1
LỜI MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài
Lý luận cũng như thực tiễn phát triển kinh tế thế giới đã cho thấy hoạt động
xuất nhập khẩu là một trong những lĩnh vực trung tâm quan trọng nhất trong toàn bộ
các hoạt động kinh tế của nhiều quốc gia. Hoạt động xuất nhập khẩu đã góp phần
đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách, đặc biệt là thu ngo
ại tệ, cải thiện cán cân
thanh toán giải quyết công ăn việc làm cho người dân, thúc đẩy nhanh quá trình tăng
trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu.
Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là một hoạt động hết sức phức tạp, chứa
đựng nhiều rủi ro. Nó không chỉ chịu tác động của chính sách kinh tế trong nước mà
còn chịu sự điề
u chỉnh của nhiều quy phạm, nguồn luật khác nhau và bị ảnh hưởng
mạnh theo sự biến động của thị trường quốc tế.
Để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (XNK) cần phải nâng cao
chất lượng và đa dạng hóa các mặt hàng, muốn vậy có sự đầu tư thích đáng cho quá
trình sản xuất, kinh doanh như đổi mới công nghệ, máy móc, trang thiết bị. Nhưng
trên th
ực tế, khả năng của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trên lĩnh vực này
còn ít ỏi, các doanh nghiệp khó có thể tự đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng, gia
tăng thị phần xuất nhập khẩu. Nắm bắt nhu cầu này các ngân hàng đã tham gia tích
cực trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu.
Việc mở cửa hội nhập với nền kinh tế Thế giới, đặc biệ
t là sự kiện Việt Nam
gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ mang lại nhiều điều kiện thuận lợi
cho hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta phát triển, hơn nữa còn tạo những cơ hội
cho hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng TMCP Công Thương
chi nhánh TP.HCM nói riêng. Đồng thời cũng đặt ra những thách thức, thậm chí là
nguy cơ bị thâu tóm, sáp nhập và ph
ải rút khỏi thị trường nếu không đủ sức cạnh
công nghệ và nâng cao chất lương phục vụ, trình độ chuyên môn, nâng cao chất
lượng thẩm định dự án chỉ mới khắc phục được một số khó khăn và hạn chế về hoạt
động Marketing, nguồn vốn tài trợ, nguồn nhân lực…Mặt tồn tại là vẫn còn một số
khó khăn chưa khắc phục như: khó khă
n trong tiếp cận các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài mới, sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng trên địa bàn hoạt động và
các ngân hàng nước ngoài…
4/ Dự kiến nghiên cứu tiếp tục
Với nội dung tôi nghiên cứu trên, tôi sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu để cố gắng
khắc phục các khó khăn còn tồn tại vì thời gian nghiên cứu không nhiều và chưa đủ
kiến thức để tìm ra những giả
i pháp hay để khắc phục những khó khăn đó. Và tôi
muốn nghiên cứu thêm về nội dung thẩm định trong tài trợ xuất nhập khẩu vừa để
nâng cao hoạt động tài trợ, vừa tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp XNK nói riêng và cho hoạt động XNK của cả nước nói chung.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1/ Giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được cấu trúc thành 4 chương. Với chương đầu giới thiệu
một cách tổng quát về đề tài nghiên cứu. Ba chương sau là nội dung chính của đề tài.
Với chương II nội dung chính của nó là cơ sở lí luận của tài trợ xuất nhập khẩu sẽ
góp phần làm nền tảng để có thể đi sâu nghiên cứu hoạt động tài trợ XNK thực tế tại
ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh TP.HCM. Qua những lí luận
được chọn làm cơ sở tôi đã vận dụng ở chương III để phân tích thực trạng hoạt động
tài trợ XNK tại chi nhánh, qua đó phát hiện những khó khăn tồn tại trong Chi nhánh,
từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tài trợ XNK tại
Chi nhánh. Những giải pháp mà tôi đưa ra, dự kiến sẽ đạt hiệu quả trong 3 năm tới từ
năm 2010- 2012.
