Quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp để phát triển cây công nghiệp ở tỉnh Kon Tum - Pdf 11

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các hoạt động kinh tế ở nông thôn đặc biệt là sản xuất nông nghiệp
luôn gắn liền với đất đai. Trong nông nghiệp, đất đai không chỉ là địa điểm để
tiến hành sản xuất kinh doanh nh trong các ngành kinh tế khác, mà đất đai còn
trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, hơn nữa còn là t liệu sản xuất đặc biệt.
Nhận thấy đợc tầm quan trọng của đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp, trong
những năm qua Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều chủ trơng, chính sách phù hợp
trong việc khai thác sử dụng đất đai góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp nớc nhà
phát triển. Trong đó, công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất luôn nhận đợc
sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ đợc triển khai trên phạm vi cả nớc và
đạt đợc một số kết quả nhất định. Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế
hoạch sử dụng đất đến năm 2005 của cả nớc đã đợc Quốc hội thông qua ngày
15/6/2004 tại kỳ họp thứ 5, khoá XI. Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đã đợc
triển khai ở tất cả 64 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ơng trong cả nớc và đợc
Thủ tớng Chính phủ phê duyệt.
Tuy nhiên, quá trình triển khai và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất vẫn còn bộc lộ một số tồn tại. Đặc biệt sau khi quy hoạch, sử dụng đất đợc
phê duyệt và đa vào thực hiện, tình hình theo dõi, giám sát việc thực hiện quy
hoạch còn nhiều bất cập diễn ra dẫn đến tình trạng "quy hoạch treo" hoặc không
điều chỉnh kịp những biến động về sử dụng đất trong quá trình thực thi quy
hoạch tại địa phơng.
Do đó, tôi lựa chọn đề tài " Quy hoch, s dng t nụng nghip
phỏt trin cõy cụng nghip tnh Kon Tum " để nghiên cứu, khảo sát tình
hình quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp thực tế trên địa bàn tỉnh Kon Tum
nhằm đa ra những giải pháp điều chỉnh kịp thời, những nội dung sử dụng đất
nông nghiệp bất hợp lý, không phù hợp với phơng án quy hoạch sử dụng đất
nông nghiệp đã đợc phê duyệt góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp ở địa phơng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ khi đổi mới đến nay, ở nớc ta việc nghiên cứu vấn đề đất nông nghiệp

- Khái quát, hệ thống hoá lý luận về đất nông nghiệp và quy hoạch, sử
dụng đất nông nghiệp.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp để
phát triển cây công nghiệp của tỉnh Kon Tum trong thời gian qua.
- Đề xuất những giải pháp nhằm quy hoạch, sử dụng có hiệu quả đất
nông nghiệp để phát triển cây công nghiệp ở tỉnh Kon Tum trong thời gian tới.
4. Đối tợng nghiên cứu
Nghiên cứu quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp để phát triển cây công
nghiệp ở tỉnh Kon Tum từ năm 2000 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tác giả dựa trên cơ sở phơng pháp luận và phơng
pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin, nh phơng pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, trừu tợng hoá khoa học, trong đó đặc biệt coi trọng ph-
ơng pháp phân tích, tổng hợp thống kê, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp để
phát triển cây công nghiệp ở tỉnh Kon Tum từ năm 2000 đến nay.
- Đề xuất những giải pháp từng bớc hoàn thiện quy hoạch, sử dụng đất
nông nghiệp để phát triển cây công nghiệp ở Kon Tum trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chơng, 6 tiết.
Chơng 1
đất nông nghiệp và quy hoạch, sử dụng
đất nông nghiệp
1.1. đất nông nghiệp, đặc điểm và vai trò của đất nông nghiệp
1.1.1. Đất nông nghiệp và đặc điểm của đất nông nghiệp
* Khái niệm đất nông nghiệp:
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mọi quốc gia, là t liệu sản xuất
chủ yếu và đặc biệt là của sản xuất nông nghiệp, là một trong các yếu tố quan

- Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.
Nh vậy, có thể hiểu đất nông nghiệp là đất đợc sử dụng chủ yếu vào sản
xuất của ngành nông nghiệp bao gồm: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây
lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi
trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khai thác theo quy định của
Chính phủ.
* Đặc điểm cơ bản của đất nông nghiệp:
ở mỗi quốc gia đất đai đều đợc sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau,
riêng đất nông nghiệp có những đặc điểm cơ bản giống nhau, đợc biểu hiện cụ
thể:
Một là, đất nông nghiệp là t liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu.
Đất nông nghiệp là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là t liệu sản xuất
đặc biệt không thể thay thế đợc của ngành nông - lâm nghiệp. Nó là cơ sở tự
nhiên là tiền đề trớc tiên của mọi quá trình sản xuất. C.Mác đã từng chỉ rõ: "đất
là không gian, yếu tố cần thiết của tất thảy mọi quá trình sản xuất và mọi hoạt
động của loài ngời" [24, tr.473].
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam
đã khẳng định "đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là t liệu sản xuất
đặc biệt, là nguồn nội lực và là nguồn vốn to lớn của đất nớc" [8, tr.61].
Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp đất đai là t liệu sản xuất chủ yếu
và đặc biệt không thể thay thế đợc. Vì đất nông nghiệp vừa là t liệu lao động
vừa là đối tợng lao động. Đối với các loại đất chuyên dùng khác thì đất đai chỉ
là đối tợng lao động, con ngời phải sử dụng t liệu lao động để tác động vào tạo
ra sản phẩm.
Đất nông nghiệp là đối tợng lao động khi con ngời sử dụng công cụ sản
xuất tác động vào đất làm cho đất thay đổi hình dạng, nh cày, bừa, lên luống...
quá trình đó làm tăng chất lợng của ruộng đất, tạo điều kiện thuận lợi để tăng
năng suất và chất lợng cây trồng. Ngợc lại, khi con ngời sử dụng công cụ sản
xuất tác động lên đất, thông qua các thuộc tính lý học, hoá học, sinh vật học và
các thuộc tính khác của đất để tác dụng lên cây trồng. Trong quá trình này đất

trung tâm dịch vụ và phân bố các điểm dân c hợp lý; mặt khác, phải cải thiện
điều kiện tự nhiên, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống kết cấu hạ tầng
nhằm tạo điều kiện sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả, nâng cao đời sống
nông dân và từng bớc thay đổi bộ mặt nông thôn.
Ba là, đất nông nghiệp bị giới hạn về mặt diện tích, nhng sức sản xuất
của nó lại là không giới hạn.
Do đặc điểm tự nhiên của đất đai quy định, cho nên diện tích đất nông
nghiệp đa vào canh tác luôn bị giới hạn bởi không gian nhất định, bao gồm: giới
hạn tuyệt đối và giới hạn tơng đối. Xét trên góc độ giới hạn tuyệt đối thì diện
tích đất đai của toàn bộ hành tinh, của từng quốc gia, của từng địa phơng là
những con số hữu hạn, có thể lợng hoá bằng những con số cụ thể. Ví dụ, tổng
diện tích đất tự nhiên của tỉnh Kon Tum là 961.450ha của cả nớc Việt Nam là
32.924,1 nghìn ha [4, tr.5], tổng diện tích đất có tiềm năng sản xuất nông
nghiệp của thế giới là khoảng 3.200 triệu ha, trong đó có 46% đang đợc canh
tác [15, tr.17]. Theo tính toán của Liên hợp quốc, có khoản 23% diện tích trên
toàn thế giới là sa mạc hoặc đất cằn, 20% là nửa khô cằn, khoảng 80 triệu ngời
sống ở những vùng đất hầu nh không sử dụng đợc vì xói mòn, bãi cát hoặc ngập
mặn.
Không phải tất cả diện tích tự nhiên đều đa vào canh tác đợc, tùy thuộc
vào điều kiện đất đai, địa hình và trình độ phát triển kinh tế của từng nớc mà
diện tích đất nông nghiệp đa vào canh tác chỉ chiếm tỷ lệ phần trăm thích hợp.
Đó là giới hạn tơng đối, giới hạn này nhỏ hơn nhiều so với tổng quỹ đất tự
nhiên bởi tác động của yếu tố đất đai, khí hậu, thời tiết đa dạng, phức tạp dẫn
đến việc sử dụng các nguồn lực vào sản xuất nông nghiệp mang tính khu vực và
tính thời vụ rõ rệt.
ở nớc ta tỷ lệ đất nông nghiệp so với tổng quỹ đất tự nhiên năm 2000
chiếm 28,38%, có khả năng đa lên tối đa là 35% với tổng diện tích tự nhiên
329.241km
2
, Việt Nam là nớc có quy mô trung bình, xếp thứ 66 trong tổng số

