LUẬN VĂN: Chiến lược hướng về xuất khẩu của Việt Nam từ nay đến năm 2005 - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Chiến lược hướng về xuất khẩu của
Việt Nam từ nay đến năm 2005 Lời giới thiệu

Trong thế giới hiện đại, không một quốc gia nào bằng chính sách đóng cửa với
nước ngoài mà lại phát triển có hiệu quả nền kinh tế trong nước. Muốn phát triển
nhanh mỗi nước không chỉ đơn độc dựa vào nguồn lực của mình mà phải biết tận
dụng có hiêụ quả tất cả những thành tựu kinh tế, khoa học kỹ thuật của loài người
đã đạt được. Chính vì lẽ đó V.I. Lênin đã khẳng định "có một sức mạnh lớn hơn
nguyện vọng, ý chí và quyết tâm của bất cứ Chính phủ hay giai cấp thù định nào, đó
là quan hệ kinh tế thế giới".

Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ để thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế - xã hội,
khai thác tôi ưu các nguồn lực và lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn
định, mỗi nước phải xác định cơ cấu kinh tế hợp lý trang bị kỹ thuật ngày càng hiện
đại do các ngành kinh tế. ở nước ta đang phát triển quá trình ấy gắn liền với quá
trình công nghiệp hoá.
Vậy công nghiệp hoá như thế nào để phát triển kinh tế -xã hội của một đất
nước.
Trong các sách báo kinh tế hiện nay người ta thường gặp nhiều thuật ngữ khác
nhau liên quan đến đường hướng công nghiệp hoá ở các nước đang phát triển.
Những thuật ngữ phổ biến là "mô hình phát triển", "mô hình công nghiệp hoá",
"chiến lược công nghiệp hoá" Việc luận giải những thuật ngữ này không phải là
đơn giản. Bởi lẽ, nếu không đủ chứng cứ xác thực và cụ thể về xuất xứ và nội dung
của chúng, việc luận giải sẽ mang tính suy lý chủ quan áp đặt. Thật ra việc đi sâu
vào luận giải các thuật ngữ là không cần thiết. Điều quan trọng không phải là từ ngữ
sử dụng mà là nội dung cốt lõi của vấn đề.
Hiện nay, ngoài một số ít nước đang phát triển đã cất cánh và đang tiến tới sự
trưởng thành một cách ổn định, phần lớn các nước đang phát triển vẫn chưa thoát
khỏi cái "vòng luẩn quẩn" của lạc hậu đói nghèo và chậm phát triển về kinh tế và xã
hội. Các nước này đang mày mò tìm kiếm phương hướng và giải pháp dài hạn trong
việc thực hiện quá trình công nghiệp hoá nhằm nhanh chóng giải quyết các vấn đề
kinh tế xã hội bức xúc. Việc xác định chiến lược công nghiệp hoá theo kiểu nào đó
là nhiệm vụ tiền đề phức tạp. Nếu quan niệm vấn đề một cách giản dị thì xác định mô hình chiến lược về công nghiệp hoá đòi hỏi phải xác định được hệ thống các
quan điểm phát triển, các phương hướng dài hạn phát triển kinh tế xã hội những giải
pháp then chốt thực hiện mục tiêu và phương hướng đã định nhằm đưa đất đến
trạng thái tương lai ấy.
Trong khoa học kinh tế hiện đại có nhiều cách tiếp cận chiến lược công nghiệp
hoá. Bản thân công nghiệp hoá là một quá trình nhiều mặt, bởi vậy "chiến lược"

1
, ở Philipins chiến lược thay thế nhập khẩu không làm giảm sự phụ thuộc vào
bên ngoài, trái lại càng phụ thuộc nhiều hơn về máy móc thiết bị, nguyên liệu và sản
phẩm trung gian. Do đó GDP bình quân đầu người liên tục giảm từ 250 đôla năm
1969 xuống 230 đôla năm 1970
2
.
