Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Đinh Nguyễn - Pdf 11

-1-
LỜI NÓI ĐẦU
1.Lý do và bối cảnh của đề tài:
Một yếu tố không thể thiếu trong sản xuất kinh doanh đó là vốn. Vốn là yếu tố
sản xuất đầu tiên của mỗi doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một nhiệm
vụ trung tâm của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Việc hình thành một cơ cấu
vốn hợp lý, sử dụng tiết kiệm và tăng nhanh tốc độ luân chuyển của v
ốn là góp phần
gia tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.[2]
Đặc biệt, trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam, những doanh nghiệp mới
thành lập với quy mô vừa hoặc nhỏ đang phải đối mặt những thử thách để giành lấy
chỗ đứng , làm cơ sở cho sự phát triển lớn mạnh sau này. Muốn vậy doanh nghiệp phải
huy động và sử
dụng vốn có hiệu quả. Đây thực sự là vấn đề khó khăn và phức tạp đối với
các doanh nghiệp thương mại mới thành lập .[8]
Mặt khác,trong cuộc khủng khoảng tài chính năm 2009 ,hàng loạt doanh nghiệp
bị phá sản bởi những khuyết điểm đã tồn tại trong chính các doanh nghiệp như vốn
chủ yếu vay ngân hàng, sức cạnh tranh yếu ,công nghệ chưa đổi mới , trình
độ quản lý
chưa chuyên nghiêp, Để khắc phục những khuyết điểm đó thì vấn đề đặt ra đối với
các doanh nghiệp là làm thế nào để sử dụng có hiệu quả nhất nguồn vốn của mình?
Công ty TNHH ĐINH NGUYỄN không phải là ngoại lệ , công ty cũng đang đứng
trước những thách thức của nền kinh tế thị trường .Nên vấn đề đặt ra đối với lãnh đạ
o
Công ty là cần phải làm gì để giải quyết được những vấn đề trên nhằm đưa doanh
nghiệp thắng trong cạnh tranh và ngày càng phát triển bền vững.[9]
Đứng trước những thách thức đó, sau một quá trình thực tập tại công ty TNHH
Đinh Nguyễn , cùng với sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Văn Tân, các cô, chú và các
anh, chị trong công ty nên em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả s
ử dụng vốn tại Công ty TNHH Đinh Nguyễn ”. Em hy vọng rằng, với bài

phần của công ty đã được mở rộng
Những tồn tại :
Hiệu quả sử dụng vốn của công ty là chưa cao

Chi phí sửa chữa chưa được quản lý chặt chẽ và chưa có định mức cụ thể, bởi
vậy chưa đánh gi

Trong việc tổ chức và quản lý sử dụng tài sản cố định, mặc dù có kế hoạch sửa
chữa định kì nhưng vẫn chưa thực hiện tốt trong thực tế, chưa xác định được hiệu quả
của công tác sửa chữa đối với từng loại tài sản cố định cụ thể.
4.Dự kiến nghiên cứu tiếp tục
Vì thời gian nghiên cứu ngắn, nên
đề tài chắc chắn không thể tránh khỏi nhiều
thiếu sót, tác giả rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô. Nếu có cơ hội nghiên
cứu tiếp tục, tác giả mong muốn đi sâu nghiên cứu hơn nữa về vấn đề huy động vốn
cho công ty TNHH Đinh Nguyễn
-3-
5. Kết cấu bài nghiên cứu
Ngoài lời nói đầu và kết luận đề tài được chia làm 4 chương như sau:
Chương 1:Tổng quan đề tài .
Chương 2:Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường .
Chương 3:Phân tích thực trạng tình hình kinh doanh và quản lý vốn công ty TNHH
Đinh Nguyễn .
Chương 4 :Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở
công ty TNHH
Đinh Nguyễn .