1.2/ Tổng quan lịch sử nghiên cứu
Đối với đề tài của tôi trong lĩnh vực tài trợ XNK, đã có những anh chị đi trước
- Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương- TS. Nguyễn Văn Nam
- Nghiệp vụ ngân hàng thương mại – TS. Nguyễn Minh Ki
ều
- Quản trị rủi ro tài chính ngân hàng – TS. Nguyễn Minh Kiều
Ngoài ra, đề tài nghiên cứu còn tham khảo các tạp chí sách báo, luận văn khóa
trước, tài liệu trên thư viện ĐH Lạc Hồng, thư viện Ngân hàng TMCP Công Thương
Việt Nam, chi nhánh TP.HCM …cùng một số trang web như: www.mofa.gov.vn
,
www.tuoitre.com.vn
, www.saga.com., www.vietinbank.vn.
1.5/ Phương pháp nghiên cứu
+Phương pháp thu thập thông tin
+Phương pháp quan sát
+Phương pháp phỏng vấn
+Phương pháp phân tích, so sánh
1.6/ Giới hạn phạm vi đề tài nghiên cứu
- Về không gian: đề tài được thực hiện tại ngân hàng TMCP Công Thương, chi
nhánh TP.HCM
- Về thời gian: số liệu hoạt động của Chi nhánh cùng số liệu có liên quan trong
năm 2007, 2008 và 2009
- Nội dung nghiên cứu: một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài
trợ XNK tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh TP.HCM
5
CHƯƠNG 2:MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ
XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
2.1/ Một số vấn đề cơ bản về hoạt động xuất nhập khẩu
2.1.1/ Sự cần thiết của hoạt động xuất nhập khẩu
Sự phát triển chung của xã hội nền kinh tế loài người trải qua hai kiểu tổ chức
kinh tế, đó là sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hàng hóa. Trong đó sản xuất hàng
hóa là bước phát triển của xã hội loài người khi nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều
không thay đổi, trị giá xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của nước ngoài và vào tỷ giá
hối đoái. Thu nhập của nước ngoài tăng (cũng có nghĩa là tăng trưởng kinh tế của
nước ngoài tăng dốc) thì giá trị xuất khẩu có cơ hội tăng lên. Tỷ giá hối đoái tăng (tức
là tiề
n tệ trong nước mất giá so với ngoại tệ) thì giá trị xuất khẩu cũng có thể tăng
nhờ giá hàng tính bằng ngoại tệ trở nên thấp đi.
• Xuất khẩu với tăng trưởng kinh tế:
Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài (ngoại
nhu). Mức độ phụ thuộc vào một nền kinh tế vào xuất khẩu được đo bằng tỷ lệ gi
ữa
giá trị nhập khẩu và tổng thu nhập quốc dân. Đối với những nền kinh tế mà nhu cầu
nội địa yếu, thì xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Chính vì
thế nhiều nước đang phát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất
khẩu. Tuy nhiên xuất khẩu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảm bảo tăng
trưởng kinh tế ổn định và bền vững, IMF thường khuyến khích các nước phải dựa
nhiều hơn nữa vào nhu cầu nội địa.[ 13]
2.1.1.1.2, Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền
kinh tế Việt Nam:
Kinh tế Việt Nam trong những năm đầu sau chiến tranh là một nền kinh tế
đóng theo chế độ tập trung bao cấp, trì trệ, kiềm hãm sự phát triển của các thành phần
kinh tế. Có thể nói Đại hội Đảng lần thứ X năm 1986 là một bước ngoặc đưa kinh tế
nước ta sang trang mới, công nhận nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ
nghĩa, cho phép các thành phần kinh tế tự do hoạ
t động theo khuôn khổ pháp luật…
Bên cạnh đó Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ , chấm dứt hoạt động
cấm vận đối với Việt Nam đã tạo điều kiện thông thương hàng hóa giữa Việt Nam
với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta nhận thấy rõ việc mở cửa hội nhập
quốc tế mang lạ
i nhiều cơ hội để nước ta phát triển chủ trương đẩy mạnh lực lượng,
tính vào mục cán cân phi thương mại.