Hai là: Công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu tất yếu đưa đến cơ cấu kinh tế mở
rộng, bao gồm nhiều ngành nghề. Với cơ cấu mở rộng đất nước không tập trung
được nhân tài, vật lực vốn còn hạn chế vào những ngành mà trong nước có điều
kiện phát huy lợi thế so sánh với các nước khác trên thế giới. Mặt khác thị trường
trong nước bị bão hoà và trở nên chật hẹp so với khả năng phát triển của sản xuất.
Những cơ sở sản xuất dựa trên kỹ thuật, công nghệ mới, có công suất lớn do
quá trình công nghiệp hoá tạo ra đã không phát huy được hiệu quả. ở Thái Lan qua
4 kế hoạch 5 năm (từ năm 1961 đến 1981) mục tiêu của chiến lược công nghiệp hoá
thay thế nhập khẩu không thực hiện được mà ngày càng phụ thuộc vào nhập khẩu,
nhập siêu ngày càng lớn từ 12,08 tỷ bạt năm 1976 lên 25,83 tỷ bạt năm 1978.
Ba là: việc thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước có thể sản xuất
được với bất cứ giá nào vì mục đích hạn chế nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ đã đưa
đến tình trạng có những sản phẩm, sản xuất ra đạt hiệu quả thấp, gây lãng phí lao
động sống và lao động vật hoá trong nước so với sản phẩm nếu được nhập khẩu.
Đối với sản phẩm do cơ sở sản xuất của nước ngoài đầu tư, các nhà đầu tư nước
ngoài thu được lợi nhuận siêu ngạch và người dân trong nước phải chịu mức giá
cao hơn mức giá quốc tế.
Bốn là: Việc lập hàng rào bảo hộ sản xuất trong nước và chính sách trợ giúp
cho sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu thường đưa đến tâm lý ỷ lại, chờ đợi
trong sản xuất và độc quyền trong buôn bán. Việc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá thay
thế nhập khẩu có mục đích tiết kiệm ngoại tệ, dành số ngoại tệ còn hạn hẹp vào việc
nhập khẩu thiết bị kỹ thuật là đúng hướng. Song do nhấn mạnh một chiều và thái


Tư tưởng cơ bản của chiến lược này là phát triển các ngành sản xuất sản phẩm
chủ yếu phục vụ xuất khẩu, trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của đất nước.

2
Tư liệu kinh tế trước thành viên ASEAN 1993- Trang 196 Nhằm phát huy lợi thế về tài nguyên phong phú nhân công dồi dào và rẻ, trong
thời gian đầu thông thường các nước phát triển tập trung vào phát triển các ngành
khai thác và sản xuất sản phẩm thô xuất khẩu sang nước công nghiệp phát triển. Sự
phát triển này trong giai đoạn nhất định để tạo điều kiện phát triển kinh tế, giải
quyết những vấn đề kinh tế -xã hội cấp thiết của đất nước. Tuy nhiên việc tập trung
phát triển các ngành này gặp một số trở ngại:
- Cần sản phẩm thô trên thị trường quốc tế tăng chậm.
- Điều kiện mậu dịch bất lợi: Giá nguyên liệu thô giảm hoặc tăng chậm, giá
sản phẩm chế biến tăng nhanh.
- Sự phát triển các ngành này trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào sự đầu tư
của các nước công nghiệp phát triển.
Sự tập trung quá mức vào một ngành ở một nước lại dẫn đến toàn bộ nền kinh
tế phụ thuộc vào sự biến động của ngành ấy. Đó là điều mà các nhà kinh tế học đã
đúc rút thành "sự bất lợi của chuyên môn hoá quá hẹp".
Các ngành kinh tế sử dụng nhiều lao động sống (như dệt, may mặc, lắp ráp các
sản phẩm cơ khí và điện tử ) cũng được chú ý phát triển nhằm khai thác lợi thế về
nhân công.
