Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn phòng của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp
Lời mở đầu
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ với những thành tựu kỳ diệu của
nó đang tác động mạnh mẽ tới mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội trên thế giới nói
chung và ở Việt Nam nói riêng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của tin học và vai
trò ngày càng nổi trội của thông tin sau cuộc cách mạng về quản lý, từ hai thập kỷ nay
thế giới đã bớc vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của Công nghệ thông tin. Công nghệ
thông tin đã và đang từng bớc đi vào tất cả các lĩnh vực, chiếm một vị trí quan trọng
trong xã hội. Cùng phát triển với khoa học công nghệ, hoạt động quản lý đang có nhiều
đổi mới theo xu thế hiện đại hoá đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của xu thế hội
nhập và phát triển kinh tế. Công nghệ thông tin càng ngày càng phát triển, càng có
nhiều phát minh sáng chế đợc ứng dụng vào đời sống xã hội nhằm giải phóng sức lao
động, làm phong phú thêm đời sống vật chất, tinh thần của con ngời.
Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp là một đơn vị thuộc Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nớc, vì vậy việc ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý là thực sự cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn của tình hình thực hiện công tác văn phòng của Viện quy
hoạch và thiết kế nông nghiệp, em đã mạnh dạn chọn đề tài ứng dụng công nghệ
thông tin trong công tác văn phòng của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp
làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Trọng tâm của chuyên đề này nhằm đề cập
đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn phòng của Viện và một số
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tổ
chức quản lý.
Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, nội dung chuyên đề gồm 3 phần chính:
Phần I: Nhận thức chung về văn phòng và công nghệ thông tin trong công tác
văn phòng.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
1
Luận văn tốt nghiệp
Phần II: Khái quát về tổ chức hoạt động của Viện quy hoạch và thiết kế nông
nghiệp.

mục tiêu của tổ chức.
Ngoài ra, tác giả cuốn sách Quản trị hành chính Văn phòng- Nguyễn Hữu Thân
cho rằng : Văn phòng là nơi diễn ra các hoạt động kiểm soát, nghĩa là nơi soạn thảo, sử
dụng và tổ chức hồ sơ, công văn, giấy tờ nhằm mục đích thông tin sao cho có hiệu quả.
Nhắc đến văn phòng, không thể không nói đến công tác văn phòng. Công tác văn
phòng là một thuật ngữ có liên quan đến nhiều nội dung hoạt động của một tổ chức.
Nếu xem xét công tác này theo quan điểm hệ thống thì ở đầu vào bao gồm các hoạt
Nguyễn Thanh Hà - 846018
3
Luận văn tốt nghiệp
động trợ giúp lãnh đạo tổ chức, quản lý, sử dụng toàn bộ hoạt động thông tin kinh tế,
chính trị, xã hội, hành chính, môi trờng theo các ph ơng án sử dụng khác nhau nhằm
thu đợc kết quả tối u trong hoạt động của đơn vị. Còn ở đầu ra, là những hoạt động phân
phối, truyền tải, thu và xử lí thông tin phản hồi trong nội bộ và bên ngoài đơn vị theo
yêu cầu của lãnh đạo. Toàn bộ hoạt động trên đây sẽ góp phần hoàn thiện từng bớc công
tác tổ chức điều hành thông tin trong đơn vị, hay nói cách khác là không ngừng củng cố
hoạt động văn phòng trong mỗi cơ quan, đơn vị. Để công tác văn phòng đạt kết quả tốt
cần phải có những điều kiện cơ bản sau:
- Phải có một bộ máy văn phòng đợc tổ chức thích hợp. ở các cơ quan, đơn vị có
quy mô lớn bộ máy văn phòng có thể gồm đầy đủ các phòng, các bộ phận với số lợng
nhân sự cần thiết để thực thi mọi hoạt động văn phòng một cách độc lập, có liên quan
đến nhiều đầu mối với các tính chất khác nhau. Đối với các đơn vị có quy mô nhỏ và
các hoạt động mang tính thuần nhất, đơn lẻ bộ máy văn phòng có thể gọn nhẹ ở mức tối
thiểu, đồng thời còn kiêm nhiệm các chức năng quản trị nhân sự, vật t, tài chính
- Phải có địa điểm hoạt động, giao dịch với những cơ sở hạ tầng nhất định nh nhà
cửa, phơng tiện, thiết bị Vị trí, quy mô của các yếu tố vật chất nêu trên cũng sẽ phụ
thuộc vào đặc tính tổ chức quản lí, vào quy mô hoạt động của công tác văn phòng.
Từ những quan niệm trên và liên hệ hoạt động văn phòng với các điều kiện của
kinh tế thị trờng thì công tác văn phòng là toàn bộ những yếu tố vật chất phù hợp với
yêu cầu thu thập, tổng hợp phân tích, xử lý, ra quyết định chuyển tải thông tin của các