• Đơn vị tính khi thống kê về
nhập khẩu
Thường là đơn vị tiền tệ (Dollar, triệu Dollar hay tỷ Dollar) và thường tính
trong một khoảng thời gian nhất định. Đôi khi nếu chỉ xét trong một mặt hàng cụ thể,
đơn vị tính có thể là đơn vị số lượng hoặc trọng lượng (cái, tấn…).
Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá hối
đoái. Thu nhập của người dân trong nướ
c càng cao thì nhu cầu của người dân đối với
8
hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu ngày càng cao. Tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng nhập
khẩu tính bằng nội tệ tăng cao, do đó nhu cầu nhập khẩu giảm đi.
• Mức độ nhập khẩu của một quốc gia được đo bằng tỷ lệ giữa giá trị nhập khẩu
và tổng thu nhập quốc dân.
2.1.1.2.2, Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền
kinh tế Việt Nam:
• Nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu sẽ làm thâm hụt cán cân thanh toán của một
quốc gia, tuy chính sách của Đảng và Nhà nước ta luôn đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế
nhập khẩu nhưng chúng ta không thể phủ nhận một số vai trò tích cực của hoạt động
nhập khẩu đối với chúng ta.
• Đứng trên cương vị là người tiêu dùng, nhập khẩu hàng hóa của nước khác
tạo cho họ
nhiều sự lựa chọn hơn.
• Nhập khẩu còn tạo ra động lực nhằm tăng tính năng động của thị trường vì
khi đó cạnh tranh sẽ buộc những nhà sản xuất trong nước phải nhập cuộc để giành lại
thị phần.
• Nước ta đang trên đà phát triển, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước nên nhất thiết không th
ể thiếu các sản phẩm khoa học, công nghệ
hiện đại được nhập khẩu từ các nước tiên tiến. Do đó, bên cạnh xuất khẩu thì nhập
đóng vai trò chủ chốt trong từng nghiệp
vụ phát sinh, cụ thể như sau:
- Trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, ngân hàng sẽ tham gia với vai trò là ngân
hàng mở và nhận kí quỹ hay thông báo và xác nhận L/C.
- Trên cơ sở đặt hàng hay một thư tín dụng, ngân hàng sẽ tham gia tài trợ cho
nhà xuất khẩu.
- Do các bên xuất khẩu - nhập khẩu ở xa nhau lại bị chi phối bởi các luật pháp
khác nhau nên để bảo đảm thực hiện hợp đồng, đòi hỏi các ngân hàng thương mại
phải phát hành thư bảo lãnh thưc hiện hợp đồng cho nhà xuất khẩu và nhập khẩu.
- Sau khi giao hàng, để đáp ứng vốn ngắn hạn cho nhà xuất khẩu duy trì hoạt
động bình thường, ngân hàng tham gia tài trợ cho nhà xuất khẩu thông qua nghiệp vụ
chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất.
- Nếu là xuất khẩu trả chậm thì ngân hàng sẽ tài trợ cho nhà xuất khẩu thông
qua nghiệ
p vụ chiết khấu hối phiếu đã được chấp nhận còn thời hạn.
- Nếu đồng tiền thanh toán không phải là bản tệ thì ngân hàng sẽ cung cấp các
nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để:
+ Nhà nhập khẩu mua ngoại tệ thanh toán cho hàng xuất khẩu
+ Nhà xuất khẩu bán ngoại tệ nhận bản tệ để trang trải các chi phí đầu
vào.
- Thông qua ngân hàng việc thanh toán giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu
được thực hiện…
10
Bên cạnh đó với hệ thống các ngân hàng đại lí rộng khắp được củng cố quan
hệ chặt chẽ và cơ sở vật chất trang bị đầy đủ, hệ thống kĩ thuật và công nghệ hiện đại;
các ngân hàng cấp nhiều hơn cho các khách hàng của họ các dịch vụ tiện ích phục vụ
hoạt động xuất nhập khẩu. Do đó, vai trò quan trọng của ngân hàng trong hoạt động
thông thương của các quốc gia ngày càng được khẳng định nhất là đối với lĩnh vực
xuất nhập khẩu – một trong những ngành mũi nhọn để phát triển kinh tế các nước
đang phát triển.