Sự phát triển có kết quả những ngành này sẽ tạo nên những điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển các ngành kinh tế khác và giải toả những căng thăng về kinh tế -
xã hội của đất nước. Giai đoạn tiếp theo kế thừa những kết quả này, các ngành chế
biến được chú trọng phát triển nhiều hơn, tỷ trọng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm
thô giảm dần.
Giai đoạn phát triển thứ ba gắn liền vưói quá trình "cất cánh" và "trưởng

công nghiệp hoá hướng mạnh về xuất khẩu kết hợp với thay thế nhập khẩu một số
mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu quả. Đến Đại hội VIII, Đảng ta đã khẳng định
dứt khoát đường lối chiến lược "xây dựng nền kinh tế hướng về xuất khẩu".
Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp, từ công nghiệp chế biến dựa
trên lao động thủ công, kỹ thuật giản đơn đến công nghiệp chế tạo dựa trên vốn cao và kỹ thuật hiện đại. Trong đó sự chuyển dịch cơ cấu ngành chế tạo và tỷ lệ hàng
chế tạo xuất khẩu có xu hướng tăng nhanh.
Công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu không phải là mục đích tự thân và nó là
phạm trù lịch sử cho nên mục tiêu trực tiếp cụ thể không thể nào khác là nhằm phát
triển kinh tế - xã hội nhanh bền vững có hiệu quả. Trước mắt trong chặng đường
đầu tiên này công nghiệp hoá phải nhằm đưa nền kinh tế nước ta "ra khỏi khủng
hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo
và kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh tạo
điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào thế kỷ 21".
Thực chất của chiến lược kinh tế hướng vào xuất khẩu là đặt nền kinh tế quốc
gia trong quan hệ cạnh tranh trên thị trường quốc tế nhằm: phát huy lợi thế so sánh
(cả về tự nhiên, kinh tế , xã hội), buộc sản xuất trong nước phải luôn đổi mới công
nghệ, không thể tồn tại với năng suất thấp kém, mau chóng nâng cao khả năng tiếp
thị, tự do hoá thương mại. Đích cuối cùng là đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu của thị
trường và giá rẻ, kể cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Hướng về xuất
khẩu không có nghĩa là xem nhẹ nhu cầu trong nước, không chú ý thay thế nhập
khẩu. Quan điểm hướng về xuất khẩu được hiểu theo nghĩa: không chỉ sản phẩm
xuất khẩu mà tất cả các sản phẩm sản xuất trong nước phải có sức cạnh tranh trên
thị trường thế giới, từ đó mà cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng có hiệu quả
nhất.
Cùng với đó, chiến lược hướng về xuất khẩu nhằm gắn sản xuất và nền kinh tế
trong nước với các hoạt động của nền kinh tế thế giới, nối kết các nền kinh tế quốc

nguy cơ tụt hậu kinh tế ngày càng sâu và xa hơn của Việt Nam.
Để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu đó, dĩ nhiên, nền kinh tế nước ta phải tăng
trưởng thực tế cao hơn so với các nước khác. Đồng thời phải duy trì tốc độ cao hơn
đó liên tục nhiều năm. Nói khác đi nền kinh tế Việt Nam phải tạo ra sự "thần kỳ"
mới hơn cả sự "thần kỳ" mà các nền kinh tế Đông á đã tạo ra 3-4 thập niên trước
đây.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy trong điều kiện hiện đại, muốn tăng trưởng
nhanh lâu bền cần tạo ra một động lực mạnh là tăng trưởng xuất khẩu. Các nước Đông á sở dĩ vượt hẳn nhiều nước khác có cùng điểm xuất phát là do họ theo đuổi
mô hình tăng trưởng đưa vào xuất khẩu trong nhiều năm liên tục. Nhưng cần lưu ý
rằng chiến lược tăng trưởng xuất khẩu được thực thi ở đây là tăng trưởng xuất khẩu
hàng chế tạo chứ không phải tăng trưởng xuất khẩu bất kỳ nào. Nigeria cũng theo
mô hình tăng trưởng xuất khẩu nhưng đã chịu thất bại vì chủ yếu dựa vào xuất khẩu
đầu thô.