- Những điểm chưa thực hiện được của đề tài: đề tài tiến hành hoạch định chiến
lược cho công ty công trình giao thông 208 .Đây là công ty lớn thuộc sự sở hữu của
nhà nước .Khác với đề tài tác giả thực hiện tại công ty TNHH Đinh Nguyễn là công ty
mới thành lập và không trực thuộc nhà nước .[9]
Nghiên cứu ở nước ngoài :
Về mặt kinh t
ế học tài chính có rất nhiều phân tích, nghiên cứu các quyết định
về vốn. Tuy nhiên, các lý thuyết này cung cấp không nhiều các chỉ dẫn thực hành cụ
thể. Không giống như sự chính xác được Black và Scholes trình bày trong mô hình
định giá quyền chọn (1973) và các ứng dụng của mô hình này, các lý thuyết về vốn có
độ sai lệch cao. Chính điều này đã hạn chế khả năng vận dụng kết quả nghiên cứu lý
thuyết vốn vào các quyết định của doanh nghi
ệp.[7]
Sự phát triển lý thuyết về vốn ghi nhận hai kết quả nghiên cứu có đóng góp
quan trọng. Luận điểm của Modigliani và Miller (thường được viết tắt là M-M), 1958
và 1963, cho rằng với các quyết định đầu tư nhất quán, các đối tác có quyền lợi liên
quan nhưng không nằm trong doanh nghiệp phải đại diện cho vốn có tác động tới giá
trị doanh nghiệp. Dư nợ tối ưu của doanh nghiệp cầ
n cân bằng khoản thuế được giảm
trừ nhờ việc thanh toán lãi vay với chi phí ngoại sinh của khả năng vỡ nợ. [7]
Luận điểm của Jensen và Meckling (thường viết tắt là J-M), 1976, xem xét lại
mô hình M-M với giả định các quyết định đầu tư độc lập với vốn. Ví dụ, cổ đông của
một doanh nghiệp có vay nợ có thể bòn rút giá trị từ các chủ nợ bằng việc làm t
ăng rủi
ro đầu tư sau khi đã nhận được các khoản vay. Đây là vấn đề “tài sản thay thế”. Hành
vi lợi dụng này tạo ra các chi phí đại diện (agency costs). Vốn của doanh nghiệp cần
nhận diện và kiểm soát tốt các chi phí này.[7]
-5-
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, lý thuyết và thực nghiệm, được thực
hiện dựa trên hai luận điểm trên nhưng với cả giới học thuật và những người vận dụng

cấu trúc vốn tối ưu. Leland (1994), Leland và Toft (1996) quan tâm tới cấu trúc vốn
tĩnh tối ưu. Nhưng giả thiết về cấu trúc vốn tĩnh chính là hạn chế của họ. Doanh
nghiệp có thể thực hiện tái cấu trúc nghĩa vụ tài chính theo thời gian.[7]
Dựa trên các kết quả của Kane, Marcus và McDonald (1984), Fischer, Heinkel
và Zechner (1989), Wiggins (1990), Goldstein, Ju và Leland (1997) đã phát triển giải
-6-
pháp gần với thực tế hơn trong định giá khoản nợ của doanh nghiệp với điều kiện
khoản nợ có thể được tái cấu trúc linh hoạt. Các công trình này vẫn tiếp tục giả thiết
trong mô hình M-M rằng dòng tiền của doanh nghiệp không thay đổi theo lựa chọn
vay nợ. Quan điểm của mô hình J-M cho rằng lựa chọn rủi ro của doanh nghiệp có thể
phụ thuộc vào cấu trúc vốn bị
bỏ qua trong phương pháp này.[7]
Một dòng nghiên cứu khác, cũng sử dụng các kỹ thuật tính toán định giá, xem
xét các phản hồi tiềm năng giữa quyết định đầu tư/sản xuất và cấu trúc vốn. Brennan
và Schwartz (1984) giới thiệu một công thức tổng quát cho bài toán này, nhưng các kết
quả tổng quát từ công thức này rất hạn chế. Trong điều kiện cụ thể hơn, Mello và
Parson (1992) mở rộng mô hình của Brennan và Schwartz cho một công ty khai mỏ
để
so sánh quyết định sản xuất trong trường hợp có vay nợ và không có vay nợ. Mauer và
Triantis (1994) phân tích tương tác giữa quyết định sản xuất và quyết định nguồn tài
trợ khi các điều khoản nợ hạn chế khả năng tối đa giá trị doanh nghiệp. Các ràng buộc
này, theo giả định, sẽ loại bỏ xung đột có thể có giữa cổ đông và những người nắm giữ
trái phiếu củ
a doanh nghiệp. [7]
Từ những nghiên cứu trên , ta có thể thấy được tấm quan trong của vốn .Đề tài về
vốn rất rộng . Trong báo cáo nghiên cứu này, tác giả chỉ đi sâu phân tích những thay
đổi và khó khăn tác động đến hoạt động sử dụng vốn khi thị trường tài chính Việt Nam
đón nhận nhiều tác động của chính sách điều hành kinh tế vĩ mô, cũng như từ cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nh
ững tồn tại và khó khăn đã hạn chế công tác vay

