Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty vận tải Đa phương thức trong lĩnh vực vận tải hàng dự án - Pdf 11

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân,
ngành vận tải cũng đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng, đặc
biệt trong lĩnh vực vận tải hàng dự án, vận tải hàng siêu trường siêu trọng. Để
ngành vận tải đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế và hội nhập, ngoài yếu tố
cơ sở hạ tầng thì năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vận tải có ý nghĩa
quan trọng. Là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
trong thị trường vận tải nội địa và Quốc tế. Thời gian qua các doanh nghiệp
vận tải Việt Nam đã chú ý bước đầu đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh
của mình. Tuy nhiên, so với các doanh nghiệp vận tải thế giới thì doanh
nghiệp vận tải Việt Nam vẫn còn non yếu về năng lực và kinh nghiệm cạnh
tranh. Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp để đề ra các
biện pháp nhằm nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thương trường là đòi
hỏi có tính cấp thiết hiện nay.
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập thì cạnh tranh trên thị
trường sẽ ngày càng quyết liệt, không chỉ có sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong nước mà còn có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước
với các doanh nghiệp nước ngoài ngay tại thị trường trong nước, đặc biệt là
đối với ngành Vận tải hàng dự án, một ngành mà hiện nay được xem như
chưa có được năng lực cạnh tranh cao với các doanh nghiệp nước ngoài
trong lĩnh vực vận tải nội địa. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải
không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để đáp ứng
yêu cầu của thị trường.
Công ty Vận tải Đa phương thức là doanh nghiệp vận tải hoạt động
trong nhiều lĩnh vực, trong đó vận tải hàng dự án là ngành chủ lực, đặc biệt là
vận tải hàng siêu trường siêu trọng. Trong những năm qua, là một trong
những đơn vị dẫn đầu của Bộ Giao thông vận tải, đã có những đóng góp lớn
trong lĩnh vực vận chuyển hàng siêu trường siêu trọng, thiết bị toàn bộ các dự
án lớn, trọng điểm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, trước xu thế cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong thị trường vận

Với cùng một mục tiêu là nâng cao năng lực cạnh tranh, nhưng mỗi
doanh nghiệp sẽ có một chiến lược riêng của đơn vị mình. Và trong các
nghiên cứu trên, vấn đề cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh đã được
đề cập cho một số ngành nghề và quốc gia nhưng chưa có công trình nào đi
sâu nghiên cứu thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực
canh tranh của các đơn vị vận tải đặc biệt là trong lĩnh vực vận tải hàng dự án.
Tôi đã chú trọng kế thừa và chọn lọc những ý tưởng liên quan đến đề tài để
phân tích tình hình thực tiễn và tìm một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh của Công ty vận tải đa phương thức trong lĩnh vực vận tải hàng dự án.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, đề
xuất giải pháp khả thi để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty vận tải Đa
phương thức trong lĩnh vực vận tải hàng dự án trên thị trường vận tải Việt
Nam và thị trường nước ngoài như Lào và Campuchia.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những
vấn đề sau:
- Những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty vận tải Đa
phương thức trong lĩnh vực vận tải hàng dự án.
- Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Vận tải Đa
phương thức trong lĩnh vực vận tải hàng dự án.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vận tải
trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu: Vận tải là đa dạng, đa mặt hàng, nhưng luận văn
chỉ tập trung vào lĩnh vực vận tải vật tư thiết bị hàng dự án tại Công ty Vận tải
Đa phương thức.