Những điều nói trên gợi ý quan trọng về nguyên tắc lựa chọn chiến lược mô
hình công nghiệp hoá cho quốc gia đi sau. Tuy nhiên không nên quên rằng so với
thời đại của các "con rồng" trước đây điều kiện phát triển hiện nay của những nước
đi sau như ta, đặc biệt là trong hoàn cảnh quốc tế đã có nhiều biến đổi sâu sắc. Đó là
những lý do để khẳng định tính đúng đắn của việc lựa chọn đường lối tăng trưởng
dựa vào xuất khẩu của Đảng và Nhà nước ta. Bên cạnh đó phải xem xét, đánh giá
kỹ các điều kiện thực hiện đường lối đó. Chỉ trên cơ sở này mới có thể tìm kiếm
được các chính sách và giải pháp phù hợp.
Chiến lược tăng trưởng dựa trên xuất khẩu mang tính quy luật và tính quy luật
này quy định cả từ hai phía yêu cầu và khả năng thực hiện.
Thứ nhất: Đứng về phía đòi hỏi khách quan mà xét thì nước ta vẫn thuộc vào
một trong những nước nghèo nhất thế giới, một nước nông nghiệp lạc hậu chưa ra
khỏi "xã hội truyền thống" để sang xã hội "văn minh công nghiệp". Do đó khách
quan đòi hỏi phải tiến hành tăng trưởng dựa trên xuất khẩu. Như vậy định hướng

4. Những thuận lợi và thách thức của Việt Nam trong việc thực hiện chiến
lược hướng về xuất khẩu.
4.1. Thuận lợi:
Việc thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu đòi hỏi phải thực hiện một cách
bao quát, toàn diện và tổng hợp của nhiều vấn đề: Phải đánh giá điều kiện thuận lợi
và khó khăn để thấy được khả năng của việc thực hiện, từ đó đưa ra các chính sách
và biện pháp hợp lý nhằm tạo điều kiện thực hiện tốt hơn chiến lược.
Đối với nước ta hiện nay, việc đánh giá mặt thuận lợi trong việc thực hiện
chiến lược là rất cần thiết nó vừa cho thấy tính đúng đắn của việc lựa chọn chiến
lược và khả năng mang lại thành công của nó. Việc đánh giá các nguồn lực có lợi thế so sánh trong phát triển kinh tế đối ngoại của nước ta sẽ cho thấy mặt thuận lợi
của chiến lược hướng về xuất khẩu.
ở nước ta khi nói đến nguồn lực sản xuất có lợi thế so sánh để phát triển kinh
tế đối ngoại thường đề cập đến ba nguồn lực cơ bản là: nguồn nhân lực, tài nguyên
thiên nhiên và vị trí địa lý thuận lợi của đất nước. Đây cũng là những nhân tố đầu
tiên của một quốc gia khi xem xét có lợi thế hay không và lợi thế như thế nào so với
các nước trên thế giới.
a. Nguồn nhân lực: Đến năm 1998 dân số nước ta đã là hơn 78 triệu người
trong đó khoảng 50% là lực lượng lao động mỗi năm có khoảng trên 1 triệu thanh
niên bước vào độ tuổi lao động. Giá lao động của một người Việt Nam rẻ. Điều đó
tạo thuận lợi cho Việt Nam khi tham gia phân công lao động quốc tế. Người Việt
Nam có truyền thống lao động cần cù, có tinh thần vượt khó và đoàn kết cao, thông
minh sáng tạo có khả năng nắm bắt khoa học kỹ thuật hiện đại và ứng dụng nó, có
khả năng thích ứng với những tình huống phức tạp.
Người Việt Nam ngày càng được nâng cao về thể lực trình độ kỹ thuật, kỷ
luật, trình độ quản lý. Với truyền thống lao động, học tập trải qua những thử thách
của lịch sử dân tộc, nguồn lực lao động của Việt Nam được nhân lên và có sức
mạnh nhiều hơn vì lao động đó chứa đựng trí tuệ tầm cao của thời đại.

