
doanh thu chính xác, phân chia nội dung doanh thu cho phù hợp để thuận tiện
cho việc theo dõi và phản ánh doanh thu của doanh nghiệp.
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng quản lý tiêu thụ sản phẩm
Công tác tiêu thụ sản phẩm chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, trong
đó có một số nhân tố cơ bản sau:
a) Khối lượng sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ:
Với doanh nghiệp thương mại thì khối lượng sản phẩm hàng hoá tiêu
thụ có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Khối lượng sản
phẩm hàng hoá càng bán nhiều bao nhiêu thì doanh thu tiêu thụ sản phẩm
càng cao bấy nhiêu, tuy nhiên sản phẩm còn phải đáp ứng một số yêu cầu của
thị trường về giá cả, chất lượng, kiểu dáng....
b) Chất lượng sản phẩm:
Ngày nay do nhu cầu thị trường ngày càng cao nên mỗi sản phẩm đa ra
thị trờng phải đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và chất lượng sản phẩm luôn
là mục tiêu đặt lên hàng đầu.
c) Giá cả sản phẩm:
Giá cả là biều hiện bằng tiền cuả giá trị hàng hoá và giá cả xoay quanh
giá trị. Giá cả phải linh hoạt mới đem lại cho doanh nghiệp lợng doanh thu
cao. Tuy nhiên, để có mức gía phù hợp thì doanh nghiệp cần phải tiến hành
nghiên cứu thị trường, cung cầu thị trường, doanh nghiệp phải tự tính toán
cân nhắc sao cho giá bán của sản phẩm phải bù đắp đọc chi phí bỏ ra nh: chí
phí vận chuyển, bảo hành, tiền lơng, đảm bảo có lãi cho doanh nghiệp.
d) Công tác tổ chức bán hàng của doanh nghiệp.
Công tác tổ chức bán hàng bao gồm nhiều mặt:
2.1.1
Quá trình hình thành và phát triển:
Được thành lập năm 2001 với số vốn ban đầu là 255 triệu VNĐ. Vào thời
điểm đó Công ty là một trong những nhà cung cấp duy nhất máy tính xách tay
và các linh kiện trên thị trường Việt Nam. Trải qua một quá trình hoạt động
và phát triển Công ty đã ngày một lớn mạnh và chứng tỏ được sự phát triển
bền vững trong những giai đoạn đầy khó khăn trên thị trường quốc tế và ở
Việt Nam. Kể từ khi thành lập đến nay Công ty đã có những thành tích rất
đáng khích lệ trong thị trường máy tính ở Việt Nam và đã xây dựng được
những mối quan hệ chặt chẽ với các khách hàng, các nhà sản xuất và các bạn
hàng trên thị trường trong và ngoài nước. Với một quá trình ra đời và phát
triển lâu đời, kế thừa những kinh nghiệm trong quá trình hoạt động và với một
đội ngũ nhân viên có trình độ, năng lực Công ty đã tự khẳng định mình và dần
trở thành một đơn vị kinh doanh có hiệu quả trong việc cung cấp các máy tính
xách tay và các thiết bị máy tính trên thị trường Việt Nam.
2.1.2.
Môi trường kinh doanh
* Môi trường kinh tế vĩ mô:
Mặt hàng máy tính xách tay nói riêng tại thời điểm hiện nay rất phong phú
và đa dạng với nhiều chủng loại, mẫu mã và xuất xứ. Thêm vào đó là tình
hình cạnh tranh gay gắt của rất nhiều công ty, doanh nghiệp trên thị trường
cho nên có thể nói rằng việc khai thác và kinh doanh mặt hàng này của công
ty còn rất nhiều thách thức đang chờ đợi ở phía trước. Bên cạnh đó, theo xu
SV: Nguyễn Thành Trinh - Lớp: QLKT 46A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hướng hội nhập và toàn cầu hoá Việt Nam cũng không thể nằm ngoài dòng
vận động chung này, việc các công ty nước ngoài với kinh nghiệm và tiềm lực
dồi dào đầu tư và kinh doanh tại thị trường nước ta sẽ là cơ hội và trở ngại
không chỉ riêng đối với công ty TNHH Nguyên Ngọc
máy móc, thiết bị phục vụ cho công việc văn phòng là rất cần thiết và là một
nhu cầu thiết yếu. Việc ghi chép sổ sách, lưu trữ tài liệu, vẽ thiết kế xây dung,
tính toán số liệu, lập chương trình cho các phương tiện tự động... đã có thể
thực hiện hoàn toàng trên máy, tiết kiệm đựoc khá nhiều công sức lao động và
tiền của cho các doanh nghiệp. Việc tổ chức khai thác, cung ứng máy móc và
linh kiện cần được tổ chức tốt. Một thuận lợi có thể thấy rõ từ phía công ty đó
là nguồn lao động dồi dào, có tri thức và trình độ cũng như niềm đam mê,
hăng say trong công việc.
c. Môi trường văn hoá, xã hội:
Việt Nam ta được xem như một quốc gia có nền văn hoá đậm đà bản sắc dân
tộc nhưng cũng rất tân tiến, ngay từ những ngày đầu thành lập, xây dung và
bảo vệ tổ quốc Việt Nam, Đảng và nhà nước ta đã xác định hội nhập, mở cửa
thông thương với các quốc gia trên thế giới là điều thiết yếu để đưa đất nước
sánh vai cùng các cường quốc năm Châu. Thêm vào đó con người Việt Nam
vốn hiếu khách, ham học hỏi, nhanh nhẹn trong công việc cũng như trong
khắc phục vượt qua những trở ngại, khó khăn. Đây sẽ là những điều kiện tốt
để công nghệ mới và kỹ thuật mới có điều kiện phổ rộng tại đất nước chúng
ta.
d. Đặc thù môi trường kinh doanh của công ty:
Như trên đã đề cập, đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập việc sử
dụng và thay thế các máy móc, thiết bị phục vụ cho công việc văn phòng là
rất cần thiết và là một nhu cầu thiết yếu, do đó khách hàng của công ty không
chỉ gói gọn trong nội bộ một số doanh nghiệp hay công ty mà là tất cả những
khách hàng có nhu cầu sử dụng và thay thế phục vụ cho nhu cầu công việc.