Thời gian nghiên cứu khảo sát thực trạng từ năm 2000 - 2006 và đề
xuất giải pháp đến 2010
5. Phương pháp nghiên cứu

Theo Smith, “nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau, thì cạnh tranh
buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác”,
“cạnh tranh và thi đua thường tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Ngược lại, chỉ có
mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy
thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn nào” [23, tr.6]. Adam
Smith lấy chủ nghĩa cá nhân làm cơ sở để sáng lập ra hệ thống lý luận kinh tế
học theo chủ nghĩa tự do. Ông cho rằng con người chạy theo lợi ích cá nhân,
nhưng lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội lại thống nhất với nhau. Smith chủ
trương tự do cạnh tranh, ông cho rằng thông qua cạnh tranh mà các hoạt động
kinh tế có thể phối hợp một cách nhịp nhàng và thúc đẩy sự phát triển của xã
hội. Tự do cạnh tranh thúc đẩy con người nổ lực hơn, sáng tạo, tăng năng suất
lao động, làm cho quá trình của cải của quốc gia tăng lên, cạnh tranh chủ yếu
diễn ra thông qua thị trường và gía cả, do đó cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ
với thị trường và tự do cạnh tranh có thể tự điều tiết các quan hệ cung - cầu,
sản lượng, phân công lao động, tạo sự cân bằng cung cầu xã hội mà không
cần sự can thiệp của Nhà nước.
Cùng suy nghĩ với Adam Smith, Mill cho rằng cạnh tranh là cần thiết
để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Mill đề cao tự do cá nhân, nhưng lại
cho rằng xã hội có quyền sử dụng vũ lực để ngăn ngừa cá nhân gây ra hậu
quả xấu.
Theo Charles Robert Darwin, nhà sinh vật học người Anh mô tả cạnh
tranh trong giới sinh vật là quá trình sinh vật không ngừng thích ứng với môi
trường bên ngoài để tồn tại. Không có cạnh tranh thì không có tiến hoá của
toàn bộ các loài, trong đó có cả loài người. Vận dụng nguyên lý của Darwin
vào nền kinh tế thị trường cho thấy rằng công ty nào hoặc sản phẩm nào thích
hợp với quá trình phát triển thì mới tồn tại được, kẻ yếu bị xua đuổi. Quan
điểm cạnh tranh của ông là chuyển từ cạnh tranh đối kháng sang cạnh tranh
hợp tác. Quan điểm này phù hợp với xu thế kinh tế hiện nay: nhiều Công ty
kết hợp với nhau thành các tập đoàn đa quốc gia, cùng thiết lập quy tắc
cạnh tranh mới, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và hợp tác để cùng tồn tại và

cấu hiện có như thế nào để thực hiện được sự cân đối kinh tế, mà là hình thức
kết hợp các yếu tố cạnh tranh trong quá trình cạnh tranh thực tế thực hiện
được tiến bộ và sáng tạo kỹ thuật. Như vậy thì lý luận cạnh tranh mới là môn
lý luận độc lập với lý luận giá cả” [28].
Quan điểm của David Ricardo cũng đề cao tự do cạnh tranh, đặc biệt là
tư tưởng về lợi thế so sánh. Mỗi quốc gia, mỗi ngành có những lợi thế về tài
nguyên khác nhau, công nghệ khác nhau do đó có thể sản xuất và bán những
sản phẩm mà mình có lợi thế hơn và thông qua ngoại thương nhập những mặt
hàng mà mình kém ưu thế hơn. Adam Smith và David Ricardo chỉ rõ gía trị
và giá trị sử dụng của hàng hoá và chính hai yếu tố này quyết định năng lực
cạnh tranh của hàng hoá.
Như vậy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu
cho sự phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia.
Cạnh tranh giúp khai thác một cách hiệu quả nguồn lực thiên nhiên và
tạo ra các phương tiện mới để thoả mãn nhu cầu cá nhân ở mức giá thấp hơn
và chất lượng cao hơn, từ đó, nâng cao được đời sống vật chất và tinh thần
của con người. Nhờ cạnh tranh đã thúc đẩy đổi mới công nghệ và gia tăng
năng suất, tạo ra những thành tựu mới trên nhiều lĩnh vực.
