TIỂU LUẬN:
Tình hình kinh doanh xuất khẩu da
giày của Việt Nam
Lời nói đầu Mặt hàng giày dép là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta trong giai đoạn
2001 - 2010. Ngành đã có đóng góp to lớn trong kim ngạch xuất khẩu, hiện đứng
thứ ba sau dầu thô và dệt may, có triển vọng rất tolớn và sẽ phát triển rất mạhh tự
hoàn thiện thành một ngành công nghiệp sản xuất giày thực thụ. Vấn đề cấp bách
với 24,6% năm 1986. Với xu hướng này các năm sau kim ngạch xuất khẩu đều
tăng lên so với các năm trước đó.
b) Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng
ngoại.
Thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng một cách có lợi nhất, đó là thành quả
của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong qúa trình công nghiệp hoá ở nước ta là phù hợp với xu hướng phát triển của
kinh tế thế giới.
Sự tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế có
thể được nhìn nhận theo các hướng sau :
+ Xuất khẩu những sản phẩm của nước ta cho nước ngoài.
+ Xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuất
khẩu những sản phẩm mà các nước khác cần. Điều đó có tác động tích cực đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành liên quan có cơ hội phát triển thuận
lợi. Ví dụ, khi phát triển dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc phát triển ngành sản
xuất nguyên liệu như bông hay thuốc nhuộm. Sự phát triển của công nghiệp chế
biến thực phẩm xuất khẩu, (dầu thực vật, chè…) kéo theo sự phát triển của ngành
công nghiệp chế tạo thiết bị.
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào
cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước.
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm đổi mới thường
xuyên năng lực sản xuất trong nước. Nói cách khác, xuất khẩu là cơ sở tạo thêm
vốn và kỹ thuật, công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện
đại hoá nền kinh tế nước ta.
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh
tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi
phải tổ chức lại sản xuất cho phù hợp với nhu cầu với thị trường.
Bước 2 : Bước này do lãnh đạo chi cục đảm nhiệm, có quyền quyết định hình
thức và tỉ lệ kiểm tra, giải quyết những vướng mắc phát sinh và xác nhận thông
quan.
Bước 3 : Đây là bước kiểm hoá và tính thuế do công chức 2 đảm nhiệm. Họ
sẽ tiến hành kiểm tra thực tế lô hàng, kiểm tra tính thuế của chủ hàng. Trên cơ sở
tính thuế của chủ hàng, ra thông báo thu thuế hoặc biên lai thuế.
Bước 4 : Sau khi thu thuế và lệ phí hải quan và tiến hành hoạt động kế toán
thuế và phúc tập hồ sơ, chủ hàng sẽ nhận được hàng.
Tuy nhiên, đối vói hàng được miễn kiểm tra và không thuế thì không phai
qua bước 3.
Khi nộp thuế, thời điểm nộp đối với hàng xuất khẩu là 15 ngày kể từ ngày
doanh nghiệp nhận được thông báo thuế, ở đây là 15 ngày theo lịch.
Nhà nước cũng quy định rõ những hàng hoá của doanh nghiệp được hưởng
chế độ miễn kiểm tra thực tế hoặc miễn kiểm tra toàn bộ lô hàng ; kiểm tra với tỷ lệ hoặc xác suất không quá 10% ; kiểm tra toàn bộ lô hàng (100% lô hàng). Việc
xác định hình thức và tỷ lệ kiểm tra căn cứ vào số lần vi phạm, mức độ xử phạt
hành chính và số nợ thuế.
III. vài nét về đặc điểm và vai trò của ngành da giày trên thị trường thế giới
và thị trường Việt Nam.