đất. Mặt khác, phải chú ý ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng khả năng phục hồi
và tái tạo của đất đai.
Bốn là, đất nông nghiệp vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của
lao động.
Đất nông nghiệp vốn là sản phẩm của tự nhiên, nó xuất hiện và tồn tại
ngoài ý muốn của con ngời. Đất nông nghiệp đợc hình thành do quá trình phong
hoá đá và sự tác động của vi sinh vật, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng... và do con ng-
ời tiến hành khai phá, đa vào sử dụng nhằm phục vụ lợi ích của con ngời. Trong
quá trình lịch sử lâu dài đó, lao động của con ngời qua nhiều thế hệ đã đợc kết
tinh vào đó. Do đó, ngày nay đất nông nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa
là sản phẩm của lao động.
C.Mác viết: "Tuy có những thuộc tính nh nhau, nhng một đám đất đợc
canh tác có giá trị hơn một đám đất bị bỏ hoang" [24, tr.246].
Đặc điểm này đặt ra trong quá trình sử dụng con ngời cần phải không
ngừng cải tạo và bồi dỡng, đồng thời phải khai thác đất nông nghiệp cho hợp lý
làm cho đất ngày càng màu mỡ hơn. Thực tế cho thấy, đất đai là t liệu sản xuất
chủ yếu không bị đào thải khỏi quá trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì đất
đai ngày càng tốt hơn. Việc sử hợp lý ruộng đất hay không là tuỳ thuộc vào quá
trình sử dụng có kết hợp chặt chẽ giữa khai thác, sử dụng ruộng đất với việc bảo
vệ, bồi dỡng và cải tạo đất đai hay không. Vì thế trong quá trình sử dụng đất
nông nghiệp phải tìm mọi biện pháp để bảo vệ đất, chống xói mòn, rửa trôi.
Phải thờng xuyên coi trọng công tác bồi dỡng và cải tạo đất làm tăng độ phì
nhiêu của đất đai.
ở nớc ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nớc, với t cách là đại diện
cho quyền sở hữu đó, thông qua hệ thống chính sách, pháp luật để thực hiện
việc giao quyền sử dụng đất, cho thuê đất đối với các tổ chức và các hộ gia đình
và cá nhân có nhu cầu. Qua đó thực hiện việc quy hoạch sử dụng đất đai một
cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả khuyến khích ngời lao động định hớng, lựa
chọn ngành nghề kinh doanh phù hợp.
Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ơng khoá IX của

của những khoản đầu t liên tiếp ấy" [24, tr.1845].
Điều này có nghĩa là việc nâng cao chất lợng, độ phì nhiêu, độ đồng đều
của đất là điều cần thiết để vừa không ngừng nâng cao năng suất và chất lợng nông
sản, lại vừa bảo vệ đất, giữ cho đất đợc sử dụng lâu dài và bền vững.
Mặt khác, không phải bất kỳ trờng hợp nào cũng cần đến việc nâng cao
độ đồng đều, trong một số trờng hợp xuất phát từ đặc điểm chất lợng đất phân
bố không đồng đều, mỗi loại đất ở những vị trí nhất định lại chịu sự chi phối
của các đặc tính tự nhiên của vị trí, dẫn đến nó chỉ cho phép trồng trọt hay chăn
nuôi những loại cây trồng và vật nuôi thích hợp. Từ đó, ở những nơi có chất l-
ợng đất đặc biệt cần phải chuyên canh những loại cây trồng và vật nuôi thích
hợp nhất, để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, nhằm khai thác tối đa lợi thế so
sánh có đợc.
1.1.2. Vai trò của đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng, quyết định đến toàn bộ
hoạt động sản xuất của ngành nông nghiệp. Vai trò này thể hiện ở những nội
dung sau đây:
* Đất nông nghiệp là một điều kiện tối cần thiết cho hoạt động kinh tế
nông thôn
Từ xa xa đến nay, hoạt động kinh tế của nông dân chủ yếu là sản xuất
nông nghiệp. Để sản xuất, họ phải sử dụng công cụ lao động tác động vào đất
đai. Đất đai là t liệu sản xuất đặc biệt quan trọng không thể thiếu đợc đối với
ngời nông dân. Nếu không có đất để sản xuất thì không thể có bất cứ một nền
nông nghiệp nào. Điều này đúng với mọi thời đại.
Đất đai là tặng vật của tự nhiên cho con ngời. Nhờ có đất mà nông
dân đã sản xuất ra lơng thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu của họ, gia đình
và của cả xã hội. Trong điều kiện kinh tế nông nghiệp, đất đai đã trở thành
t liệu sản xuất quan trọng nhất và là điều kiện sống còn đối với hoạt động
sản xuất nông nghiệp của ngời nông dân. Ngời nông dân không thể tiến
hành sản xuất nông nghiệp nếu nh không có đất. Đất nông nghiệp là điều
kiện tối cần thiết để ngời nông dân đem kết hợp nó với sức lao động sẵn có