* Phân loại cạnh tranh
Dựa trên những góc độ khác nhau mà có thể phân cạnh tranh thành
nhiều loại:
- Dưới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị trường, có cạnh tranh
giữa những người sản xuất với nhau, giữa người mua và người bán, người sản
xuất và người tiêu dùng và giữa những người mua với nhau.
- Dưới góc độ quy mô cạnh tranh có cạnh tranh của sản phẩm, cạnh
tranh của doanh nghiệp và cạnh tranh của quốc gia.
- Theo tính chất của phương thức cạnh tranh có: cạnh tranh hợp pháp
hay cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không hợp pháp hay cạnh tranh
không lành mạnh.
- Theo hình thái của cạnh tranh có: cạnh tranh hoàn hảo hay thuần túy

phát triển bền vững. Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông
qua: thị phần, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, thu nhập bình quân,
phương pháp quản lý, bảo vệ môi trường, uy tín của doanh nghiệp đối với xã
hội, tài sản của doanh nghiệp…các yếu tố này tạo nên lợi thế cạnh tranh của
doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có khả năng triển khai các hoạt động với
hiệu suất cao hơn các đối thủ cạnh tranh, tạo ra giá trị khác biệt hay chi phí
thấp hoặc cả hai yếu tố trên. Như vậy đối với doanh nghiệp thì lợi thế cạnh
tranh là xuất phát điểm, là điều kiện cần, khả năng cạnh tranh mạnh là điều
kiện đủ để doanh nghiệp có vị thế cạnh tranh mạnh trên thương trường.
Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh thì nhất thiết phải có lợi thế cạnh tranh
nhưng ngược lại thì chưa chắc đúng. Nếu doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh
nhưng không có khả năng tận dụng tốt lợi thế đó để cung cấp các sản phẩm
đem lại nhiều giá trị hơn cho khách hàng, không phát triển các lợi thế mới để
duy trì ưu thế của mình so với đối thủ thì doanh nghiệp đó không thể được coi
là có sức cạnh tranh mạnh và lợi thế sớm muộn cũng sẽ mất đi.
+ Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh Quốc gia cao phải có nhiều
doanh nghiệp có sức cạnh tranh, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp
có sức cạnh tranh, môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các
chính sách vĩ mô phải rõ ràng, nền kinh tế phải ổn định, bộ máy Nhà nước
phải trong sạch, có tính chuyên nghiệp. Đồng thời tính nhạy bén, năng động
trong quản lý của doanh nghiệp là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế, sức
cạnh tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh Quốc gia.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của sản phẩm vừa là bộ phận
cấu thành, vừa là một trong những mục tiêu của nâng cao năng lực cạnh tranh
của Quốc gia.
1.1.2. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
* Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp
- Phương pháp quản lý: Trình độ tổ chức và quản lý là yếu tố quan
trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hiện nay có nhiều

động, ngày càng yêu mến doanh nghiệp của mình hơn, sẽ khuyến khích được
tính sáng tạo, kích thích tinh thần học tập, thi đua trong đội ngũ nhân viên qua
đó nâng cao được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngược lại không
xây dựng được văn hóa doanh nghiệp thì sẽ không kích thích được tinh thần
tự hào vì mình là thành viên của doanh nghiệp do đó sẽ không kích thích ,
khai thác hết được khả năng làm việc, cống hiến hết sức mình của đội ngũ
nhân viên, làm thui chột tinh thần tự chủ của nhân viên, làm mất đi khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Quản lý có hiệu quả: Hiệu quả quản lý biểu hiện ở năng suất, chất
lượng cao, lợi nhuận tăng, phát triển bền vững, góp phần quan trọng vào phát
triển kinh tế, xã hội. Năng lực quản lý của doanh nghiệp là yếu tố tác động
đến tính cạnh tranh của doanh nghiệp vì nếu doanh nghiệp tổ chức thực hiện
tốt các dịch vụ của mình nhưng khả năng quản lý kém thì hiệu quả kinh doanh
không cao dẫn đến doanh nghiệp phát triển không mạnh làm mất dần khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình. Môi trường kinh doanh hiện nay
không kể trong nước hay ngoài nước luôn luôn thay đổi, tác động trực tiếp tới
kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải nắm bắt tình huống
kịp thời, có biện pháp dự báo để thay đổi chính sách, biện pháp cho thích ứng
với sự thay đổi của môi trường.