Nhìn chung NHTM có 3 chức năng cơ bản: chức năng trung gian tài chính,
chức năng tạo tiền, chức năng sản xuất. Trong đó chức năng trung gian tài chính và
chức năng tạo tiền là chức năng cơ bản của NHTM.
- Chức năng trung gian tài chính: NHTM đóng vai trò trung gian giữa các
khách hàng với nhau hoặc trung gian giữa ngân hàng Trung
Ương và công chúng khi
thực hiện các nghiệp vụ bao gồm nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ bao thanh toán,
nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán và nhiều hoạt động môi giới
khác.
- Chức năng tạo tiền: tức là chức năng sáng tạo ra bút tệ, góp phần gia tăng
khối tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển nền kinh tế.
- Chức năng sản xuất: bao gồm việ
c huy động và sử dụng các nguồn lực để tạo
ra “sản phẩm” và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Các sản phẩm và dịch
vụ NHTM có thể cung cấp bao gồm:
+ Các sản phẩm huy động vốn như tiền gửi và chứng từ có giá các loại.
+ Các sản phẩm cấp tín dụng như cho vay doanh nghiệp, cho vay cá
nhân, cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự án, cho
thuê tài chính…
+ Các sản phẩm th
ẻ như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ ATM…
+ Các dịch vụ ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền, thanh toán không
dùng tiền mặt, thanh toán quốc tế…
+ Các sản phẩm kinh doanh ngoại tệ như các hợp đồng giao ngay, kỳ
hạn, hoán đổi, giao sau, quyền chọn…[ 4 –trang 20; 21]
2.2.2/ Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại:
[4- trang 29 – 36]
NHTM là tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động tiền gửi của công chúng,
sử dụng tiền gửi huy động được cấp tín dụng và thực hiện các dịch vụ tài chính khác.
+ Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân Hàng Nhà Nước
cho phép
+ Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
+ Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán
liên ngân hàng trong nước.
+ Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế
khi được Ngân Hàng Nhà
Nước cho phép.
13
- Các hoạt động khác bao gồm:
+ Góp vốn và mua cổ phần
+ Tham gia thị trường tiền tệ
+ Kinh doanh ngoại hối
+ Ủy thác và nhận ủy thác
+ Cung ứng dịch vụ bảo hiểm
+ Tư vấn tài chính
+ Bảo quản vật quý giá
2.3./ Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
2.3.1/ Hoạt động tài trợ xuất khẩu
2.3.1.1/ Khái niệm tài trợ xuất khẩu:
Tài trợ xuất khẩu của ngân hàng thương mại là một hình thức tài trợ thương
mại, kỳ hạn gắn với thời gian thực hiện thương vụ xuất khẩu, đối tượng nhận tài trợ là
các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp hoặc ủy thác, giá trị tài trợ thường ở mức vừa và
lớn. [4 – trang 516]
Tài trợ xuất khẩu của NHTM là một bộ phận trong tài trợ ngoại thương. Tài
trợ ngoại thương bao gồm các hoạt động mang tính chất tài trợ của ngân hàng nhằm
đáp ứng nhu cầu đặc thù về tài chính và uy tín trong kinh doanh của các doanh nghiệp
xuất khẩu trong quá trình giao dịch ngoại thương.