trọng không thể thiếu đợc của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong
lĩnh vực nông nghiệp. Tất nhiên, trong hoạt động kinh tế, con ngời có thể làm
tăng độ phì của đất, có thể tìm kiếm, lựa chọn cây trồng, vật nuôi thích hợp để
làm tăng và phát huy vai trò của đất nông nghiệp trong sản xuất. Nếu không có
phơng thức canh tác hợp lý thì các tiềm năng của đất nông nghiệp không trở
thành hiện thực tức là không thể phát huy đợc vai trò của nó đối với sản xuất
của con ngời.
* Đất nông nghiệp là một nhân tố tự nhiên đặc biệt quan trọng trong
việc xây dựng cơ cấu kinh tế
Việc phát hiện ra đặc tính của từng loại đất có ý nghĩa quan trọng trong
phân bổ đất đai giữa các ngành nông nghiệp, qua đó xây dựng cơ cấu nông
nghiệp hợp lý.
Trong sản xuất nông nghiệp có câu thành ngữ "đất nào cây ấy". Tức là
mỗi loại đất đều có một thành phần cơ giới nhất định, đợc tạo nên từ các loại
đá mẹ nhất định. Từ đó, các loại đất khác nhau có độ phì khác nhau, thành
phần các nguyên tố đa lợng, vi lợng chứa đựng trong chúng là khác nhau, đặc
tính thấm hút nớc, độ tơi xốp cũng khác nhau. Cho nên, từng loại đất chỉ phù
hợp với từng loại cây trồng, vật nuôi nhất định. Chỉ trong điều kiện đợc canh
tác trên loại đất phù hợp với đặc tính sinh lý, sinh hoá của cây trồng, vật nuôi
thì chúng mới có thể cho thu hoạch sản phẩm năng suất cao, chất lợng tốt.
Đặc biệt, là đối với cây trồng sử dụng trực tiếp các chất dinh dỡng có sẵn
trong đất để sinh trởng và phát triển. Do vậy, việc phát hiện ra đặc tính của
các loại đất khác nhau có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc lựa
chọn và phân bổ đất đai trong quá trình canh tác. Từ đó, mới có thể xây dựng
một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, tận dụng có hiệu quả các tiềm năng sẵn
có của đất đai nhằm phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá có sức cạnh
tranh trên thị trờng thế giới.
1.1.3. Những nhân tố ảnh hởng đến sử dụng đất nông nghiệp
- Về điều kiện tự nhiên:
Khi sử dụng đất nông nghiệp, ngoài bề mặt không gian (diện tích trồng