* Ban Lãnh đạo
Ban lãnh đạo của một doanh nghiệp có vai trò quan trọng vì họ là
người nắm toàn bộ nguồn lực của tổ chức, vạch ra đường lối, chiến lược,
chính sách, kế hoạch hoạt động, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá mọi
hoạt động của các bộ phận của doanh nghiệp để đưa hoạt động của doanh
nghiệp đạt hiệu quả cao. Năng lực lãnh đạo doanh nghiệp góp phần vô cùng
quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Thể hiện cả
trong công tác đối nội và đối ngoại. Người lãnh đạo biết nhìn xa trông rộng,
có óc quan sát, phân tích, phán đoán tình hình để lãnh đạo, nắm bắt cơ hội và
giải quyết đối ngoại tốt sẽ giúp Công ty làm ăn phát đạt, lãnh đạo đưa công ty
ngày càng phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng

trang thiết bị, phương tiện hiện đại nhưng không có đội ngũ cán bộ công nhân
lành nghề sử dụng thì cũng không phát huy được tính hiện đại mà dây chuyền
hiện đại mang lại do đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng kém.
Công nghệ hiện đại kết hợp với đội ngũ cán bộ công nhân lành nghề là điều
kiện tuyệt vời để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của đơn vị mình,
đẩy nhanh được tiến độ sản xuất, tính an toàn cao tạo được niềm tin cho
khách hàng.
- Hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng: Hoạt động
này góp phần thúc đẩy sản xuất, cải tiến năng suất lao động. Chính người lao
động trong doanh nghiệp sẽ nắm rõ các ưu nhược điểm trong quy trình sản
xuất của doanh nghiệp mình nên sẽ đề xuất được các sáng kiến cải tiến phù
hợp với tình hình của doanh nghiệp nhất và như vậy sẽ nâng cao được hiệu
quả sản xuất kinh doanh của đơn vị, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
- Hiệu quả kinh doanh là trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được
mục tiêu xác định. Nó là phạm trù phản ánh chiến lược của các hoạt động
kinh doanh. Nếu doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh cao thì sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội. Muốn vậy doanh nghiệp phải tạo ra dịch
vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả thì
nội bộ doanh nghiệp ổn định, mọi thành viên an tâm làm việc, toàn tâm, toàn
ý vì lợi ích của doanh nghiệp, trong đó có lợi ích của chính bản thân họ.
- Thị phần là yếu tố phản ánh chính năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp, thị phần càng lớn thì doanh nghiệp càng có năng lực cạnh tranh và
ngược lại. Nếu chỉ xem xét thị phần của doanh nghiệp trong một thời kỳ
nhất định thì cũng chưa có thể kết luận được khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp một cách chính xác. Cần phải xem xét khả năng duy trì và
mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Trong một thời kỳ cụ thể thì thị phần
của doanh nghiệp thể hiện vị thế của doanh nghiệp hơn là thể hiện khả
Khách hàng
là ai?