tham vấn (ít bị sức ép, gò bó) và tính chuyên sâu trong các trờng hợp trợ giúp lãnh đạo
(tiếp xúc với nhiều vấn đề nảy sinh trong thực tế). Chức năng này đợc gọi là chức năng
tham mu cho các nhà lãnh đạo, quản lý đơn vị của công tác văn phòng.
2.1.2. Chức năng tổng hợp.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
5
Luận văn tốt nghiệp
Kết quả tham vấn trên đây phải xuất phát từ những thông tin ở cả đầu vào, đầu ra
và thông tin ngợc trên mọi lĩnh vực, của mọi đối tợng mà văn phòng là đầu mối thu
thập, phân tích, quản lý và sử dụng theo yêu cầu của ngời lãnh đạo, quản lý. Quá trình
thu thập, quản lý, sử dụng thông tin phải tuân theo những nguyên tắc, trình tự nhất định,
mới có thể mang lại hiệu quả thiết thực. Hoạt động nh trên thuộc về chức năng tổng hợp
của công tác văn phòng. Chức năng này không chỉ có tác dụng thiết thực đến chức năng
tham mu của văn phòng mà còn có vai trò quan trọng đối với sự thành công hay thất bại
của cơ quan, đơn vị (lợi thế của thông tin). Chính vì ý nghĩa to lớn của chức năng này
nên các tổ chức, đơn vị luôn quan tâm củng cố và hiện đại hoá công tác văn phòng cho
kịp với tốc độ phát triển của thời đại.
2.1.3. Chức năng hậu cần .
Hoạt động của cơ quan, đơn vị không thể thiếu các điều kiện vật chất nh nhà cửa,
phơng tiện, thiết bị, công cụ, tài chính v.v Những cái đó thuộc về hoạt động hậu cần
mà văn phòng phải cung ứng đầy đủ, kịp thời cho mọi quá trình, mọi lúc, mọi nơi.
Các chức năng trên vừa độc lập, vừa hỗ trợ bổ sung cho nhau nhằm khẳng định sự
cần thiết khách quan tồn tại cơ quan văn phòng ở mỗi đơn vị, tổ chức. Trong đó chức
năng tổng hợp là cực kỳ quan trọng, quyết định đến sự thành bại của công tác văn
phòng.
2.2. Nhiệm vụ của văn phòng.
Từ chức năng chung, cơ bản của mỗi thực thể ngời ta phân thành các chức năng cụ
thể, chi tiết. Các chức năng này là lý do sinh ra và tồn tại của văn phòng. Mỗi một chức
năng có thể có nhiều nhiệm vụ cụ thể. Những nhiệm vụ này chính là những công việc,
hoạt động nhằm cụ thể hoá các chức năng của văn phòng. Trong từng điều kiện không

nghiêm ngặt về văn th lu trữ khi thu thập và xử lý thông tin.
Trợ giúp về văn bản.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
7
Luận văn tốt nghiệp
Văn bản là một phơng tiện lu trữ và truyền đạt thông tin khá hữu hiệu, hiện nay
nhiều cơ quan, đơn vị sử dụng nó trong quản lý, điều hành hoạt động. Hiện nay ở nớc ta
đã có luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các phát sinh liên
quan đến văn bản của các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền. Văn bản luật và pháp quy sẽ
là căn cứ để các cơ quan, đơn vị ban hành những văn bản nội bộ nh điều lệ, nội quy, quy
chế, các quyết định hành chính và quản lý thờng nhật. Để ban hành văn bản hợp pháp và
hợp lý cần phải có bộ phận chuyên trách trợ giúp cho lãnh đạo. Văn phòng sinh ra để
đảm nhận nhiệm vụ này.
Bảo đảm các yếu tố vật chất, tài chính cho hoạt động của cơ quan.
Muốn tồn tại và phát triển, các cơ quan, đơn vị cần phải có các yếu tố kỹ thuật và
vật chất cần thiết. Các yếu tố này vừa là nguyên liệu duy trì tổ chức tồn tại, vừa là vật
trung gian kết gắn tổ chức với môi trờng, đồng thời còn là phơng tiện truyền dẫn các
quá trình hoạt động của tổ chức đến mục tiêu kinh tế- xã hội. Các yếu tố đó bao gồm
nhà cửa, xe cộ, bàn ghế, trang thiết bị, các chi phí cần thiết mang tính thờng xuyên liên
tục, vì vậy, văn phòng phải căn cứ vào tiến độ thực hiện công việc mà cung cấp kịp thời,
đầy đủ. Công việc này có ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động của đơn vị.
Củng cố tổ chức bộ máy văn phòng.
Đây là việc làm thiết thực, mang tính khá ổn định của bộ máy văn phòng nhằm
thực hiện tốt những nhiệm vụ nêu ra trên đây. Việc tổ chức bộ máy văn phòng cũng cần
tuân thủ những nguyên tắc tổ chức chung của đơn vị để đảm bảo tính thống nhất trong
hệ thống. Tuy nhiên cũng phải thấy đợc tính thống nhất, đa dạng, phong phú trong công
tác văn phòng để tổ chức bộ máy sao cho đáp ứng đợc cao nhất yêu cầu nhiệm vụ đặt ra
với công tác văn phòng. Không những thế trong thời đại bùng nổ thông tin này, đòi
hỏi các cơ quan, đơn vị phải hết sức cố gắng theo kịp với tốc độ phát triển chung, trong
đó sự nỗ lực lớn nhất nằm ở khối văn phòng. Yêu cầu đó đặt ra với văn phòng rất cao về