Ngành công nghiệp giày dép của nhiều nước, nhất là các nước đang phát
triển, có vị trí rất quan trọng trong giai đoạn đầu của qúa trình phát triển kinh tế
đất nước, góp phần tạo ra công ăn việc làm, tham gia vào qúa trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, tăng thu ngoại tệ qua đẩy mạnh xuất khẩu. Đối với Việt Nam, ngành
công nghiệp giày dép cũng có tầm quan trọng như vậy. Phát triển ngành giầy dép
Việt Nam là phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế
của thế giới. Xu hướng chung là những nước công nghiệp và nhiều nước đang phát
triển sẽ tập trung vào việc phát triển các ngành kỹ thuật cao, sử dụng ít lao động,
loại bỏ dần những ngành sử dụng nhiều lao động, hàm lượng khoa học kỹ thuật
Nhưng đáng quan tâm nhất là việc Trung Quốc gia nhập WTO. Lợi thế của ngành
da giày Việt Nam là nhân công rẻ, dồi dào, được hưởng nhiều ưu đãi thuế quan từ
những thị trường lớn nhưng với Trung Quốc với việc các rào cản thương mại được
loại bỏ dần dần, nhân công của họ dồi dào hơn ta và có một bề da dày lịch sử,
công nghệ hiện đại cùng nhiều ưu đãi của Chính phủ Trung Quốc về thuế giá điện,
giá thuê đất… dẫn đến sản phẩm của họ đến tay người tiêudùng thấp hơn ta nhiều.
Hiện nay có gần 75% trong tổng số hơn 11 tỷ đôi giày dép trên thế giới do
các nước đang phát triển ở Châu á, Nam Mỹ…sản xuất. Trong khi đó các nước
phát triển và các nước công nghiệp lại tiêu thụ gần 45% tổng sản lượng giày. Điều
này cho thấy, thế giới thứ 3 ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn trong sản xuất giày
dép. Họ đẩy các nước công nghiệp xuống đến mức độ đáng lo ngại với hai lý do
chính : Thứ nhất, đối với các nước đang phát triển sản xuất chủ yếu hàng da như
ấn Độ, Nam Mỹ quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu tận dụng mọi nguồn tài nguyên
mà không gây thiệt hại cho nước họ. Thứ hai, mặt bằng chi phí lao động đem lại
cho họ lợi thế đến nỗi những công nghệ tinh vi nhất sẵn có ở các nước phát triển
và công nghiệp mới (CNM) cũng không thể cứu vãn nổi. Ngoài ra, các nước đang
phát triển còn có nhiều lợi thế khác bao gồm chính sách trợ giá cùng các chính
sách khuyến khích khác của quốc gia đã dẫn đến một sân chơi cạnh tranh không
thật công bằng. Tuy vậy, tình trạng không đồng đều vẫn xảy ra như : Nam Mỹ có
nhiều da, da chất lượng cao mà vẫn bị tụt sau ASEAN về sản xuất giày, trong 10
năm qua, sản lượng giày Nam Mỹ chỉ tăng 15% mà ASEAN lại tăng gấp đôi.
Nhiều chuyên gia nghĩ rằng thế giới sắp trải qua sự suy giảm lớn về sản lượng giày. Có thể các nhà sản xuất lớn trong liên đoàn giày thế giới ở ý, Pháp, Mỹ, Tây
Ban Nha, Bồ Đào Nha… cũng sẽ phải nhường vị trí cho các nhà sản xuất ở các
khu vực khác đặc biệt là ở ASEAN. Nền công nghiệp giày trên thế giới được chia
làm 5 nhóm nước. Các nước có định hướng xuất khẩu, các nước nhập khẩu có
định hướng, các nước được tôn vinh là “chuyên gia” về thiết kế và sản xuất thời
trang có chất lượng cao, các nước lấy buôn bán là chính, các nước đang cần tổ
năm 1987, Liên hiệp các xí nghiệp da giày thuộc Bộ công nghiệp nhẹ được thành
lập với nhiệm vụ chủ yếu là gia công mũ giày da, giày vải, găng tay bảo hộ lao
động và hàng mềm xuất khẩu theo các hiệp định kinh tế với Liên Xô cũ và các
nước Đông Âu. Từ đó, ngành da giày Việt Nam đã thực sự trở thành ngành kinh tế
-kỹ thuật độc lập nhưng cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu. Sản phẩm
làm ra với mẫu mã đơn giản, chất lượng không cao. Kim ngạch xuất khẩu năm
1987 đạt 33,27tr Rup/USD, năm 1990 đạt 125 tr Rup/USD. Toàn ngành có hơn 50
đơn vị gia công sản xuất da giày được hình thành trên toàn quốc.