Quá trình giao dịch ngoại thương là toàn bộ diễn biến của thương vụ xuất khẩu
(đối với bên bán) và nhập khẩu (đối với bên mua) bao hàm cả các giao dịch kinh
Với những hợp đồng xuất khẩu có giá trị lớn và vừa, vốn lưu động của khách
hàng (các doanh nghiệp) thường là không đủ để thực hiện hợp đồng, họ sẽ nhờ đến
nguồn vốn của ngân hàng thông qua việc tài trợ. Ngân hàng khi đó sẽ vừa đóng vai
trò ngân hàng phục vụ cho nhà xuất khẩu, vừa là ngân hàng tài trợ cho việc thực hiện
hợp đồng. Đồng thời với quá trình tài trợ, để bảo đảm nguồn vốn tài trợ được sử dụng
đúng mục đích, quản lí được nguồn thu, ngân hàng sẽ tham gia thanh toán quốc tế với
vai trò là ngân hàng thương lượng (negotiating bank), ngân hàng nhờ thu (collecting
bank)…[4 – trang 517]
Là một thành viên hoạt động trong lĩnh vực quốc tế, hoạt động ngân hàng
trong tài trợ xuất khẩu đã có đóng góp đáng kể đối với nền kinh tế đất nước trên
nhiều phương diện. Trong đó bằng việc cung cấp các dịch vụ ở nước ngoài (gọi là
xuất khẩu vô hình ) đã đóng góp ngày càng lớn vào thu nhập quốc gia và điều quan
trọng hơn là hoạt động tài trợ này đã thúc đẩy việc xuất khẩu hàng hóa, mang lại một
nguồn thu nhập lớn cho quốc gia, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế. [4 – trang
517]
15
2.3.1.4/ Các hình thức tài trợ xuất khẩu
2.3.1.4.1/Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C
đã mở.
Khi nhận được LC do ngân hàng mở LC phát hành theo yêu cầu của nhà nhập
khẩu thì nhà nhập khẩu được bảo đảm thanh toán sau khi giao hàng nếu xuất trình bộ
chứng từ phù hợp điều kiện ghi trong LC. Mỗi lô hàng giao ra nước ngoài đều đòi hỏi
một loại tài trợ nào đó trong quá trình sản xuất và vận chuyển. Nhà xuất khẩu có thể
dựa vào LC đã mở để yêu cầu ngân hàng phục vụ mình cấp một khoản tín dụng nhằm
thực hiện xuất khẩu hàng theo các điều khoản đã quy định trong LC. Trên cơ sở LC
đã được chấp nhận ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu để tiếp tục sản
xuất. [ 4 – trang 518]
Đối tượng được tài trợ là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ xuất khẩu có nhu cầu bổ sung vốn lưu động để thu mua, sản xuất, gia công, cung
ứng hàng hóa dịch vụ
Khi kết thúc thời hạn chiết khấu, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người có nhiệm vụ
trả tiền hối phiếu.
2.3.1.4.3/ Chiết khấu chứng từ thanh toán theo hình
thức tín dụng chứng từ
Chiết khấu bộ chứng từ là hình thức ngân hàng tài trợ cho nhà xuất khẩu thông
qua việc mua lại hay cho vay trên cơ sở bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo được người
xuất khẩu xuất trình.
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng có thể yêu cầu ngân
hàng chiết khấu tức là ứng trước số tiền thanh toán trên bộ chứng từ xuất khẩu. Số
tiền chiế
t khấu được trả bằng ngoại tệ, có thể lên tới 90-95% trị giá bộ chứng từ. [4 –
trang 518]
Có 2 hình thức chiết khấu bộ chứng từ:
a/ Chiết khấu bảo lưu truy đòi
Muốn được chiết khấu bảo lưu truy đòi phải thỏa mãn các điều kiện:
- Bản gốc LC và tất cả bản gốc sửa đổi LC phải được xác thực bởi NHTB và
được xuất trình với bản gốc thông báo LC của NHTB
- LC còn hiệu lực, số dư chưa thanh toán.
- LC cho phép thanh toán ngay hoặc trả chậm 90 ngày
- Các quy định trong LC rõ ràng, cụ thể, hạn chế những điều khoản mang lại
rủi ro cho ngân hàng chiết khấu và người thụ hưởng.
- LC quy định vận đơn lập theo lệnh NHPH hoặc tất cả vận đơn bản gốc được
xuất trình qua ngân hàng.
- Thị trường truyền thống có quan hệ thương mại với Việt Nam và không nằm
trong danh sách bị cấm vận bởi Liên Hợp Quốc/ Mỹ/ EU hoặc khu vực có chiến
tranh, bất ổn định chính trị.