ương pháp mô tả tình hình hoạt động, khả năng cạnh tranh trong hoạt động
sử dụng vốn DN của công ty trong ba năm vừa qua.
+ Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích những
số liệu về kết quả hoạt động kinh doanh.
+ Phương pháp nghiên cứu khảo sát thị trường : Báo cáo nghiên cứu khoa học
có sử dụng phương pháp đi thực tế tại các công trình , quan sát quá trình tiến hành
công trình ,quá trình nhận và bảo quản vật liệu . -8-
CHƯƠNG 2
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

2.1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI VỐN TRONG DOANH NGHIỆP:
2.1.1.Khái niệm và chu trình vận động của vốn trong doanh nghiệp
2.1.1.1. Khái niệm về vốn trong sản xuất.
Vốn là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính, nó gắn liền với nền sản
xuất hàng hoá. Vốn là tiền huy động vào sản xuất nhằm mục đích sinh lợi, hay nói
cách khác, tiền chỉ là vốn khi được đưa vào trong sản xuất lưu thông.
[2-trang258]
Vai trò vốn sản xuất trong doanh nghiệp thực hiện yêu cầu của cơ chế hạch toán
kinh doanh, tức là quán triệt quan điểm tiết kiệm và hiệu quả sử dụng vốn trên cơ sở tự
chủ kinh tế và tài chính. Yêu cầu tiết kiệm nói nên tính hợp lý, tính đúng mức trong
việc sử dụng vốn với một lượng vốn nhất định với mục đích đạt được mộ
t mức lợi
nhuận hoặc doanh thu cao hơn. Hiệu quả kinh tế cuối cùng thể hiện ở số lợi nhuận thu
được. Điều đó phụ thuộc vào vấn đề sản xuất vốn có hợp lý hay không, có tiết kiệm
chi phí và tăng dự trữ hay không để đạt được mục đích nâng cao số vòng quay của
vốn.

hàng
hoá
Tiền
(Nguồn :Sách nhập môn tài chính tiền tệ – TS.Võ Thị Minh Hằng)[2]
Sơ đồ 1.1: Quy trình vận động của vốn trong doanh nghiệp
Có thể thấy rất nhiều hình thức khác nhau để tiền trở thành tiền (T - T’). Tiền là
hình thức biểu hiện đầu tiên của vốn đầu tư cho bất kỳ một nhà doanh nghiệp nào
muốn khởi sự và phát triển kinh doanh. Quá trình đó đang diễn ra hàng ngày trên khắp
thế giới. Khi mới xuấ
t hiện lần đầu tiên như thị trường hàng hoá, thị trường tiền tệ, thị
trường chất xám thì vốn đầu tư bao giờ cũng xuất hiện dưới dạng cụ thể, số tiền này
phải được chuyển hoá thành vốn đầu tư
Tiền với tư cách là tiền và Tiền với tư cách là vốn đầu tư khác nhau về cách
thức sử dụng trong việc mua bán những nguyên v
ật liệu nhất định. Cũng là một đồng
tiền nhưng nếu chúng ta đem ra thị trường để mua bán những nguyên vật liệu phục vụ
sinh hoạt hàng ngày thì đồng tiền đó đớn thuần chỉ làm vai trò lưu thông mà thôi.
Nhưng nếu chúng ta đem số tiền đó để mua những thứ nguyên vật liệu phục vụ việc
thực hiện hiện một quá trình kinh doanh các công ty hay mở một cơ sở
kinh doanh .
Điều quan trọng với một nhà doanh nghiệp là phải sử dụng những nguyên vật
liệu sao cho có hiệu quả nhất và dưới sự tác động của công cụ lao động và sức lao
động sau chu trình sản xuất thứ nhất thì tạo ra hàng hóa .Như vậy, nếu lưu thông hàng
hóa , người bán một thứ hàng hoá này để lấy tiền .Quy trình vận động này diễn ra tiếp
tuc trở thành một vòng khép kín.(T – T’).
[10]
-10-
2.1.2.Phân loại vốn trong doanh nghiệp:
Có nhiều cách phân loại vốn trong doanh nghiệp. Dựa vào vào những căn cứ
khác nhau chúng ta có những phân loại sau:

2.1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm vốn cố định
Vốn cố định là một bộ phận của nguồn vốn sản xuất kinh doanh, làm
hình thái giá trị của tài sản cố định đang phát huy tác dụng trong sản xuất của doanh
nghiệp. Vốn cố định dữ một vai trò hết sức quan trọng trong qúa trình hình thành sản
xuất, nó quyết định trình độ kỹ
thuật của công nghệ sử dụng trong doanh nghiệp trình
độ cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, do đó là cơ sở cho việc áp dụng những thành tựu
khoa học tiên tiến vào sản xuất mở rộng và không ngừng nâng cao chất lượng đời sống
của cán bộ công nhân viên. Tuỳ theo đặc điểm kinh tế mỗi nghành, khả năng tài chính
-11-
của từng doanh nghiệp sản xuất mà mỗi doanh nghiệp cần có kế hoạch đúng đắn cho
việc đầu tư mua sắm trang thiết bị máy móc và đảm bảo hiệu quả cao trong việc sử
dụng vốn cố định cho sản xuất.
[2-trang 117]

Theo quy định hiện nay thì những tài sản của doanh nghiệp có giá trị lớn hơn 10
triệu đồng và thời gian sử dụng lớn hơn một năm thì được xếp vào loại tài sản cố định.
Tài sản cố định không chuyển một lần toàn bộ giá trị của nó vào sản phẩm mà đóng
góp trong nhiều chu kỳ sản xuất.
2.1.2.1.2.Cơ cấu vốn cố định :
Việc nghiên cứu cơ
cấu vốn cố định có ý nghĩa hết sức quan trọng trong qúa
trình quản lý và sử dụng vốn cố định. Khi nghiên cứu cơ cấu vốn cố định phải nghiên
cứu trên hai giác độ là nội dung kế hoạch và tỷ trọng từng loại. Vấn đề cơ bản là phải
xây dựng được một cơ cấu hợp lý phù hợp với tình hình cụ thể của doanh nghiệp, về
m
ặt kinh tế kỹ thuật trình độ quản lý các nguồn vốn trong doanh nghiệp.
Cần nhận thức cơ cấu vốn cố định trong doanh nghiệp chỉ là một yếu tố động và
thay đổi theo không gian và thời gian. Nhà quản lý vốn phải xác định được cơ cấu hợp
lý trong từng thời kỳ.

chỗ tài s
ản cố định mất dần giá trị sử dụng do tác động của các điều kiện tự nhiên. Các
nhân tố ảnh hưởng tới hao mòn hữu hình: Gồm 3 nhóm nhân tố sau:
- Nhóm nhân tố thuộc chất lượng tài sản cố định; vật liệu chế tạo, công nghệ chế
tạo, chất lượng xây dựng và lắp đặt tài sản cố định đó.
- Nhóm nhân tố trong qúa trình sử dụng: Thời gian và cườ
ng độ sử dụng trong
sản xuất, tay nghề công nhân, chế độ bảo dưỡng sửa chữa.
- Nhóm nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên; độ ẩm, nhiệt độ
+ Hao mòn vô hình tài sản cố định: Là việc tài sản cố định bị giảm giá trị do
năng suất lao động xã hội tăng lên. Người ta sản xuất ra loại tài sản cố định có chất
lượng như cũ
, thậm chí tốt hơn với giá thành hạ hơn. Tài sản cố định bị giảm giá do kỹ
thuật ngày càng tiến bộ hơn.
Trong qúa trình sử dụng tài sản cố định các doanh nghiệp công nghiệp cần
nghiên cứu để tìm ra những biện pháp, nhằm giảm tối đa tổn thất do hao mòn vô hình
gây ra như: nâng cao trình độ sử dụng tài sản cố định cả về thời gian và cường độ đẩy
nhanh việ
c cải tiến và hiện đại hoá máy móc thiết bị, tổ chức tốt công tác bảo quản và
sửa chữa máy móc thiết bị.
Khấu hao tài sản cố định: trong qúa trình tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất
hình thái vật chất của tài sản cố định không thay đổi nhưng giá trị hao mòn dần và
chuyển từng phần vào sản phẩm. Phần giá trị này thu hồi dưới hình thức khấu hao và
hạch toán dần vào giá thành sả
n phẩm.
[4
Bản chất kinh tế của khấu hao tài sản tài sản cố định trong qúa trình sử dụng là
sự mất dần giá trị tài sản cố định, phần giá trị này được bù đắp bằng sự chuyển dịch
từng phần vào giá trị của sản phẩm.
-13-