Khi Liên Xô và các nước Đông Âu tan rã đã tác động sâu sắc đến ngành da
giày non trẻ và mới khởi sắc ở Việt Nam. Hầu hết các doanh nghiệp đều không có
việc làm, nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa hoặc giải thể, 2/3 trong số 25000 lao
động của ngành phải rời sản xuất và tự lo cuộc sống. Kim ngạch xuất khẩu đang ở
mức 125 tr.Rup/USD tụt xuống 30tr Rup/USD vào năm 1991 và 48tr Rup/USD
vào năm 1992 (chủ yếu là giao nốt số hàng tồn đọng từ năm 1990). 1.2. Thực trạng ngành da giày xuất khẩu.
Trong giai đoạn này ngành da giày Việt Nam chủ yếu thực hiện các hợp
đồng hợp tác gia công mũ giày cho Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu. Khi khối này tan rã ngành da giày phải trải qua một thời kỳ đầy khó khăn do thiếu đơn
hàng (tuy nhiên giai đoạn này kéo dài không lâu). Trước thực trạng ấy rất nhiều
doanh nghiệp đã bị phá sản hoặc thua lỗ nặng nề. Tuy nhiên vẫn còn một số doanh
nghiệp biết cách tháo gỡ và khắc phục được khó khăn để vươn lên trở thành một
trong những gương mặt sáng của công nghiệp thủ đô.
Ngành da giày Việt Nam chỉ tạo ra được trên 25000 chỗ làm việc cho người
lao động với trình độ kỹ thuật, tay nghề còn kém, hiệu quả làm việc chưa cao.
Đồng thời bị lệ thuộc quá nhiều vào việc cung ứng nguyên vật liệu phụ liệu, hoá
chất, phụ tùng, máy móc từ nước ngoài và nhất là từ chính đối tác đặt sản xuất
còn yếu.
Thứ ba là do phần lớn các doanh nghiệp có cán bộ dôi dư lớn không mạnh
dạn đổi mới cơ cấu doanh nghiệp, còn theo mô hình tổ chức phòng ban cũ, do vậy
không tạo ra sự chuyển biến đồng bộ và tác phong mới trong hoạt động sản xuất
kinh doanh và sự đồng bộ trong việc giải quyết vấn đề chất lượng.
Ngoài ra nhận thức về quản lý chất lượng sản phẩm còn nhiều điều chưa rõ,
nhận thức về tác động của cơ chế thị trường còn phiến diện nặng về tác động tiêu
cực, từ đó tìm cách đối phó bằng các biện pháp không cơ bản, như móc nối mua
bán không trung thực, không thấy được yếu tố cơ bản của sự cạnh tranh là uy tín,
chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ.
Vấn đề sở hữu và quan hệ sở hữu trong khu vực Nhà nước chưa được giải
quyết triệt để cũng làm hạn chế sự vươn lên, sáng tạo, dám nghĩ dàm làm của đội
ngũ cán bộ quản lý. Bên cạnh đó cơ chế quản lý ở tầm vĩ mô còn những hạn chế,
gò bó chưa đảm bảo quyền tự chủ sản xuất kinh doanh và sự chịu trách nhiệm của
các doanh nghiệp. Tổ chức các doanh nghiệp của ta nằm trong các quan hệ ràng
buộc phức tạp và nhìn chung là cồng kềnh cán bộ công nhân đông mà không
mạnh, trình độ kiến thức tay nghề hiểu biết về cơ chế thị trường còn hạn chế. Phần
lớn các doanh nghiệp thuộc loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ năng lực tài chính
yếu, khả năng đổi mới công nghệ hạn chế. Đại bộ phận doanh nghiệp phụ trách
một hoặc vài sản phẩm theo chu trình khép kín từ khâu đầu đến sản phẩm cuối
cùng.
Bên cạnh những nguyên nhân gây ra tình trạng khó khăn trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu nói chung, doanh nghiệp da giày Việt
Nam rơi vào tình trạng khó khăn do một số nguyên nhân khác. Chủ yếu là do việc
các nhà quản lý chưa thích ứng kịp với những đòi hỏi khắc nghiệt của cơ chế thị
trường mới được vận hành trong nền kinh tế đất nước. Mặt khác, một số thị trường
truyền thống thuộc các nước xã hội chủ nghĩa cũ không còn được duy trì do biến động chính trị về phía doanh nghiệp là sự thiếu vốn trầm trọng, đội ngũ công nhân
vận hội mới, phát huy mọi tiềm lực với những nỗ lực cao nhất để tiếp nhận sự chuyển dịch ngành da giầy thế gioứi thông qua việc hợp tác, gia công, liên doanh
liên kết đầu tư 100% vốn nước ngoài với các đối tác nước ngoài mà chủ yếu là Đài
Loan, Hàn Quốc, Thái Lan.