17
- Khách hàng có tài chính rõ ràng, hoạt động kinh doanh tốt, có khả năng hoàn
trả khoản tiền mà ngân hàng đã chiết khấu khi NHPH/ NHXN từ chối thanh toán.
theo phương thức nhờ thu.
Hầu hết các ngân hàng sẵn sàng cấp các khoản thấu chi cho các khách hàng
xuất khẩu thực hiện các hợp đồng mà thời hạn thanh toán lên đến 6 tháng. Khi một
18
ngân hàng xử lí chứng từ bằng cách chuyển chúng cho một ngân hàng đại lí ở nước
ngoài để nhờ thu, ngân hàng sẵn sàng cung cấp một khoản ứng trước theo một tỷ lệ
phần trăm thỏa thuận tính trên các khoản nhờ thu tồn đọng còn chưa nhận tiền. Trong
một số trường hợp, vật bảo đảm được chấp nhận cho những khoản ứng trước sẽ là các
chứng từ gửi hàng đem lại quyền kiểm soát hàng hóa cùng với các tờ hối phiếu đang
trong quá trình nhờ thu. [4 – trang 518]
Phương thức này cũng có nhiều điểm tương tự như hình thức chiết khấu bộ
chứng từ thanh toán theo hình thức tín dụng chứng từ. Tuy nhiên trong trường hợp bộ
chứng từ thanh toán theo phương thức nhờ thu thì một số ngân hàng sử dụng cụm từ
“Ứng trước tiề
n hàng xuất khẩu” và công việc thẩm định sẽ giao cho phòng tín dụng
phụ trách. Và đối với loại hình tài trợ này, vì mức độ rủi ro rất cao nên lãi suất tài trợ
cũng cao hơn so với các loại hình tài trợ khác, ngoài ra để được tài trợ khách hàng
cũng cần có tài sản bảo đảm. [4 – trang 519]
2.3.1.4.5/ Thuận nhận ngân hàng (Banker’s
aceptance)
Thuận nhận ngân hàng là hình thức tài trợ gắn liền với phương thức thanh toán
tín dụng chứng từ. Khi hối phiếu được doanh nghiệp kí phát cho ngân hàng, bằng
việc kí chấp nhận hối phiếu, ngân hàng đã cam kết chi trả vô điều kiện một số tiền
nhất định vào ngày nhất định trong tương lai. Do đó hối phiếu này trở thành công cụ
có thể giao dịch trên thị trường. [4 – trang 519]
Đây chính là nghiệp v
ụ thuận nhận ngân hàng – một hình thức tài trợ của ngân
hàng cho nhà xuất khẩu, để họ có thể sử dụng hối phiếu đã được chấp nhận bằng cách
chiết khấu, hay bán trên thị trường.
Điểm nổi bật của thuận nhận ngân hàng là có thể huy động được nguồn vốn tài
vốn để đầu tư tài sản đó.
c/ Bảo hiểm tín dụng xã hội
Là việc nhà xuất khẩu đóng phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm (thường công
ty này thuộc quyền sở hữu của NHTM ) theo thỏa thuận đối với một hay nhiều rủi ro
nhất định. Sau đó nhà xuất khẩu sử dụng bảo hiểm này làm chứng từ thế chấp khi đến
ngân hàng vay vốn. Thực chất nhà xuất khẩu bảo hiểm chuyển giao cho ngân hàng
đòi tiền trong trường hợp nhà nhập khẩu không thanh toán tiền hàng. [4 – trang 623]
Mục tiêu:
+ Bảo vệ nhà xuất khẩu trước rủi ro người mua không thanh toán tiền hàng.
20
+ Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ bằng những điều khoản mang
tính cạnh tranh.
+ Hỗ trợ quá trình thâm nhập của giới xuất khẩu vào thị trường nước ngoài có
rủi ro cao.
+ Giúp các nhà nhập khẩu và ngân hàng tài trợ có khă năng linh hoạt hơn về
tài chính trong xử lí các khoản nợ với nước ngoài.
d/ Bao tiêu (Forfaiting)
Áp dụng đối với trường hợp xuất khẩu tư liệu sản xuất và máy móc thiết bị.