động trong Công ty ngày càng tăng lên, qua đó làm cho xã hội ngày càng phát
triển hơn. Từ nền tảng nhận thức như vậy làm cho mọi người trong Công ty sẽ
luôn luôn phấn đấu, nghiên cứu có nhiều sáng kiến, ý thức lao động tốt, năng
suất sản xuất tăng, uy tín doanh nghiệp tăng cao. Người lao động cũng cần
phải nắm rõ các quy định, quy chế của Công ty cũng như nắm rõ các quy định
của pháp luật để không có những hành vi gây tổn hại đến hình ảnh Doanh
Nghiệp. Người lao động cũng cần phải nhận thức được nguy cơ bị đào thải do
quy luật cạnh tranh để không ngừng vươn lên, học hỏi. Nếu người lao động
không ý thức được vấn đề này, không có ý thức tốt trong công việc sẽ gây tổn
hại đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Công tác giáo dục, đào tạo trong doanh nghiệp là một khâu quan trọng
và luôn đồng hành với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nhất là khâu
giáo dục tư tưởng đạo đức. Công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên môn cho cán
bộ là khâu then chốt vì thời đại ngày nay là thời đại cạnh tranh tri thức, doanh
nghiệp có đội ngũ nhân viên có chuyên môn cao, có trình độ tay nghề tốt kết
hợp với một số nhân tố khác chắc chắn sẽ tạo ra một doanh nghiệp có khả
năng cạnh tranh cao.
- Thương hiệu doanh nghiệp là một vấn đề mà hiện nay đã được các
doanh nghiệp Việt Nam quan tâm. Khi doanh nghiệp có thương hiệu sẽ tạo
được niềm tin của khách hàng và thu hút được nhiều khách hàng sử dụng dịch
vụ của doanh nghiệp mình. Thương hiệu mang trong nó một giá trị hiện tại và
tiềm năng. Thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp. Nhờ thương hiệu
của doanh nghiệp mà giá dịch vụ của doanh nghiệp được khách hàng đánh giá
cao hơn, sử dụng nhiều hơn và thậm chí giá dịch vụ sẽ cao hơn.
- Hoạt động tiếp thị, quảng bá doanh nghiệp, khả năng nắm bắt thu
thập thông tin góp phần quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Việc nắm bắt nhanh thông tin về các dự án được
đầu tư, chủ đầu tư, đối thủ cạnh tranh, xử lý kịp thời các thông tin và đề
xuất phương hướng tiếp thị hiệu quả giúp doanh nghiệp tiếp cận nhanh, thu
hút được sự tin cậy cảm tình của khách hàng và họ sẽ sử dụng dịch vụ của

và mất mát, ta không có con đường nào khác là phải hội nhập vào kinh tế toàn
cầu. Các doanh nghiệp Việt Nam trong đó có doanh nghiệp vận tải hàng dự án
cần phải khẩn trương tạo thế và lực cho mình để tận dụng những thuận lợi,
hạn chế những khó khăn để đứng vững và vươn lên trong cuộc cạnh tranh gay
gắt hiện nay.
1.2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VẬN TẢI HÀNG DỰ ÁN
1.2.1. Quan niệm về hàng dự án và đặc điểm của doanh nghiệp vận
tải hàng dự án
* Quan niệm về hàng dự án
Hàng dự án là vật tư thiết bị toàn bộ được đầu tư phục vụ cho một dự
án bất kỳ. Vật tư thiết bị toàn bộ gồm hàng thông thường và hàng siêu trường
siêu trọng (khi xếp lên phương tiện có kích thước dài>20m hoặc rộng >2,5m
hoặc cao tính từ mặt đất >4,2m hoặc nặng trên 32 tấn).
(Quyết định số 2112/2003/QĐ-BGTVT ngày 21 tháng 7 năm 2003 về
việc bổ sung, sửa đổi một số điều của quy định vận chuyển hàng siêu trường
siêu trọng bằng đường bộ)
Thường sử dụng phương thức vận tải đa phương thức để thực hiện vận
tải hàng dự án.
* Quan niệm về vận tải đa phương thức
Vận tải đa phương thức (Multimodal Transport) là loại hình vận tải mà
tên quốc tế còn gọi là vận tải liên hợp quốc tế (Combined transport) là
phương pháp vận tải hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau
trở lên, trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức từ một điểm ở một
nước này tới một điểm chỉ định ở một nước khác để giao hàng [16].