II. hoạt động xuất khẩu da giầy Việt Nam sau 1990
1. Thực trạng xuất khẩu
Sau khi Liên Xô cũ và Đông Âu tan rã toàn bộ chương trình hợp tác gia công
mũ giày với các nước này chấm dứt ngành da giầy Việt Nam bước vào thời kỳ
phát triển mới, thời kỳ tiếp nhận sự chuyển dịch sản xuất các sản phẩm dày dép để
xuất khẩu từ các nước nhập khẩu trong khu vực như Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng
Kông nhằm khai thác lợi thế mà Việt Nam có được trong sản xuất và xuất khẩu
giày dép. Đó là : Việt Nam có lực lượng lao động dồi dà, trẻ khoẻ, tiếp thu nhanh,
tiền công lao động còn thấp Việt Nam chưa bị các nước nhập khẩu giày dép khống
chế bằng hạn ngạch và được chế độ ưu đãi thuế quan (GSP) nếu đáp ứng đủ tiêu
chuẩn, xuất xứ C/O.
Để khai thác tiềm năng, lợi thế đó chủ trong khoảng thời gian từ năm 1993
đến nay, ngành da giày Việt Nam (của tất cả các thành phần kinh tế) đã tập trung
khai thác mọi nguồn vốn đầu tư và bằng nhiều hình thức đầu tư các cơ sở sản xuất
các loại giày dép chỉ xuất khẩu. Hiện nay năng lực sản xuất của toàn ngành đạt gần
300 triệu đôi giày dép các loại, thu hút lực lượng lao động khoảng 300.000 người,
đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng năm 40 - 50%. Riêng năm1998
do tác động bởi cuộc khủng hoảng trong khu vực nên ngành chỉ đạt tốc độ tăng
trưởng gần 3,8% so với năm 1997, kim ngacạh xuất khẩu đạt 1 tỷ USD, 1999 kim
ngạch xuất khẩu vào khoảng 1300 triệu USD, tăng 30% so với 1998.
Tuy có nhiều tiềm năng và lợi thế song ngành giày dép Việt Nam hiện nay
(nhất là các doanh nghiệp trong nước) vãan còn nhiều khó khăn và hạn chế về khả
năng tài chính, về cung ứng vật tư nguyên phụ liệu, về sang tác và phát triển mẫu
mode, về công nghiệp và kỹ thuật, về quản lý để xâm nhập trực tiếp vào thị trường
phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Việt Nam hiện đã là thành viên của
ASEAN, APEC, đang xin đàm phán gia nhập WTO và đã ký kết hiệp định Việt
Mỹ. Qúa trình hội nhập quốc tế yêu cầu chúng ta cần chủ động và tích cực chuẩn
bị để đầu tư có hiệu quả, ổn định, bảo đảm phát triển của ngành da giày. Ngoài
việc nghiên cứu phát triển sản phẩm của mình và lựa chọn thị trường, các nhà xuất
khẩu còn phải quyết định các biện pháp để xâm nhập thị trường. Từ năm 1989 đến
nay sản lượng giày thế giới liên tục biến động. Khu vực sản xuất giày dép lớn nhất
là Châu á (chiếm 2/3 tổng sản lượng thế giới) tiếp theo là Châu Âu và Châu Mỹ ; Mỹ, EU, Nhật là ba thị trường nhập khẩu giày dép chủ yếu trên thế giới đặc biệt là
Mỹ. Có một điều cần chú ý rằng đây đều là các nước đòi hỏi tiêu chuẩn ba chất
lượng hàng hoá rất cao. Ngoài ra yếu tố môi trường và yếu tố thời trang cũng hết
sức quan trọng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đánh giá về khả năng xuất
khẩu giày dép của Việt Nam, báo cáo của Bộ thương mại cho biết ngành da giày
đã bổ sung hoàn chỉnh và trang bị đồng bộ gần 200 dây chuyền sản xuất giày, trên
1900 máy may chuyên dùng sản xuất túi, cặp da, sửa chữa gần 200.000m
2
và xây
dựng mới trên 240.000m
2
nhà xưởng với tổng số vốn đầu tư trên 3000 tỷ đồng.