Cơ chế này bao gồm: nhà xuất khẩu, ngân hàng bao tiêu, ngân hàng phục vụ nhà nhập
khẩu.
Sau khi nhận được đơn đặt hàng từ nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu gặp một
ngân hàng bao tiêu để yêu cầu tài trợ. Giả sử đơn đặt hàng thực hiện trong vòng 5
năm, ngân hàng bao tiêu dễ chấp nhận chiết khấ
u các hối phiếu của nhà xuất khẩu
cho cả thời hạn 5 năm. Ngân hàng có thể tính lãi cố định và tài trợ lên đến 100% giá
trị hối phiếu. Tuy nhiên ngân hàng bao tiêu yêu cầu ngân hàng nhà nhập khẩu bảo
lãnh cho nhà xuất khẩu hoàn trả vốn vay và không để nợ khó đòi phát sinh. Những
bảo lãnh này rất quan trọng vì đây là tài trợ xuất khẩu miễn truy đòi. Nghĩa là khi nhà
nhập khẩu không thanh toán được thì chính ngân hàng chứ không phải nhà xuất khẩu
chịu thi
vào chính sách ngoại hối của ngân hàng nhà nước trong trường hợp gặp khó khăn về
cán cân thanh toán. Điều này thường thấy ở các nước đang phát tri
ển, nơi có nhu cầu
ngoại tệ cao.
b/ Rủi ro sau khi giao hàng:
Là doanh nghiệp không thể nhận tiền thanh toán theo như dự định. Nguyên
nhân từ nhiều phía như nhà xuất khẩu, ngân hàng thanh toán, rủi ro từ quốc gia, rủi ro
về tỷ giá, rủi ro về hối đoái và chuyển tiền.
- Rủi ro phía nhà nhập khẩu (rủi ro thương mại) liên quan uy tín bên mua và
rủi ro từ chối nhận hàng. Rủi ro từ chối nhận hàng có thể lấy cớ do bên xuất khẩu
xuất trình chứng từ không phù hợp quy đị
nh trong hợp đồng, hoặc do không muốn
hoàn thành giao dịch và cũng có thể ép bên bán giảm giá. Khi giao hàng bị từ chối,
nhà xuất khẩu phải chịu phí neo tàu tại cảng dỡ và phí chậm dỡ hàng.
- Rủi ro thanh toán: phát sinh do phương thức thanh toán và năng lực của nhà
nhập khẩu. Khi thanh toán bằng hình thức trả chậm, bên mua có thể chậm thanh toán
hoặc mất khả năng thanh toán vào thời điểm thanh toán.
- Rủi ro từ ngân hàng thanh toán: mất khả năng thanh toán hay phá sản ho
ặc
không thể thanh toán cho nhà xuất khẩu cho dù nhà nhập khẩu chấp nhận thanh toán.
22
- Rủi ro quốc gia: phụ thuộc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa.
Những yếu tố này sẽ làm cho việc giao hàng bên bán bị đình hoãn hoặc tình trạng mất
khả năng thanh toán của bên nhập khẩu.