SV: Nguyễn Thành Trinh - Lớp: QLKT 46A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Về thị trường mục tiêu, cũng giống như bất kỳ một công ty nào thì để hoạt
động có hiệu quả và xuyên suốt cần có một mục tiêu cụ thể, và mục tiêu đó
phải phù hợp với điều kiện của từng công ty. Với Nguyên Ngọc cũng vậy,
vào phía nhà cung cấp.
Hệ thống phân phối hiện tại của công ty, có thể xem là khai thác khá hiệu quả,
tăng cường được khả năng cạnh tranh, việc mở rộng quan hệ với các bạn hàng
mới, các trung gian sẽ là điều kiện thuận lợi để công ty thâm nhập sâu hơn
vào thị trường. Tuy vậy công ty cũng chưa chú trọng tới việc tăng cường quan
hệ với các nhà cung cấp thông tin, các phương tiện truyền thông, đây là điểm
cần được xem xét
* Môi trường hoạt động kinh doanh bên trong của công ty.
Môi trường kinh doanh bên trong của doanh nghiệp được hiểu là nền văn
hoá của tổ chức doanh ngiệp được hình thành và phát triển với quá trình vận
hành doanh nghiệp từ góc độ kinh doanh, cần đặc biệt chú ý tới triết lý kinh
doanh, các tập quán, các thói quen, các truyền thống, các phong cách sinh
hoạt, các nghệ thuật ứng xử, các lễ nghi được duy trì trong doanh nghiệp.
Môi trường kinh doanh bên trong của công ty Nguyên Ngọc là tổng hợp
các yếu tố tự nhiên, tổ chức và kĩ thuật... các tác động và các mối liên hệ bên
trong, bên ngoài có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của công ty. Công ty
có một vị trí địa lí thuận lợi cho việc kinh doanh, giao thông thuận lợi, dễ đi
lại, thuộc khu vực trung tâm thành phố. Bên cạnh đó, trong điều kiện kinh tế
mở càng tạo điều kiện cho công ty phát huy được vai trò tự chủ của mình, dễ
dàng thiết lập các mối quan hệ với nhiều thành phần kinh tế tạo lối đi riêng
cho mình. Trong điều kiện sống mới này hội chợ Thương mại, hội chợ tiêu
dùng thường xuyên được tổ chức cùng ... là những yếu tố làm doanh số bán ra
của công ty tăng lên, Công ty đã tạo cho người lao động tự giác, có quyền
kinh doanh, chủ động sáng tạo trong tổ chức kinh doanh, thậm chí tự mua, tự
SV: Nguyễn Thành Trinh - Lớp: QLKT 46A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bán, tự kinh doanh sao cho đúng pháp luật. Hình thức khoán hiệu quả kinh
doanh đến tổ, nhóm người lao động được đại đa số nhân viên phấn khởi, tạo
sự thoải mái giúp họ có trách nhiệm hơn trong công việc của mình. Công ty
_ Phòng tài chính kế toán: Ghi chép phản ánh toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh trong đơn vị, giám đốc tình hình tài chính của công ty cũng
như việc sử dụng có hiệu quả tiền vốn, lao động, vật tư, giám sát việc chấp
hành chế độ hạch toán, các chỉ tiêu kinh tế tài chính theo quy định của pháp
luật, lập báo cáo tổng hợp, xác định kết quả tiêu thụ, kết quả tài chính và hiệu
quả kinh doanh của công ty.
_ Phòng kinh doanh: Tổ chức phân phối, tìm kiếm khách hàng, thực
hiện các chế độ ghi chép ban đầu, thực hiện chế độ thông tin báo cáo, tiếp thị
và cung ứng trực tiếp hàng hoá cho mọi đối tượng, quản lý tiền, hàng, cơ sở
vật chất do công ty giao.
_ Phòng kỹ thuật: chịu trách nhiệm lắp đặt thiết bị, sữa chữa các sự cố
về thiết bị cho khách. Các công ty ở Hà Nội và Sài Gòn : Là đơn vị trực
thuộc, kinh doanh theo ngành hàng được phân công. Thực hiện các chế độ ghi
chép ban đầu, thực hiện chế độ thông tin báo cáo, tiếp thị và cung ứng trực
tiếp hàng hoá cho mọi đối tượng, quản lý tiền, hàng cơ sở vật chất do công ty
giao.
- Kho: Chịu trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ và sắp xếp từng loại hàng hóa
cho đúng yêu cầu xuất nhập kho
2.1.4.
Quản lý tài chính nhân lực và đào tạo lao động của công
ty
a.khả năng tài chính:
Nguyên Ngọc là một công ty TNHH, một doanh nghiệp nhỏ, qui mô
nhỏ nên nguồn vốn rất hạn hẹp. Từ trước năm 2005, vân đè này luôn làm các
nhà quản lý tại công ty vất vả, và công ty đã phải nợ nhiều nơi với số tiền khá
SV: Nguyễn Thành Trinh - Lớp: QLKT 46A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lớn. Tuy vậy, từ năm 2005trở lại đây do có sự quan hệ và lượng vốn huy động
khong cần phải nhiều nên trong các thương vụ, công ty không cần phải đi vay