Tính đến cuối năm 1997, cả nước đã thiết lập được một mạng lưới sản xuất giày
dép, chủ yếu để xuất khẩu với năng lực sản xuất 260 triệu đôi/năm trong đó giày
thể thao chiếm 50%.
1.1. Thị trường EU.
Hiện nay EU là thị trường nhập khẩu chủ yếu các sản phẩm giày dép của
Việt Nam, chiếm xấp xỉ 80% kim ngạch bỏ vốn đầu tư nhưng có hiệu quả kinh tế
cao, phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta.
Cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường, chính sách mở cửa của Nhà
quân 4 đến 50% mỗi năm. Việt Nam là một trong năm nước có số lượng giày dép
tiêu thụ nhiều nhất ở EU do giá rẻ, chất lượng và mẫu mốt chấp nhận được 9 tháng
xuất khẩu (năm 1999) đạt 1.014 triệu USD, tăng 34% so với cùng kỳ năm 1998,
bình quân xuất khẩu đạt 113 triệu USD tháng tăng 30 triệu USD/tháng. Cơ cấu thị
trường 9 tháng đầu năm 1999 so với năm 1998 thì Châu Âu là khoảng 730 triệu
USD, chiếm 72% tăng 8% trong đó EU : 700 triệu USD, chiếm 69,6% tăng 8%.
Các thị trường nhập khẩu chủ yếu là Đức với tỷ trọng 18%. Vương quốc Anh
17%, Bỉ 10%, Pháp 9%, Hà Lan 8,6%, Italia 6%, Đài Loan 3,8%.
1.2. Thị trường Mỹ.
Cơ cấu thị trường 9 tháng đầu năm 1999 so với 1998 Châu Mỹ : 101 triệu
USD, chiếm 10% giảm 3,6%. Trên thị trường Mỹ năm 1997 chúng ta mới đạt 70,2
triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu sang Nhật cũng tăng nhanh, năm 1997 đạt 79
triệu USD.
Mỹ là nước có nhu cầu tiêu thụ và nhập khẩu giày dép lớn nhất thế giới.
Hàng năm nhập khẩu khoảng 1,4 tỷ đôi giày dép các loại trị giá khoảng 14 -15tỷ
USD. Hiện nay Việt Nam mới xuất khẩu giày dép sang Mỹ đạt kim ngạch xuất
khẩu năm 1998 trên 110 triệu USD (chiếm trên 10% kim ngạch xuất khẩu toàn
ngành). Với việc ký kết hiệp định thương mại Việt- Mỹ và đã bắt đầu có hiệu lực
trong năm tới (từ 12/2001 trở đi) kim ngạch xuất khẩu da giày trên thị trường Mỹ sẽ tăng rất mạnh, không hề thua kém vào thị trường EU thậm chí còn có thể cao
hơn.
1.3. Thị trường Châu á và một số thị trường khác.
Về cơ cấu thị trường 9 tháng đầu năm 1999 so với 1998, Châu á :
111 triệu USD, chiếm 11% giảm 6%, thị trường khác : 72 triệu USD, chiếm 7%,
xấp xỉ 1998, Đài Loan : 3,8%, Hàn Quốc 3,2% và Tây Ban Nha 2,4%.
Nhật là thị trường có nhu cầu nhập khẩu hàng năm khoảng 350 triệu đôi giày
dép từ nước ngoài. Kim ngạch xuất khẩu sang Nhật cũng tăng nhanh, năm1997 đạt
79 triệu USD, năm 1999 chiếm khoảng 7- 8% tổng kim ngạch. Dự đoán kim ngạch
10 năm kể từ khi thị trường Liên Xô cũ và Đông Âu khủng hoảng, đến nay
ngành da giày đã có những bước tiến phi thường. Tuy nhiên đó mới chỉ là sự
khẳng định và tiềm lực và khát vọng vươn dậy của ngành kinh tế kỹ thuật này. Xu
hướng “hội nhập” đang đặt ngành da giầy lên “sàn đấu”sống còn của thị trường
quốc tế bình đẳng và khắc nghiệt. Thế nhưng da giầy Việt Nam đang khoác tấm áo
rội lên mình những sản phẩm của ngoại quốc, đổi lại chỉ nhận được những đóng
tiền “gia công” rất nhỏ bé.