Có nhiều mô hình vận tải đa phương thức:
- Mô hình vận tải đường biển - vận tải đường hàng không
- Mô hình vận tải đường ôtô - vận tải đường hàng không
- Mô hình vận tải đường sắt - vận tải đường ôtô
- Mô hình vận tải đường sắt - đường ôtô - đường sông - đường biển

nhất hai loại hình thức vận tải khác nhau và hàng hoá được vận chuyển từ
lãnh thổ của nước này sang nước khác. Để cung ứng tốt dịch vụ vận tải đa
phương thức, ngoài yêu cầu về cơ sở hạ tầng và phương tiện vận tải có chất
lượng cao, một yêu cầu khác quan trọng hơn nhiều là khả năng liên kết các
Hãng vận tải khác nhau và quản lý một dây chuyền cung ứng trên nhiều
phương thức đó. Do đặc điểm này vận tải đa phương thức thường phát huy ở
các quốc gia có trình độ phát triển, đặc biệt là phát triển về công nghệ thông
tin để có thể khớp các khâu trong hành trình vận tải một cách có hiệu quả và
tiết kiệm chi phí nhất. Người kinh doanh vận tải đa phương thức phụ trách
một chu trình khép kín bao gồm tất cả các khâu cung cấp dịch vụ để đạt mục
tiêu cao nhất của mọi hình thức vận tải là giao hàng đúng thời hạn và đảm bảo
chất lượng hàng hoá. Trên thực tế thì ít có hãng vận tải có khả năng tự cung
cấp dịch vụ vận tải đồng thời bằng đường biển, đường không, đường sắt,
đường thuỷ, đường bộ... do vậy người kinh doanh vận tải đa phương thức chỉ
cần cung cấp một kết cấu hạ tầng và đảm nhận vai trò điều phối hoạt động của
các phương tiện và hình thức vận tải khác nhau. Người kinh doanh vận tải da
phương thức có thể tự thực hiện hoặc có thể thuê các bên thực hiện mỗi khâu
trong cả dây chuyền nhưng chịu trách nhiệm trong suốt quá trình kể từ khi
nhận hàng, trên đường vận chuyển cho đến khi giao hàng. Thành công của
chu trình vận tải đa phương thức chủ yếu là do nguồn nhân lực điều phối hoạt
động này.
* Đặc điểm doanh nghiệp vận tải hàng dự án
Trong nền kinh tế thị trường, quá trình từ sản xuất đến lưu thông hàng
hóa, dịch vụ đã hình thành nên các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Doanh
nghiệp vận tải được coi là một loại doanh nghiệp cung ứng dịch vụ. Đặc trưng
cơ bản của loại hình doanh nghiệp vận tải khác với các doanh nghiệp sản xuất
là dịch vụ này không trực tiếp tham gia sản xuất, không trực tiếp đối lưu hàng
hóa mà chỉ thực hiện các dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất của các doanh nghiệp
được kịp thời, góp phần giảm chi phí sản xuất của các doanh nghiệp trực tiếp
sản xuất.

giới. Điều này khác với các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành khác là
chịu tác động trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu trong đó có nền kinh tế của
Việt Nam. Hiện nay tại Việt Nam chưa có doanh nghiệp nào thực sự là doanh
nghiệp vận tải đa phương thức theo định nghĩa của Nghị định 125/2003/NĐ-
CP ngày 29 tháng 10 năm 2003. Chỉ có một ít doanh nghiệp đã đảm nhận
được một vài dự án nhỏ theo phương thức vận tải đa phương thức nên
chưa có tính cạnh tranh cao. Hình thức vận tải đa phương thức hiện nay ở
Việt Nam chỉ là hình thức vận tải liên hợp như quy định trong điều 87 của
Luật Hàng Hải.