có lợi thế so sánh cao trên cơ sở các nguồn lực sản xuất dồi dào trong nước.
- Thêm vào đó cơ chế quản lý kinh tế của Việt Nam đã trở nên nhạy cảm hơn
bởi chính sách mở cửa làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, tạo thuận lợi cho
kinh tế Việt Nam hoà nhập và kinh tế toàn cầu. Với đường lối mở rộng quan hệ
quốc tế hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước các tổ chức
quốc tế, cùng một thời điểm Việt Nam có thể thực hiện những sách lược kinh tế đối
ngoại khác nhau tương hợp với các nước có các chế độ kinh tế - xã hội khác nhau
để đạt mục tiêu kinh tế xã hội của mình.
Hiện nay Việt Nam đang là thành viên của ASEAN, AFTA và chuẩn bị tham
gia hội nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới khác như WTO. Điều đó tạo thuận lợi
cho hàng hoá của Việt Nam lưu thông trên thị trường khu vực và thế giới.
Nhìn ra bên ngoài cục diện thế giới đang thay đổi nhanh chóng và sâu sắc trên
nhiều mặt, xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Châu á- Thái Bình Dương sẽ tiếp tục phát triển năng động và đạt được tốc độ tăng trưởng
cao hơn các khu vực khác. Trong khu vực hoạt động đầu tư ngày càng mạnh mẽ,
tiếp tục diễn ra sự liên kết kinh tế nhiều tầng nấc. Các trung tâm kinh tế thế giới, các
nước lớn đều hướng trọng tâm hoạt động kinh tế chính trị vào Châu á- Thái Bình
Dương. Điều này cho thấy sự thuận lợi quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của
Việt Nam.
4.2. Thách thức.
Không một quốc gia, dân tộc nào phát triển trong thời đại ngày nay mà không
đứng trước những thách thức và đều là thách thức to lớn.
Nước ta trên đường tăng trưởng nhằm phát triển kinh tế - xã hội dựa trên xuất
khẩu ít nhất là phải đối mặt với nhưng thách thức chủ yếu sau đây.
a. Điểm xuất phát thấp.
- Nước ta vẫn còn là một nước nghèo và kém phát triển. GDP/người năm 1997
là 321 USD, 20% số dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ.
- Dân số còn tăng nhanh (1,9%) và đặc biệt mật độ dân cư trên nhiều vùng rất

quyền và lợi ích. Bên cạnh đó Mỹ và phương Tây tiếp tục mưu toan thực hiện "diễn
biến hoà bình" ở Việt Nam gây áp lực với ta về "dân chủ, nhân quyền". Chính sách
hai mặt của Trung Quốc với ta chưa hề thay đổi. Đối phó sức uy hiếp này ngày càng
tăng, cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực Châu á- Thái Bình Dương diễn ra phức
tạp đe doạ an ninh, chủ quyền và lãnh thổ nước ta buộc chúng ta phải hết sức coi
trọng việc củng cố và tăng cường khả năng quốc phòng.
d. Nguồn nhân lực bị hạn chế.
Nước ta có tiềm năng lớn về nguồn nhân lực, chủ yếu là về mặt tinh thần và
văn hoá. Nhưng ở giai đoạn hiện nay Việt Nam đang phải đương đầu với thách đố
về lợi thế so sánh của nguồn nhân lực. Mặt hạn chế và yếu kém về chất lượng (kiến
thức, kỹ năng, tác phong) của nguồn nhân lực nhất là ở các vùng nông thôn, miền
núi, còn là một trở ngại lớn cho sự phát triển. Đòi hỏi thì rất lớn và cấp bách song
khả năng đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực lại quá nhỏ bé. e. Vốn đầu tư.
