TIỂU LUẬN:
Công ty dệt may Đông á - DAGATEX
với những bước tiến vào thị
trường Mỹ
Lời nói đầu
Hàng dệt may là lĩnh vực các nước đang phát triển có lợi thế và tiềm năng
phát triển cao bởi đặc thù của ngành này là sử dụng nhiều lao động, công nghệ
tương đối dễ tiếp cận, quy mô thị trường tiêu thụ lớn…Do vậy, trong định hướng
phát triển kinh tế đất nước, Đảng và nhà nước ta đã quan tâm, tạo mọi điều kiện
thuận lợi để đưa dệt may trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn hướng
ra thị trường khu vực và quốc tế.
Trong những năm qua, mặc dù kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
liên tục tăng trưởng mạnh song những khó khăn, thách thức vẫn còn rất nhiều. Do
vậy, để đạt được và vượt mục tiêu xuất khẩu theo quy hoạch tổng thể của ngành dệt
may Việt Nam đến năm 2005 là 3 tỷ USD và 2010 là 4 tỷ USD đòi hỏi ngành phải
duy trì được mức tăng trưởng liên tục 14%/ năm. Đây là mức tăng trưởng không
phải quá cao, nhưng muốn đạt được và vượt mục tiêu này thì cần có nhiều giải pháp
đồng bộ, trong đó việc đẩy mạnh xuất khẩu và tăng cường sức cạnh tranh của hàng
dệt may Việt Nam tại thị trường Mỹ là một trong những yếu tố quyết định.
Tuy nhiên, muốn tiếp cận thị trường Mỹ thật không đơn giản. ở cuộc chơi
này, nếu không am hiểu hàng rào luật pháp xứ “cờ hoa”, việc bị “thổi còi phạt đền”
khẩu vào Mỹ trong cùng năm đó.
Hầu hết các đối tác thương mại của Mỹ được hưởng Quy chế đối xử thương
mại bình thường (NTR). Hàng hoá của các nước thuộc diện có NTR khi xuất khẩu
vào Mỹ chỉ phải chịu thuế suất thấp hơn nhiều so với hàng của các nước không có
NTR của Mỹ. Khi có sự điều chỉnh, giảm hay huỷ bỏ một loại thuế quan nào đó thì
sự thay đổi đó sẽ được áp dụng bình đẳng đối với tất cả các nước dược hưởng NTR
của Mỹ. Hiện nay, các nước tham gia WTO đều được hưởng NTR của Mỹ, một số
nước khác chưa tham gia WTO nhưng cũng được hưởng NTR của Mỹ. Các nước
đang được hưởng NTR của Mỹ phải đáp ứng hai điều kiện cơ bản là: đã ký hiệp
định thương mại song phương với Mỹ; phải tuân thủ các điều kiện Jackson Vanik
trong luật thương mại năm 1947 của Mỹ. Một số nước đang được hưởng NTR của
Mỹ nhưng phải được tổng thống Mỹ đề nghị Quốc hội thông qua việc gia hạn từng
năm quyền được hưởng này.
Có một số đạo luật dành đối xử ưu đãi thuế quan cho một số sản phẩm của
các nước đang phát triển một cách đơn phương đó là:
Chế độ thuế quan phổ cập (GSP): đây là một chương trình miễn thuế quan trong
khoảng 4450 mặt hàng mà Mỹ đang nhập khẩu từ 150 nước và vùng lãnh thổ đang
phát triển trong phạm vi toàn thế giới. Chương trình GSP quy định việc đánh giá
hàng năm đối với những mặt hàng nhập khẩu từ các nước đủ điều kiện được hưởng
ưu đãi thuế quan. Một số hạn chế sẽ được áp dụng đối với việc miễn thuế cho một
số sản phẩm nhất định nếu kim ngạch nhập khẩu những mặt hàng đó vượt hạn mức
mà Mỹ đã ấn định. Một số hạn chế khác cũng sẽ được áp dụng khi quốc gia nào đó
duy trì hàng rào đối với hàng xuất khẩu của Mỹ vào nước đó, từ chối bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ hoặc không tuân thủ các quyền công dân đã được quốc tế công nhận.
Chương trình ưu đãi thương mại (TPA): dành ưu đãi thuế quan cho các sản
phẩm mà Mỹ nhập khẩu từ các nước Bolivia, Ecuado, Peru và Colombia. Những ưu
đãi này cũng được dành cho các quốc gia mà Mỹ đã ký Hiệp định thương mại khu
vực như Khu mậu dịch tự do NAFTA, Khu mậu dịch tự do Mỹ – Ixraen.
Chương trình ưu đãi vùng lòng chảo Caribe (CBI): dành việc miễn hoặc giảm
các thủ tục chống phá giá được tiến hành khi có đơn khiếu kiện của một ngành sản
xuất ở Mỹ.