Điều kiện kinh tế - xã hội thờng có ý nghĩa quyết định chủ đạo đối với
việc sử dụng đất nông nghiệp. Phơng hớng sử dụng đất nông nghiệp đợc quyết
định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định.
Điều kiện tự nhiên của đất nông nghiệp cho phép xác định khả năng thích ứng
về phơng thức sử dụng đất nông nghiệp. Còn sử dụng đất nh thế nào đợc quyết
định bởi sự năng động của con ngời và các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật
hiện có; quyết định bởi tính hợp lý, tính khả thi về kinh tế kỹ thuật và bởi nhu
cầu của thị trờng.
Trong phạm vi một vùng, điều kiện vật chất tự nhiên của đất nông
nghiệp thờng có sự khác biệt không lớn, về cơ bản là giống nhau. Nhng với
điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, dẫn đến tình trạng có vùng đất nông
nghiệp đợc khai thác sử dụng triệt để từ lâu đời và đã đem lại những hiệu quả
kinh tế xã hội rất cao; ngợc lại, có nơi bị bỏ hoang hoá hoặc khai thác với
hiệu quả rất thấp... Có thể nhận thấy, điều kiện tự nhiên của đất nông nghiệp
chỉ là một tồn tại khách quan, khai thác và sử dụng đất nông nghiệp yếu tố
quyết định vẫn là con ngời. Dù điều kiện tự nhiên có nhiều lợi thế, nhng các
điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật không tơng ứng, thì u thế tài nguyên cũng
khó trở thành sức sản xuất hiện thực, cũng nh chuyển hoá thành u thế kinh tế.
Ngợc lại, điều kiện kinh tế, kỹ thuật đợc ứng dụng vào khai thác và sử dụng
đất, sẽ phát huy mạnh mẽ tiềm lực sản xuất của đất nông nghiệp, biến điều
kiện tự nhiên từ bất lợi thành có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
- Về không gian:
Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất và phi vật chất, đều cần đến
đất đai nh điều kiện không gian để hoạt động. Không gian, bao gồm cả vị trí và
mặt bằng. Đặc tính cung cấp không gian của đất đai là yếu tố vĩnh cửu của tự
nhiên ban phát cho xã hội loài ngời.
Không gian mà đất nông nghiệp cung cấp có đặc tính vĩnh cửu và cố
định, vị trí khi sử dụng và số lợng sử dụng không thể vợt quá quy mô hiện
có. Do vị trí không gian của đất nông nghiệp không thể bị mất đi và cũng
không tăng thêm trong quá trình sử dụng, nên phần nào đã giới hạn sức tải

kinh tế - xã hội. Nh vậy, quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp sẽ là một hiện t-
ợng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế (thể hiện bằng hiệu
quả sử dụng đất), kỹ thuật (bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật: điều
tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định xử lý số liệu...) và pháp chế (xác
nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo sử dụng và
quản lý đất nông nghiệp theo pháp luật).
Từ đó, có thể đa ra định nghĩa: "quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp là
hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháp chế của nhà nớc về tổ chức, sử
dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông
qua việc phân bổ quỹ đất nông nghiệp (khoanh định cho các mục đích) và tổ
chức sử dụng đất nh t liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng đất nông nghiệp cụ
thể), nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai
và môi trờng".
Nh vậy, về thực chất quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp là quá trình
hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đa đất đai vào sử dụng bền vững
để mang lại lợi ích kinh tế cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: điều
chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất nông nghiệp nh t liệu sản
xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp với
bảo vệ đất đai và môi trờng.
Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phơng hớng, nhiệm vụ và mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ. Quy hoạch, sử dụng đất
nông nghiệp đợc tiến hành nhằm định hớng cho các cấp, các ngành trên địa bàn
lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp chi tiết của mình. Xác lập
sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nớc về đất đai; làm cơ sở để
tiến hành giao cấp đất và đầu t để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lơng
thực phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá - xã hội.
Mặt khác, quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp còn là biện pháp hữu hiệu
của nhà nớc nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất nông nghiệp theo đúng mục
đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục
đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp (đặc