Khác với những năm đầu thực hiện chính sách đổi mới khi mà sự tăng trưởng
phụ thuộc phần lớn vào các yếu tố thuộc về cơ chế, nền kinh tế bước vào giai đoạn
muốn tăng trưởng nhất thiết phải có vốn đầu tư. Trong khi đó, đầu tư trực tiếp của
nước ngoài đang có xu hướng chững lại, tốc độ rải ngân vốn ODA chậm, cùng với
hiện tượng co cụm lại trong việc huy động và cho vay vốn của các ngân hàng trong
nước đang tạo nên mối lo ngại về tình trạng suy giảm vốn đầu tư, ảnh hưởng đến
tốc độ tăng trưởng kinh tế trong tương lai.
Những thách thức nêu trên chỉ là một phía mà ở phía kia chính là cơ hội, thậm
chí là thời cơ. Vấn đề là phải có chính sách đúng để khai thác mọi thời cơ vượt qua
thách thức đi tới mục tiêu.
5. Kinh nghiệm của các nước.
Để xây dựng và thực hiện tốt "chiến lược hướng về xuất khẩu" tôi cho rằng,
nước ta cần nghiên cứu vận dụng những kinh nghiệm của nước ngoài, đặc biệt là
chú trọng kinh nghiệm của các nước trong khu vực trong quá trình thực hiện chiến

hướng cơ cấu kinh tế quốc dân đã lựa chọn. Xuất khẩu phải nhằm mục tiêu tạo ra
các tiền đề, điều kiện phục cụ cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân
theo hướng từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp, từ công nghiệp
chế biến dựa trên lao động thủ công, kỹ thuật đơn giản đến công nghiệp chế tạo dựa
trên công nghệ hiện đại. Đồng thời cơ cấu kinh tế quốc dân ấy phải trở thành mắt
khâu không thể thiếu được trong hệ thống phân công lao động của khu vực và quốc
tế.
Thứ ba, hướng về xuất khẩu thì sản phẩm phải chen chân và đứng được ở thị
trường bên ngoài. Trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế còn thấp, khả năng
cạnh tranh của những sản phẩm xuất khẩu trên thị trường thế giới còn hạn chế thì
các yếu tố vốn, kỹ thuật, công nghệ phải được chuyển từ ngoài nước vào trong
nước một cách thuận lợi và dễ dàng. Điều này có liên quan chặt chẽ đến vai trò của
Chính phủ có khả năng tạo ra môi trường chính trị - xã hội ổn định, môi trường kinh
tế - pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho các nhà sản xuất trong và ngoài nước với cơ chế,
chính sách và bộ máy có khả năng huy động đến mức tối đa các nguồn lực bên
trong, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được tiếp nhận từ bên ngoài, tận dụng tối
đa các cơ hội khách quan và đối phó có hiệu quả với những thách thức trước những
biến động thường xuyên của thị trường trong và ngoài nước. II- Các chính sách để thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu.
1. Chính sách cơ cấu xuất khẩu - Quy hoạch xuất khẩu.
Nhân tố quyết định quy mô, nhịp độ xuất khẩu hàng hoá là cơ cấu hàng xuất
khẩu và những mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Xác định cơ cấu hàng hoá có hiệu quả
và những mặt hàng chủ lực là nội dung quan trọng của chính sách mặt hàng xuất
khẩu.
Trong nền kinh tế thị trường việc đổi mới chính sách cơ cấu hàng xuất khẩu
phải căn cứ vào: thị trường xuất khẩu; điều kiện và khả năng sản xuất ở trong nước;
hiệu quả. Trong ba yếu tố này, hiệu quả là yếu tố quan trọng nhất trong sự lựa chọn
cơ cấu và mặt hàng xuất khẩu.

hàng hoá đáng kể cho xuất khẩu trực tiếp và nguyên liệu chế biến hàng xuất khẩu.