Những năm gần đây ngành da giầy luôn có mức tăng trưởng từ 12 - 14%
trong cơ cấu sản xuất giày dép xuất khẩu 4 tháng đầu năm 1999 thì 70% là gia
công cho nước ngoài, trong nước chí chiếm 30%, về mặt hàng giày dép liên doanh
với nước ngoài, trong nước chỉ chiếm 30%, về mặt hàng giày dép liên doanh với
nước ngoài có ưu thế hơn nhiều nhất là loại giày cao cấp với 55% tỷ trọngcòn các
doanh nghiệp trong nước là 45%, kim ngạch xuất khẩu, năm 2000 đạt 1,468 tỷ
USD, tương ứng với 450 triệu sản phẩm các loại…Những con số đó đã vượt qua
các nước cùng khu vực như Thái Lan, Malaysia, sugapore và cho thấy ngành kinh
tế kỹ thuật này đã giữ một vị trí quan trọng trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ. Tuy
nhiên, sức mạnh về sự đóng góp thực tế của ngành da giầy chỉ bằng một phần rất
nhỏ con số trên.
Nguyên do thứ nhất là phần lớn lợi nhuận, ngoại tệ xuất khẩu không rơi vào
túi nhà nước, doanh nghiệp hay người lao động Việt Nam vì hiện 98% sản phẩm
của ngành được xuất khẩu nhưng thực ra ta chỉ đóng góp duy nhất phần gia công.
Gọi là xuất khẩu nhưng các doanh nghiệp Việt Nam chỉ biết nhận nguyên liệu,
mẫu mã của đối tác nước ngoài để sản xuất, khi ra sản phẩm lại giao cho họ. Giá
bán bao nhiêu, bán cho ai thì không được biết. Có nghĩa là người Việt Nam chỉ
được hưởng tiền công lao động. Nếu tính giá trị sản phẩm da giày khi xuất khỏi
cửa khẩu Việt Nam trong năm qua là gần 1,5 tỷ USD thì sẽ tiến người Việt Nam
được hưởng chỉ xấp xỉ 400 triệu USD (1/4 giá trị). Hiện nay cả nước có hơn 100 doanh nghiệp xuất khẩu da giày, chiếm tới 90% lao động, sản lượng toàn ngành thì
thì họ lại chọn các doanh nghiệp tư nhân “giả bia”. Từ đó thị phần và đơn hàng của doanh nghiệp vốn trong nước dần bị thu hẹp. Tình trạng này diễn ra phổ biến
ở Đồng Nai, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh. Ví dụ ở Hải Phòng có Công
ty TNHH Đỉnh Vàng lớn nhất thành phối với 10 dây chuyền sản xuất giày thể
thao, giày nữ và 2 xí nghiệp sản xuất để cho 12 triệu đôi sản phẩm/ năm. Bà
Nguyễn Thị Kim Thúy làm giám đốc nhưng do một người Thái Lan bỏ vốn và
thâu tóm : Công ty TNHH Thành Hưng cho 3 triệu sản phẩm/năm do Bà Đoàn Thị
Thu Hà làm Giám đốc nhưng vốn và quyền nằm trong tay người ngoại quốc.
Như vậy ngành da giày chỉ dựa vào Tổng Công ty da giày làm nòng cốt.
Tổng Công ty này có 17 doanh nghiệp, năng lực sản xuất 39 triệu đôi giày
dép/năm bằng 1/10 toàn ngành, kim ngạch xuất khẩu, lao động cũng tỷ lệ thuận.
Nhưng thiết bị, vốn cố định và lưu động tỷ lệ đó còn thấp hơn nhiều.