nền kinh tế thị trờng, quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp góp phần giải quyết
các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trờng nảy sinh
trong quá trình sử dụng đất, cũng nh mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau.
- Tính tổng hợp :
Tính tổng hợp của quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp biểu hiện chủ yếu
ở hai mặt; đối tợng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ... toàn
bộ tài nguyên đất nông nghiệp cho nhu cầu của nền kinh tế quốc dân. Quy
hoạch, sử dụng đất nông nghiệp đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế
và xã hội nh: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số, sản xuất nông nghiệp,
môi trờng sinh thái...
Với đặc điểm này, quy hoạch lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu
sử dụng đất; điều hoà các mâu thuẫn về đất đai, xác định và điều phối phơng h-
ớng, phơng thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo
đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn
định.
- Tính dài hạn :
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế
xã hội quan trọng (sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật; đô thị hoá, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp...), từ đó xác định quy hoạch trung và dài
hạn về đất đai, đề ra các phơng hớng, chính sách và biện pháp có tính chiến lợc,
tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp hàng
năm và dài hạn.
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất nông nghiệp để phát triển
kinh tế - xã hội. Cơ cấu và phơng thức sử dụng đất, đợc điều chỉnh từng bớc
trong thời gian dài (cùng với quá trình phát triển dài hạn kinh tế - xã hội) cho
đến khi đạt đợc mục tiêu dự kiến. Thời hạn (xác định phơng hớng, chính sách
và biện pháp sử dụng đất nông nghiệp để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội)
của quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp thờng từ 5 năm đến 10 năm hoặc lâu
hơn.
- Tính chiến lợc và chỉ đạo vĩ mô :

dự kiến của quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp không còn phù hợp. Việc chỉnh
sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần
thiết. Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch. Quy hoạch, sử dụng đất
nông nghiệp luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc
"quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện..." với
chất lợng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao.
1.2.2. Những căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang công nghiệp - dịch vụ -
nông nghiệp đã và đang gây áp lực ngày càng lớn đối với đất đai (bình quân
mỗi năm phải chuyển khoảng 30.000 ha đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng
sang mục đích khác).
Kinh nghiệm thực tiễn cùng với đổi mới t duy và nhận thức đã trả lại cho
đất đai giá trị đích thực vốn có của nó. Luật đất đai năm 1993 nhấn mạnh "đất đai
là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là t liệu sản xuất, là thành phần quan
trọng hàng đầu của môi trờng sống, là địa bàn phân bố các khu vực dân c, xây
dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng".
Với ý nghĩa đó việc sử dụng hợp lý đất đai liên quan chặt chẽ tới mọi
hoạt động của từng ngành và từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất.
Do đó, Đảng và Nhà nớc nớc ta luôn coi đây vấn đề bức xúc, cần đợc quan tâm
hàng đầu.
ý chí của toàn Đảng, toàn dân về vấn đề đất đai thể hiện rõ trong các văn
bản pháp luật nh hiến pháp, luật và các văn bản dới luật. Những văn bản này tạo
cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giúp
giải quyết về mặt nguyên tắc những vấn đề đặt ra.
- Sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập ra quy hoạch sử dụng đất :
Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1991 đã khẳng
định: "đất đai thuộc sở hữu toàn dân", "nhà nớc thống nhất quản lý đất đai theo
quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả " (ch-
ơng II, Điều 18).

- Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất :
Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nớc do
chính phủ trình.
Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ơng.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng xét duyệt quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dới trực tiếp.
Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị.
1.2.3. Quy hoạch sử dụng đất và sự nghiệp công nghiệp hoá nông
nghiệp nông thôn
Do đặc thù nền kinh tế nớc ta, vấn đề công nghiệp hoá nông nghiệp và
nông thôn có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc. Công nghiệp hoá nông thôn là quá trình phát triển
kinh tế - xã hội mà nội dung chủ yếu là chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội ở
nông thôn gắn liền với công nghệ theo hớng công nghiệp và dịch vụ. Nói cách
khác, công nghiệp hoá nông thôn là quá trình áp dụng phơng tiện vật chất - kỹ
thuật, phơng pháp sản xuất công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn ở
nông thôn. Về mặt hình thức, công nghiệp hoá nông thôn đợc biểu hiện trên các
mặt sau:
Phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, cung cấp năng lợng, bu
chính viễn thông, giáo dục, đào tạo, y tế...) cho sản xuất nông nghiệp và phát
triển nông thôn.
áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông
thôn (sử dụng máy móc trong các khâu làm đất, tới tiêu, vận chuyển, bảo quản
chế biến, sử dụng giống mới, phơng pháp canh tác tiên tiến).
Phát triển công nghiệp (bao gồm cả xây dựng) và dịch vụ ở nông thôn
gồm, các ngành gắn với đầu vào cũng nh đầu ra của nông nghiệp (nh sản xuất
và sửa chữa nông cụ, sản xuất nguyên liệu), các ngành tận dụng lao động, vốn
tay nghề ở nông thôn để sản xuất ra các mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status