Để biến gạo thành mặt hàng xuất khẩu chiến lược cần tạo ra những vùng sản
xuất lúa chuyên cho xuất khẩu, có chính sách ưu tiên vốn, khoa học kỹ thuật và cơ
sở hạ tầng đầy đủ cho các khâu: thâm canh, chế biến, bảo quản và vận chuyển. Phải
khẳng định vùng sản xuất lúa gạo chủ yếu cho xuất khẩu là đồng bằng sông Cửu
Long và một số tiểu vùng đồng bằng sông Hồng. Cần phải tạo ra giống lúa thơm
ngon, hạt dài, ít bị gãy trong quá trình xay xát. Song song với việc cải tiến thiết bị
xay xát, cần chú trọng nâng cao chất lượng thóc trong khâu phơi sấy.
Các mặt hàng nông sản khác muốn đạt được giá trị cao cần phải chuyển sang
dạng chế biến sẵn thay cho việc xuất khẩu dạng thô hoặc sơ chế. Vì vậy cần phải có
chính sách bảo đảm sản xuất, cần phải đầu tư bằng mọi nguồn vốn, khoa học kỹ
thuật, công nghệ để chuyển những mặt hàng nông sản xuất khẩu thô có giá trị thấp
sang những mặt hàng đã qua chế biến công nghiệp có giá trị cao.
Các mặt hàng công nghiệp và khai khoáng, sản lượng khai thác dầu thô và
than đá xuất khẩu ngày càng tăng nhanh và khả năng xuất khẩu trong những năm tới
con lớn. Tuy nhiên cần phải có đầu tư thiết bị, kỹ thuật khai thác, xử lý nguyên liệu
vận tải và cảng.
Một vấn đề nữa cần phải thấy rằng ở những ngành nào, địa phương nào, sản
phẩm nào có thể thực hiện xuất khẩu thì phải đầu tư sản xuất ngay. ở những nơi khác chưa có điều kiện thì hoặc là tạo dần điều kiện cho nó hoạt động hoặc hướng
hoạt động của nó vào phục vụ những ngành, địa phương, sản phẩm xuất khẩu.
3. Chính sách mở cửa thị trường.
Để thúc đẩy chiến lược hướng về xuất khẩu, Đảng và Nhà nước chủ trương
mở rộng và tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại, thực hiện phương châm "mở
cửa" Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, các tổ chức chính phủ hay phi
chính phủ nhằm tìm kiếm thị trường và bạn hàng cho các chi phí xuất khẩu.
Mặt khác để thúc đẩy xuất khẩu cần phải có chính sách mở rộng thị trường
tiêu thụ, tăng cường hợp tác kinh tế, tổ chức và tìm hiểu tốt thị trường bên ngoài.

4. Chính sách đầu tư trong và ngoài nước
Đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành của toàn bộ hoạt động đầu tư của
quốc gia - Trong những năm trước mắt khi mà nguồn vốn tích luỹ nội bộ còn hạn
hẹp thì đầu tư nước ngoài (đầu tư trực tiếp) chiếm vị trí quan trọng. Thông qua đầu
tư trực tiếp của nước ngoài, chúng ta tranh thủ được vốn, kỹ thuật và công nghệ
mới, mở rộng thị trường ngoài nướ, tiếp thu kinh nghiệm tiên tiến, trên cơ sở đó xây
dựng những cơ sở kinh tế mới, hiện đại hoá cơ sở hiện có nhằm tạo việc làm cho
người lao động, khai thác một phần những tiềm năng của đất nước để tăng nhanh
nguồn hàng xuất khẩu.
Hoạt động đầu tư nước ngoài đóng vai trò to lớn cho việc thực hiện chiến lược
công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu . Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt
cơ cấu xuất khẩu tiên tiến chỉ có 26% là nguyên liệu, còn lại 74% là hàng chế biến
sâu. Hiện nay khu vực có đầu tư nước ngoài chiếm 100% sản lượng dầu thô 44,8%
sản lượng thép Trong đó kim ngạch xuất khẩu 1996 phần đóng góp của khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 11%, nếu tính cả xuất khẩu dầu thô thì tỷ lệ này lên
đến 25%. Trong thời gian tới chắc chắn phần xuất khẩu của khu vực này sẽ còn tăng
lên nữa.