một bộ phận quan trọng của kế hoạch tài chính doanh nghiệp. Kế hoạch khấu hao tài
sản c
ố định phản ánh các chỉ tiêu về giá trị tài sản cố định như: Tổng nguyên giá tài
sản cố định đầu kỳ, tình hình tăng giảm tài sản cố định trong kỳ, giá trị tổng tài sản cố
định cần tính khấu hao trong kỳ và tỷ lệ khấu hao, phương hướng sử dụng quỹ khấu
hao. Theo quy định số 517/TTg ngày 21/10/1995, kế hoạch khấu hao tài sản cố định
gồm:
-14-
+ Tài sản cố định không phải tính khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn (đất
đai).
+ Tài sản cố định tăng thêm trong năm kế hoạch. Tài sản cố định tăng trong
tháng thì tháng sau mới tính khấu hao.
Ví dụ: Một ôtô mua vào giữa tháng 6 và đưa vào sử dụng ngay thì tính khấu
hao từ tháng 7.
+Tài sản cố định giảm đi trong năm kế hoạch. Tài sản cố định giảm
đi trong
tháng thì tháng sau mới tính khấu hao.
Ví dụ: Một thiết bị thanh lý vào giữa tháng 1 thì tháng 1 vẫn tính khấu hao thiết
bị này và thôi tính khấu hao vào tháng 2.
Tổng nguyên giá bình quân tài sản cố định phải tính khấu hao trong năm: được
tính theo công thức:
Tổng nguyên giá
bình quân tài sản cố
định phải tính khấu
hao trong kỳ
=
Nguyên giá
bình quân
tài sản cố
định đầu kỳ

+ Bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị: trong điều kiện có sự biến động về giá,
các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của nhà nước về việc điều
chỉnh nguyên giá tài sản cố định, vốn cố định theo các hệ số tính lại do các cơ quan có
thẩm quyền ban hành nhằm bảo đảm giá trị tài sản cố định.
Số vố
n cố định doanh nghiệp phải bảo toàn cuối kỳ được xác định theo công
thức sau:
Số vốn cố
định phải
bảo toàn
=
Số vốn cố
định được
giao trong
kỳ
-
Khấu
hao cơ
bản trích
trong kỳ
x
Hệ số điều
chuyển giá
trị phần
vốn cố định
+
Tăng giảm
vốn cố
định trong
kỳ