Nếu hai hoặc nhiều nước bị khiếu tố về trách nhiệm chống phá giá hoặc bù
giá, Uỷ ban thương mại quốc tế sẽ đánh giá luỹ tiến số lượng và ảnh hưởng của các
hàng nhập khẩu tương tự từ các nước bị nêu trên nếu chúng cạnh tranh với nhau và
cạnh tranh với các sản phẩm tương tự trên thị trường Mỹ.
Luật chống phá giá còn cho phép các ngành sản xuất ở Mỹ được đệ trình
khiếu nại về hoạt động bán phá giá diễn ra ở nước thứ ba lên văn phòng đại diện
thương mại Mỹ yêu cầu cơ quan này đứng ra bảo vệ quyền lợi của các ngành sản
xuất ở Mỹ theo những luật lệ của WTO.
Có những điều khoản của luật này gọi là điều khoản “điều chỉnh nhập khẩu”
quy định “những trường hợp khẩn cấp” cho phép người khiếu nại có thể yêu cầu
một hành động khẩn cấp ngăn chặn làn sóng nhập khẩu đang đe doạ ngành sản xuất
trong nước. Đó là khi một sản phẩm nào đó được nhập khẩu vào Mỹ với số lượng
lớn gây ra thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng đối với
ngành sản xuất sản phẩm đó ở Mỹ. Một trong những biện pháp được áp dụng trong
“ trường hợp khẩn cấp” là cắt giảm nhập khẩu tạm thời. Việc cắt giảm có thể kéo
dài tới vài năm. Trong thời gian cắt giảm nhập khẩu, ngành sản xuất được hưởng lợi
phải đệ trình báo cáo về tình hình phát triển của ngành lên Uỷ ban thương mại quốc
tế và lên Quốc hội Mỹ. Ngành được hưởng lợi có thể yêu cầu gia hạn việc cắt giảm
nhập khẩu tạm thời.
Luật về quyền hạn kinh tế trong tình trạng khẩn cấp (IEEPA): nhằm phong toả
tài sản của nước ngoài ở Mỹ, cấm vận thương mại, tiến hành các biện pháp cần thiết
khác chống lại sự đe doạ bất thường từ bên ngoài đối với những lợi ích kinh tế của
Mỹ.
Luật về an ninh quốc tế và hợp tác phát triển: được áp dụng để hạn chế hoặc
cấm nhập khẩu từ bất kỳ quốc gia nào mà Mỹ xác định là hỗ trợ cho các hoạt động
khủng bố quốc tế.
Luật trừng phạt kinh tế đơn phương: được áp dụng để trừng phạt kinh tế chống
Việc cấp giấy phép xuất khẩu do nhiều cơ quan khác nhau tiến hành. Ví dụ: Cục
Quản lý xuất khẩu thuộc Bộ thương mại cấp giấy xuất khẩu những mặt hàng và dịch
vụ có liên quan đến quốc phòng. Uỷ ban kiểm soát hạt nhân thuộc Bộ năng lượng
cấp giấy phép xuất khẩu những vật tư và thiết bị có liên quan đến năng lượng hạt
nhân. Tuy nhiên, Cục Quản lý xuất khẩu là cơ quan có chức năng kiểm tra tất cả các
đơn xin phép xuất khẩu thuộc mọi lĩnh vực để bảo đảm những mặt hàng xuất khẩu
không vi phạm luật pháp; đồng thời xác định mức độ tin cậy của những hàng hoá
xuất khẩu có xuất xứ Mỹ trong diện phải kiểm soát; xác minh hàng hoá sau khi đã
xuất khẩu có thực sự được giao cho người sử dụng cuối cùng hoặc người được uỷ
quyền nhận và có được sử dụng đúng mục đích như đã ghi trong đơn xin phép
không.
Chính sách thương mại của Mỹ có quy định quyền của các công ty Mỹ trong
khuôn khổ Hiệp định thương mại hiện hành mà Mỹ đã ký với các nước; thúc đẩy
việc tiếp cận thị trường nước ngoài cho hàng hoá và dịch vụ của Mỹ; ngăn chặn
những hành vi của người nước ngoài vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Để thực hiện
điều đó, Mỹ có thành lập Văn phòng đại diện thương mại với nhiệm vụ điều tra
những hành vi vi phạm của người nước ngoài, thoả thuận với chính phủ các nước
tìm phương thức giải quyết những tranh chấp. Nếu những thoả thuận giải quyết
chưa thoả đáng, đại diện thương mại Mỹ sẽ áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp
của WTO. Nếu vẫn chưa đạt được giải pháp thoả đáng. đại diện thương mại Mỹ có
thể áp dụng biện pháp tạm hoãn thực hiện Hiệp định thương mại đã ký, áp đặt thuế
hoặc hạn chế nhập khẩu.