Các nhà nghiên cứu cho biết gốc rễ của tình trạng không làm chủ được sản
xuất và thị trường của ngành da giày chỉ là khả năng cung cấp nguyên liệu (yếu tố
đầu tiên và gần như quyết định) của ta quá yếu. Theo tính toán của hiệp hội da
giày Việt Nam, với sản lượng sản xuất như hiện nay thì mỗi năm cả nước cần
khoảng 130 triệu square feet (gọi tắt là bia) da thành phẩm, cùng một lượng lớn
giả da, vải, vải tráng PU, PU, keo tổng hợp…nhưng đều phải nhập ngoại từ 80 -
90% nhu cầu. Đây không phải là sự khống chế của nước ngoài khi ta gia công cho
họ (vì họ cũng muốn mua tại Việt Nam để đỡ tốn kém) mà chỉ vì ta không sản
xuất được những sản phẩm đó. Ông Phan Đình Độ chủ tịch hiệp hội da giày Việt
Nam cho biết sản lượng da thuộc thành phẩm của năm 2000 của ngành đạt 32 triệu
bia. Những các chuyên gia nhận xét đây là da chất lượng thấp. Họ phân tích : Để
sản xuất được sản phẩm da thuộc có chất lượng cao phải có quy hoạch tổng thể từ
chăn nuôi gia súc được chăn nuôi hỗn hợp, chủ yếu để lấy thịt sức kéo và sữa,
không có loại dành riêng cho lấy da. Khâu giết mổ lại hoàn toàn bằng thủ công
không có công nghệ lột da). Vì vậy mà vừa lãng phí da vừa tốn kém cho làm sạch
môi trường và quan trọng nhất là da bị thủng, rách không đủ tiêu chuẩn làm sản
Trung Quốc – một quốc gia hiện đang rất mạnh về da giày.
2. Đánh giá hoạt động xuất khẩu
2.1. Những thành tựu đạt được
Bắt đầu từ năm 1993, ngành da giày đã khởi sắc trở lại nhờ làn sóng di
chuyển sản xuất và cùng với đó là sự di chuyển của đơn hàng, từ những vùng có
truyền thống về sản xuất da giày như Đài Loan, Hàn Quốc sang nước ta. Nếu như
thời kỳ 1990 –1992 mới chỉ có 4 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động
trong lĩnh vực da giày thì sang đầu năm 1998 cả nước có 32 doanh nghiệp với tổng
vốn đầu tư đã thực hiện là 124 triệu USD, năng lực sản xuất đạt 87 triệu đôi giày dép/năm và 34 triệu sản phẩm da/năm. Cho tới nay toàn ngành giày dép có khoảng
130 nhà máy và cơ sở sản xuất với 250 dây chuyền đồng bộ, công suất thiết kế đạt
265 triệu đôi/năm.
Về cơ cấu sản phẩm, giày thể thao đạt 130 triệu đôi (49%), giày vải đạt 48
triệu đôi, giày nữ đạt 38 triệu đôi (14%), dép đạt 48 triệu đôi (18%) và giày da đạt
4 triệu đôi (1,5%) (Năm 1999).
Quá trình đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh ngành da giầy đã thu hút
và đào tạo được một đội ngũ lao động đông đảo, tính đến 31/12/1998 đã có hơn
200.000 lao động làm việc, đông gấp 12 lần, có tay nghề tốt hơn, học vấn cao hơn,
phong cách làm việc hiện đại hơn so với trước 1992. Trình độ quản lý kỹ thuật sản
xuất, quản trị kinh doanh, khả năng tiếp thị…của đội ngũ cán bộ quản lý đã được
nâng lên rõ rệt.
Về giá xuất khẩu, do chi phí sản xuất và chi phí lưu thông thấp nên giá hàng
giày dép xuất khẩu của Việt Nam tương đối thấp, có thể cạnh tranh được với các
nước khác. Số lượng các sản phẩm giày dép chất lượng cao được sản xuất và xuất
khẩu tăng lên đã góp phần nâng cao đơn giá xuất khẩu bình quân từng chủng loại
tăng cao hơn.
Về kim ngạch xuất khẩu, hàng giày dép là một trong những mặt hàng có tốc
độ tăng trưởng nhanh nhất : Năm 1997 là 965,5 triệu USD, tăng 82,2% năm 1998 :
xuất hoặc mua sản phẩm của tư. Yếu kém này làm hạn chế rất nhiều về hiệu quả
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, ảnh hưởng đến thế cạnh tranh của các
sản phẩm.
- Tình trạng quá yếu kém về tài lực, vốn đầu tư đều phải tự vay trung hạn
với lãi suất cao, nếu trên 70% các doanh nghiệp Việt Nam phải thực hiện gia công
sản phẩm cho nước ngoài. Phương thức này đang tạo điều kiện cho khách hàng
nước ngoài vào khai thác thị trường lao động rẻ (chưa đến 0,3 USD cho 1 giờ công
lao động giầy, thấp nhất so với các nước trong khu vực).