- Rủi ro hối đoái và chuyển tiền: Giao dịch thương mại quốc tế bao giờ cũng
thanh toán theo một loại tiền tệ nào đó khác đồng bản tệ của một hoặc cả hai bên mua
bán. Khi đ
ó xuất hiện chuyển đổi ngoại tệ, từ đó xuất hiện rủi ro. Rủi ro hối đoái bắt
nguồn từ sự biến động bất lợi của tỷ giá gây tổn thất cho nhà xuất khẩu trong việc
nhận tiền thanh toán. Rủi ro chuyển tiền là tình trạng khan hiếm ngoại tệ hoặc sự
nhất định như có tư cách pháp nhân hay giấy phép kinh doanh nhập khẩu còn hiệu
lực, nhập khẩu mặt hàng được phép nhập theo quy định của pháp luật và một số yêu
cầ
u về khả năng tài chính để hoàn trả nợ vay. [4- trang 514]
2.3.2.3/ Các hình thức tài trợ nhập khẩu:
2.3.2.3.1/ Mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu
Hình thức tài trợ nhập khẩu phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện
nay là tín dụng chứng từ hay tín dụng thư (LC). Tín dụng thư là cam kết của ngân
hàng mở LC đối với nhà xuất khẩu (theo yêu cầu của khách hàng nhập khẩu) rằng
ngân hàng sẽ thanh toán cho nhà xuất khẩu hoặc chấp nhận hối phiếu do nhà xuất
khẩu kí phát nếu nhà xuất khẩu xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với những điều
kiện và điều khoản do ngân hàng mở LC chỉ ra. LC do ngân hàng mở theo đề nghị
của nhà nhập khẩu.[4 – trang 515]
Nhưng không phải lúc nào nhà nhập khẩu cũng đủ số dư trên tài khoản để làm
đảm bảo ( hay để kí quỹ) cho việc mở thư tín dụng. Như vậy có thể nói việc mở thư
tín dụng đã thể hiện s
ự tài trợ cho nhà nhập khẩu. Ngân hàng sẽ gánh chịu rủi ro nếu
như nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán cho phía nước ngoài theo cam kết
trong LC. Do đó trước khi mở LC ngân hàng phải kiểm tra tình hình tài chính và khả
năng thanh toán, tình hình hoạt động của nhà nhập khẩu.[4 – trang 515]
2.3.2.3.2/ Bảo lãnh và tái bảo lãnh
Đây là hình thức tín dụng qua cam kết bằng chữ kí, có thể cho việc mở LC hay
cho việc thanh toán hối phiếu khi đến hạn.
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo
lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay
cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhậ
n bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và
thanh toán hàng nhập khẩu trong trường hợp này. [4 – trang 515]
Tuy nhiên khách hàng cần có tài s
ản đảm bảo cho khoản vay, bất động sản,
những chứng từ có giá, một số tài sản khác…
2.3.2.4/ Một số hình thức tài trợ nhập khẩu đặc biệt khác
2.3.2.4.1/ Chuyển tiền đi.
Ngân hàng chuyển tiền cho các tổ chức cá nhân có nhu cầu chuyển tiền mậu
dịch và phi mậu dịch hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh dịch vụ khi khách
hàng hoàn tất hồ sơ chuyển tiền.
25
Hình thức này thường áp dụng cho những đối tác đã có quan hệ kinh doanh
xuất nhập khẩu lâu dài và tin cậy. [17]
2.3.2.4.2/ Tài trợ nhập khẩu thế chấp bằng chính lô
hàng nhập
Tài trợ vốn ngắn hạn cho các doanh nghiệp thanh toán chi phí nhập nguyên vật
liệu, vật tư, hàng hóa không có đủ bất động sản để thế chấp, có thể thế chấp bằng
chính lô hàng nhập.
Mặt hàng nhận thế chấp rất đa dạng: sắt thép, đồng nhôm, hạt nhựa, ô tô,
nguyên liệu thức ăn gia súc, giấy, bột giấy, xe cơ giới, thiết bị điện lạnh… [17]
2.3.2.4.3/ Tài trợ nhập khẩu trọn gói
Với hình thức này doanh nghiệp chỉ cần đàm phán giá, đặt hàng với đối tác
nước ngoài và ung dung chờ hàng nằm gọn ghẽ trong kho.
Thông thường các doanh nghiệp tiếp cận ngân hàng với mục đích mượn vốn,
sử dụng dịch vụ thanh toán, tìm sự hỗ trợ từ thư bảo lãnh tín dụng…Sau đó quy trình
nhập khẩu được nối dài bởi những rắc rối về dịch vụ vận tải, bảo hiểm, kho bãi. Quá
trình này vừa mất nhiều thời gian, nhân lực, chi phí phát sinh. Tài trợ trọn gói là sự
cấu thành của nhiều sản phẩm riêng lẻ hiện có, gồm dịch vụ phát hành và thanh toán
LC, tài trợ vốn và cung ứng ngoại hối thanh toán LC, quản trị rủi ro ngoại hối bằng