Việc thu hút đầu tư nước ngoài được coi là giải pháp quan trọng để thực hiện
mục tiêu phát triển kinh tế dựa trên xuất khẩu . Do đó ngày 12/11/1996 Quốc hội
nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Với việc tạo ra một sân chơi thông thoáng, hấp dẫn, bình đẳng, đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam không ngừng tăng cả về số vốn và số dự án.
Trongthời gian thực hiện Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nhà nước nên
tuỳ thuộc vào từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể ban hành thêm các ưu đãi đầu tư,
song không nên thay đổi luật một cách quá nhanh chóng để tránh gây tình trạng bất
ổn trong quy chế.
Việc thu hút đầu tư nước ngoài nhằm khuyến khích xuất khẩu của Việt Nam
cần đặt trong tương quan so sánh với các nước trong khu vực và đặt trên quan điểm

thuế nhập khẩu đối với thiết bị, vật tư tiêu dùng cho gia công hàng, vật tư nhâp khẩu
để sản xuất hàng xuất khẩu được hoàn lại thuế nhập khẩu đã nộp.
Trong kỳ họp Quốc hội vừa qua Luật thuế giá trị gia tăng đã được thông qua
và sẽ được áp dụng từ này 01/01/1999, trong đó quy định mức thuế suất 0% đối với
tất cả các hàng hoá xuất khẩu và các hàng hoá này còn được thoái trả thuế giá trị gia
tăng ở các khâu trước. Đây thực sự là một biện pháp tài chính khuyến khích xuất
khẩu tích cực của Việt Nam.
b. Tỷ giá hối đoái: Sự thay đổi tỷ giá hối đoái là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng
đến hiệu quả xuất khẩu và đương nhiên nó ảnh hưởng đến việc khuyến khích xuất
khẩu. Tỷ giá hối đoái liên quan chặt chẽ đến quản lý kinh tế vĩ mô (cán cân thanh
toán, lạm phát, quản lý tiền tệ ). Vì vậy, chính sách tỷ giá hối đoái luôn được xem
xét trong bối cảnh của chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Vấn đề then chốt là phải
tạo ra tỷ giá hối đoái hiện thực nhằm bảo đảm đủ để khuyến khích xuất khẩu. Các
nhà xuất khẩu được thực hiện hối đoái trong điều kiện Chính phủ có khả năng kiểm
soát tỷ giá hối đoái.
Việc thả nổi tỷ giá hối đoái có điều tiết vĩ mô của Nhà nước tạo ra môi trường
cạnh tranh tự do, công bằng cho các nhà kinh doanh mọi thành phần, loại bỏ được
những tổ chức cá nhân doanh nghiệp yếu kém, thua lỗ.
Không nên để đồng tiền Việt Nam và đồng tiền nước ngoài chênh lệch quá xa
so với tỷ giá trên thị trường, khắc phục tình trạng ngân hàng không có ngoại tệ để
bán ra, các đơn vị kinh tế tự do bán ngoại tệ cho nhau. Do đó, cần đổi mới cơ chế
quản lý ngoại tệ theo hướng ngân hàng Nhà nước mua lại toàn bộ số ngoại tệ của các đơn vị xuất khẩu theo tỷ giá kinh doanh trên nguyên tắc thuận mua vừa bán.
Nhà nước cần dành một số ngoại tệ cho ngân hàng ngoại thương vay để làm vốn (ít
nhất là 100 triệu USD kinh doanh ngoại tệ và điều tiết tỷ giá cho thị trường ổn
định, không để đột biến.
Xét từ góc độ chính sách như vậy người ta đã rút ra một kết luận khá tổng quát
rằng: bất cứ nước noà muốn thúc đẩy tăng trưởng chung bằng động lực xuất khẩu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status