- Trình độ quản lý kỹ thuật công nghệ thiết kế và phát triển mẫu mốt quản lý
và vận hành sản xuất kinh doanh của cán bộ Việt Nam còn yếu kém do mới hình
thành ngành kinh tế kỹ thuật, chưa có trường lớp đào tạo. Phần lớn cán bộ Việt
Nam chưa thể tự mình chủ động độc lập điều hành sản xuất và kỹ thuật một cách
khoa học, đồng bộ, đúng tiến độ và có chất lượng.
- Do lượng hàng tồn kho lớn và sự mất giá của đồng EURO, nên sức mua của
thị trường truyền thống của chúng ta (EU) đang giảm mạnh vào năm 2000. Đặc biệt là đối với giày vải và giày thể thao, lượng đơn hàng năm 2000 chỉ đạt từ 50 –
70% so với 1999.
Thêm vào đó là sự cạnh tranh khốc liệt với Trung Quốc, một đất nước có thế
mạnh giống Việt Nam nhưng lớn hơn và mạnh hơn ta nhiều lần. Mới đây Trung
Quốc lại có lợi thế thương mại hơn ta do hiệp định Thương mại Trung Mỹ đã có
hiệu lực về Trung Quốc đã gia nhập WTO. Bên cạnh đó giá giày dép Trung Quốc
luôn thấp hơn ta từ 10 – 30% do chính sách hỗ trợ xuất khẩu của Trung Quốc tốt
hơn, năng suất lao động ở Trung Quốc cao hơn đặc biệt là Trung Quốc đã đầu tư
và sản xuất được hầu hết các nguyên phụ kiện cho giày dép nên có điều kiện hạ
giá thành sản phẩm và hoàn toàn chủ động trong sản xuất và đa dạng về mẫu mốt.
Có lẽ đây là thách thức lớn nhất đối với ngành da giầy Việt Nam.
- Thị trường Mỹ và một số nước mở rộng đối với ngành Da giầy Việt Nam
với những ưu đãi về thuế quan và phi thuế qaun, nhưng cũng có những đòi hỏi
Các nước và các khu vực có mức tiêu thụ và nhập khẩu giày dép lớn trên thế
giới mà Việt Nam có lợi thể đã xâm nhập vào EU, Mỹ, Nhật Bản. Căn cứ vào tiềm
năng và lợi thể của Việt Nam trong các năm tới có thể đạt tốc độ tăng trưởng hàng
năm khoảng 20 -25% về kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, việc Trung Quốc gia
nhập WTO, được tháo bỏ các rào cản thương mại sẽ làm những thế mạnh của ta bị
đe doạ và mờ nhạt. Tuy nhiên ban đầu Trung Quốc vẫn bị khống chế bởi hạn
ngạch và một số điều khoản chống phá giá của WTO nên ta cũng không gặp biến
động ngay, song thời gian để đối phó cũng không còn nhiều.
Cần phải nói thêm rằng ngành da giầy của Việt Nam có rất nhiều điểm thuận
lợi, nguồn lao động dồi dào. Nhân công tại Việt Nam, Inđônêxia vẫn rẻ hơn nhiều
so với các nước trong khu vực. Tham gia vào sản xuất da giầy có nhiều loại hình
doanh nghiệp như tư nhân, Nhà nước, liên doanh và đây là cơ hội để học hỏi, trao
đổi kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý và cạnh tranh nhau cùng tiến lên.
Hơn nữa, những cánh cửa mở ra cho Việt Nam như AFTA, WTO…cũng sẽ là điều
kiện thuận lợi để công nghiệp da giày nói riêng và ngành công nghiệp nói chung
cuả Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Dự đoán trong 10 năm nữa sản lượng giày dép,
cặp túi các loại của ta khoảng 720 triệu chiếc, kim ngạch xuất khẩu là 4,7 tỷ USD
sản xuất gia công được thay bằng sản xuất khép kín, 80 triệu bia da, 250 triệu yard
giả da và các loại vải 550000 tấn đế giày, 10000 tấn keo tổng hợp… là nguyên phụ
liệu sản xuất trong nước. Việt Nam sẽ có các Trung tâm thương mại, trung tâm
nghiên cứu thiết kế mẫu mốt ngang tầm khu vực. Sản phẩm có mặt ở tất cả các thị