Hoạt động của các doanh nghiệp vận tải hàng dự án Việt Nam hiện nay
có thể được khái quát như sau:
- Nắm bắt được các kế hoạch đầu tư xây dựng các dự án trên toàn quốc.
- Tiếp thị thu thập thông tin, phương thức mua bán của các dự án đầu
tư, phân tích dự đoán được Nhà thầu trúng thầu cung cấp thiết bị để xây dựng
chiến lược tiếp thị, bám sát chủ hàng nhằm tiếp thị hiệu quả.
- Xây dựng kế hoạch đầu tư hợp lý để thực hiện tốt các dự án đã tiếp thị
được. Phân tích tình hình thực tế để có những chiến lược kinh doanh tốt hơn
- Xây dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp tốt: quản trị nhân sự, quản
trị vốn, quản trị chi phí… để thực hiện tốt các dự án nhằm thỏa mãn nhu cầu
của khách hàng.
- Liên doanh liên kết với các đối tác để thực hiện tốt dịch vụ của mình
đáp ứng nhu cầu khách hàng.
- Triển khai các công tác phụ trợ như: được sự ủy quyền của chủ
hàng làm các thủ tục Hải quan, thuê dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa
(nếu có), mua bảo hiểm hàng hóa, gia cố cầu đường, kiểm định cầu…, bốc
xếp vận chuyển hàng từ cảng đến (đối với thiết bị nhập khẩu)/nhà máy sản
xuất qua các phương thức vận tải đến chân công trình và dỡ hạ hàng bàn giao
cho chủ hàng.
1.2.2. Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp vận tải hàng dự án

đóng vai trò then chốt của quan điểm xây dựng chiến lược.
Mối đe doạ xâm nhập vào ngành Vận tải hàng dự án tuỳ thuộc vào
những rào cản xâm nhập hiện có, cùng với những phản ứng của các Công ty
đang cạnh tranh nhau trong ngành mà các Công ty có ý định xâm nhập vào
ngành này có thể tiên lượng được. Nếu những rào cản xâm nhập cao và các
Công ty mới vào gặp phải sự trả đũa quyết liệt của các Công ty đang kinh
doanh trong ngành thì mối đe doạ xâm nhập sẽ thấp. Các Công ty muốn đa
dạng hoá ngành nghề của mình đã mua lại các Công ty đang kinh doanh trong
ngành được xem là các Công ty mới thành lập xâm nhập vào ngành nghề mặc
dù không có Công ty nào hoàn toàn mới được thành lập. Những Công ty đang
hoạt động trong ngành có danh tiếng, nhờ vào việc quảng cáo, chăm sóc
khách hàng sẽ có một lượng khách hàng trung thành hoặc những Công ty đầu
tiên bước vào ngành nghề này sẽ tạo ra rào cản xâm nhập vào thị trường bằng
cách buộc các Công ty nào muốn xâm nhập phải chi tiêu thật “đậm” để giật
được lượng khách hàng đang trung thành với các Công ty hiện đang hoạt
động trong ngành nghề ấy. Các doanh nghiệp mới gia nhập vào ngành kinh
doanh vận tải hàng dự án phải đầu tư một lượng tài chính lớn mua trang thiết
bị, phương tiện để thực hiện dịch vụ vận tải. Vì ngành vận tải hàng dự án đòi
hỏi kỹ thuật cao hơn nhiều ngành vận tải hàng thông thường khác do đó các
ngành mới gia nhập phải đầu tư tìm nguồn nhân lực có kỹ thuật cao, chi phí
đào tạo lớn mới đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh.
Sơ đồ 1.2: Các yếu tố tác động đến tình hình cạnh tranh trong một ngành nghề
NHỮNG CÔNG TY
CÓ KHẢ NĂNG GIA
NHẬP THỊ TRƯỜNG
NHỮNG CÔNG TY
CÙNG MỘT NGÀNH
NGHỀ CẠNH
TRANH VỚI NHAU
Cạnh tranh, đối đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status