2.1.2.2.2. Cơ cấu của vốn l
ưu động:
Cơ cấu vốn lưu động là tỷ lệ giữa các bộ phận cấu thành vốn lưu động và mối
quan hệ giữa các bộ phận ấy. Tỷ lệ giữa các bộ phận trong tổng và số vốn lưu động
hợp lý.
Xác định chính xác cơ cấu của vốn lưu động có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong việc nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động. Việc xác định được cơ cấu vốn
lưu động hợp lý sẽ đảm bảo cho việc đáp ứng yêu cầu về vốn lưu động ở từng bộ phận
từng khâu một cách tốt nhất do đó sẽ đảm bảo việc sử dụng hợp lý vốn lưu động.
 Căn cứ vào qúa trình tuần hoàn lưu chuyể
n, vốn lưu động được chia làm
ba loại:
+ Vốn lưu động trong khâu dự trữ: Là vốn lưu động được dùng để mua nguyên
vật liệu, công cụ dụng cụ dự trữ cho sản xuất.
+ Vốn lưu động trong sản xuất: Là vốn lưu động trực tiếp phục vụ sản xuất, là
hình thái giá trị của sản phẩm dở dang, bán thành phẩm.
+
Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Là bộ phận vốn lưu động phục vụ cho
giai đoạn tiêu thụ sản phẩm và giá trị thành phẩm trong kho, hàng gửi bán
 Căn cứ nguồn huy động, vốn lưu động được chia như sau:
+ Vốn lưu động do ngân sách cấp: Là vốn lưu động doanh nghiệp được nhà nước giao
quyền sử dụng.
+ Vốn lưu động tự
bổ sung: Là vốn lưu động mà doanh nghiệp tự bổ sung từ lợi
nhuận của doanh nghiệp.
+ Vốn liên doanh: Là vốn mà doanh nghiệp liên doanh với các đơn vị khác,
bằng tiền mặt hay bằng hiện vật.
+ Vốn tín dụng: Là vốn vay của ngân hàng, bạn hàng
+ Vốn vay từ các nguồn khác.

Đối nguyên vật liệu nhập khẩu thì định mức số ngày dự trữ được cơ quan cấp
trên quy định:
Đối nguyên vật liệu mua trong nước, ta có thể áp dụng công thức sau:

Định mức
số ngày
dự trữ
=
Số ngày
cách nhau
giữa hai
lần mua
x
Hệ số
thu mua
xen kẽ
+
S
ố ngày
vận
chuyển
+
Số ngày
chỉnh lý
chuẩn
bị
+
Số
ngày
bảo


Vốn lưu động định mức cho bán thành phẩm tự chế được xác định theo công
thức sau:
Vốn lưu động
định mức cho
bán thành
phẩm tự chế
=
Mức luân
chuyển của
thành phẩm
theo giá thành
công xưở
ng
: 360 x
Định mức
số ngày dự
trữ
x
Hệ số
thành
phẩm
tự chế

Vốn lưu động định mức cho chi phí chờ phân bổ được tính như sau:
Vốn lưu động
định mức chi
phí chờ phân
bổ
=

dự trữ thành
phẩm

Đối với hàng hoá mua ngoài phục vụ cho khâu tiêu thụ:

Định mức vốn lưu
động cho hàng hoá
mua ngoài phục vụ
cho tiêu thụ
=
∑ giá trị hàng
hoá mua cả
năm phục vụ
tiêu thụ
: 360 x
Định mức s

ngày dự trữ
hàng hoá mua
ngoài

Trong ba bộ phận trên thì vốn lưu động trong khâu sản xuất có vai trò quan
trọng nhất trong cơ cấu vốn lưu động. Do vậy doanh nghiệp phải có biện pháp quản lý
tốt vốn lưu động ở khâu này và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
ở khâu sản xuất.
Hai là:
Lập kế hoạch nguồn vốn lưu động định mức.
Vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như
từ ngân sách, vốn chiếm dụng. Vốn lưu động định mức mức năm kế hoạch được xác
định căn cứ vào tình hình thực tế vốn lưu động năm trước và nhu cầu về vốn trong

Số vốn được giao
cần phải bảo toàn
đầu năm
x
Hệ số trượt giá vốn lưu
động của doanh nghiệp
trong năm

2.2. KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP:
2.2.1. Các khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế :
2.2.1.1. Các khái niệm.
Từ trước đến nay, các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về hiệu
quả kinh tế của doanh nghiệp.
Hiệu quả sản xu
ất kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất ra tức
là giá trị của nó hoặc doanh thu là lợi nhuận thu được trong qúa trình sản xuất kinh
doanh.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế phản ánh qua nhịp độ
tăng lên của các chỉ tiêu kinh tế. Cách hiểu này là phiếm diện chỉ đứng trên mức độ
biến động thời gian.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mứ
c độ tiết kiệm chi phí và tăng kết quả. Đây
chỉ là biểu hiện của bản chất chứ không phải là khái niệm về hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa
kết quả và chi phí.Định nghĩa như vậy chỉ nói về cách xác lập các chỉ tiêu, chứ không
toát lên ý niệm của vấn đề.
-21-
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng kết quả của sản xuất kinh doanh trên
mỗi lao động hay mức danh lợi của vốn sản xuất kinh doanh. Quan điểm này muốn

doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực của các yếu
tố sản xuất và tiết kiệm chi phí.
Vì vậy yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa
với chi phí tối thiểu hay nói chính xác h
ơn là đạt được kết quả tối đa với chi phí nhất
định hay ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được theo
nghĩa rộng: Chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực; đồng thời bao gồm
cả chi phí cơ hội.
-22-
2.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một trong các biện pháp quan trọng nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tức là
đồng loạt các biện pháp để giảm chi phí về vốn của hoạt động kinh doanh mà vẫn đạt
được kết quả tốt nhất. Mức lợ
i nhuận mà doanh nghiệp đạt được tính toán dựa trên
tổng chi phí và tổng doanh thu theo công thức.
Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí
Do chi phí về vốn của doanh nghiệp cũng được coi như là một loại chi phí của
doanh nghiệp nên việc áp dụng các biện pháp nhằm giảm chi phí cho doanh nghiệp vì
vậy góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Khi việc sử dụng vốn được nâng cao thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng lên.
Doanh nghiệ
p sẽ có uy tín trên thị trường tài chính do đó việc huy động và sử dụng
vốn trong tương lai của doanh nghiệp sẽ thuận lợi và dễ dàng hơn. Doanh nghiệp sẽ có
nhiều lợi thế hơn trong cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ sản phẩm. Do đó doanh
nghiệp lại có thể đạt được một mức hiệu quả sử dụng vốn cao hơn.
Mặt khác, do yêu cầu của việc nâng cao hiệu qu
ả sử dụng vốn và các biện pháp
áp dụng để có hiệu quả sử dụng vốn cao hơn thì đội ngũ cán bộ công nhân viên trong


2.3.1.2. Tỷ trọng tài sản lưu động

Tổng tài sản lưu động
Tỷ trọng tài sản
lưu động
=
Tổng tài sản của doanh nghiệp

Chỉ số này chỉ ra tỷ trọng của tài sản lưu động trong tổng tài sản của doanh
nghiệp.

2.3.1.3. Vòng quay của vốn:

Tổng doanh thu thuần
Vòng quay của vốn =
Tổng số vốn

Tổng doanh thu thuần
Số vòng quay của vốn lưu
động
=
Tổng số vốn lưu động

Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chu chuyển của vốn doanh nghiệp. Tốc độ chu
chuyển vốn doanh nghiệp càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp càng cao
do chỉ tiêu doanh thu của doanh nghiệp là cao. Ngược lại sẽ là có vốn để nếu như các
chỉ tiêu về vòng quay của vốn của doanh nghiệp giảm đi so với kỳ trước.
-24-



Nguyên giá bình quân tài sản cố định
Suất hao phí tài sản cố
định
=
Giá trị t
ổng sản lượng

-25-
Ngoài ra chúng ta còn nên tham khảo các chỉ tiêu hệ số sử dụng máy móc thiết bị
của doanh nghiệp về công suất (H1) và hệ số sử dụng máy móc thiết bị về thời gian và
hệ số đổi mới tài sản cố định ( H3) khi đánh giá về hiệu sử dụng vốn cố định.

H1 =
Công suất thực tế của máy móc thiết bị
Công suất thiết kế của máy móc thiết bị
Hệ số này phản ánh năng lực hoạt động thực tế của máy móc trong doanh nghiệp
so với công suất thiết kế của chúng. Hệ số này càng cao chứng tỏ rằng công ty có
những lỗ lực đáng kể trong việc sử dụng máy móc thiết bị, tận dụng tốt công suất máy
móc, giảm được hao mòn vô hình đối với doanh nghiệp.

H2 =
Thời gian sử dụng máy móc thực tế
Tổng th
ời gian sử dụng máy móc theo kế hoạch

Hệ số này càng lớn càng tốt, nó chỉ ra được mức hoạt động tốt của máy móc. Khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status