Mỹ đưa ra rất nhiều những tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm như: SA 8000, ISO
9000…
Bên cạnh đó, những sản phẩm của công ty còn phải chịu thuế suất rất cao.
Luật sư Ellen Kerrigan thuộc công ty luật Russin & Vecchi cho biết Mỹ có hệ thống
ưu đãi phổ cập (GSP) mà theo đó hàng dệt may khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ sẽ
được hưởng ưu đãi về thuế quan. Trong khi đó, Việt Nam vẫn chưa được hưởng ưu
đãi GSP. Việc ưu đãi trên chỉ được thực hiện sau khi Việt Nam đạt được quy chế tối
huệ quốc với Mỹ và là thành viên của WTO và IMF.
2. Những giải pháp chiến lược:
Trước những khó khăn kể trên, công ty đã có những giải pháp mang tính
chiến lược nhằm nâng cao kim ngạch xuất khẩu và tiếp cận với thị trường đầy tiềm
năng nhưng cũng rất khó tính là thị trường Mỹ.
Theo đó, DAGATEX đã tổ chức cho cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý tìm
hiểu kỹ và học tập về hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO
9000, theo phương pháp Kaizen của Nhật Bản và theo yêu cầu quản lý chất lượng
sản xuất của hai công ty Mỹ là JCpeny và Walmart. Hiện nay, công ty đã được công
ty JCpeny ký hợp đồng đặt sản xuất các mặt hàng dệt kim xuất thẳng sang Mỹ.
Công ty Walmart cũng đã nghiên cứu, khảo sát tình hình của DAGATEX để đặt
hàng. Đây là những bước chuẩn bị tích cực để sản phẩm của DAGATEX có thể
tăng sản lượng xuất khẩu sang Mỹ trong những năm tới.
Những năm gần đây, DAGATEX đã đầu tư hơn 3 triệu USD để hiện đại hoá
một bước công nghệ, thiết bị cho cả hai khâu dệt và may. DAGATEX hiện có các
dây chuyền thiết bị hoàn chỉnh và hiện đại từ khâu dệt, nhuộm hoàn tất đến hàng
may thành phẩm. Tất cả các máy móc, thiết bị, công nghệ này đều do các nước có
nền công nghiệp phát triển thuộc khối EU và Nhật Bản chế tạo, chuyển giao kỹ
thuật. Cùng với đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề, giàu
kinh nghiệm, DAGATEX có khả năng cung ứng hàng chục loại vải chất lượng cao.
Hiện nay, công ty đang khẩn trương triển khai dự án đầu tư từ 250 đến 280 tỷ
đồng theo kế hoạch tăng tốc của Tổng công ty Dệt – May giai đoạn 2001 – 2005 để
Kết luận
Trong năm 2002 và các năm tiếp theo, với việc thực thi Hiệp định thương
mại Việt – Mỹ, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tăng được kim ngạch xtất khẩu của
mình nhờ tăng lượng xuất khẩu và được hưởng mức thuế MFN thấp hơn nhiều so
với trước đây.
Thị trường Mỹ mở ra triển vọng lớn cho xuất khẩu hàng dệt may, song nếu
không có biện pháp tối ưu để xâm nhập, giữ thị trường thì không thể đạt hiệu quả
cao trên thị trường này.
Hàng Việt Nam nói chung và sản phẩm dệt may Việt Nam nói riêng xuất
sang Mỹ quả còn lắm gian truân, mà minh hoạ dễ nhận thấy nhất là sự kiện cá basa
Việt Nam chinh phục người tiêu dùng Hoa Kỳ nhưng lại vướng rất nhiều hàng rào
của luật pháp Mỹ. Đây chính là điều mà doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tìm
hiểu để đạt độ am tường trong những hợp đồng làm ăn với thị trường tiêu thụ lớn
nhất thế giới này./
Mục lục:
Trang
Mục lục……………………………………………………………………… 1
Lời nói đầu…………………………………………………………………….2
I. Giới thiệu luật thương mại Mỹ…………………………………………… 3
1. Thuế quan………………………………………………………………… 3
2. Bồi thường thương mại…………………………………………………… 5
II. Công ty dệt may Đông á - DAGATEX với những bước tiến vào thị
trường Mỹ…………………………………………………………………… 9
1. Những khó khăn của công ty khi tiếp cận thị trường Mỹ………………… 9
2. Những giải pháp chiến lược……………………………………………….10
3. Đánh giá………………………………………………………………… 11
Kết luận…………………………………………………………………… 12
Tài liệu tham khảo………………………………………………………… 13