Nguyễn Thanh Hà - 846018
9
Luận văn tốt nghiệp
II - công nghệ thông tin trong công tác văn phòng
1. Khái niệm và đặc điểm của công nghệ thông tin.
1.1. Khái niệm
Cuộc cách mạng Công nghệ thông tin diễn ra sôi động hiện nay đang tác động sâu
sắc và trực tiếp đến mọi hoạt động kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới, mở ra
một thời kỳ phát triển mới khi nhân loại bớc vào thế kỷ XXI. Nội dung chủ đạo của bớc
chuyển lần này là sự phát triển từ nền văn minh công nghiệp tiến lên nền văn minh
thông tin và trí tuệ, mà cơ sở của nó là sự phát triển từ nền kinh tế công nghiệp truyền
thống sang nền kinh tế tri thức. Về cơ bản, bớc chuyển biến này đợc nảy sinh và đợc
thực hiện chủ yếu tại các nớc có nền kinh tế công nghiệp phát triển. Tuy nhiên, với xu
thế toàn cầu hoá nhanh chóng hiện nay, tác động của bớc chuyển biến vĩ đại này đã
lan toả nhanh chóng đến khắp các nớc trên thế giới. Xu thế này cũng tạo ra những cơ
hội to lớn và đồng thời cũng tạo ra những thách thức gay gắt cho các nớc đang phát triển
đang tìm đờng công nghiệp hóa và hiện đại hoá nền kinh tế và xã hội của mình.
Công nghệ thông tin là tập hợp các phơng pháp khoa học, các phơng tiện, công cụ
kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là máy tính điện tử và các mạng viễn thông - nhằm cung cấp
các giải pháp toàn thể để tổ chức, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên
thông tin phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ngời và xã hội.
Trong giai đoạn mới của sự phát triển kinh tế, xã hội dới tác động của công nghệ
thông tin tri thức và các ý tởng sáng tạo đóng vai trò trung tâm có ý nghĩa quyết định.
Vì vậy, hầu hết các quốc gia, các tổ chức và các công ty đều hiểu rằng vị trí tơng lai của
họ trong thế giới và trên thị trờng quốc tế phụ thuộc một cách quyết định vào việc liệu
họ có tận dụng đợc công nghệ thông tin để phát triển một cách nhanh chóng mọi năng
lực đổi mới nền sản xuất và kinh tế của họ đợc không? Không những đối với các nớc
phát triển, mà nhiều nớc đang phát triển trong khu vực cũng có những chính sách mạnh
mẽ phát triển công nghệ thông tin trong những thập niên gần đây và đã đạt đợc nhiều
Nguyễn Thanh Hà - 846018

Luận văn tốt nghiệp
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin cho phép con ngời có thể làm đợc những việc
mà mình mong muốn, từ đó phát triển nền kinh tế, nâng cao đời sống.
2. Thành phần cơ bản của công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin bao gồm 3 thành phần cơ bản sau:
2.1. Thành phần máy tính
Máy tính điện tử là thành phần cơ bản của công nghệ thông tin. Theo cách hiểu
đơn giản, máy tính là thiết bị điện tử dùng để thu nhận, xử lý, lu cất và hiển thị thông
tin. Máy tính có nhiều loại khác nhau, thông dụng nhất là máy vi tính để gọn trên bàn
làm việc, ngoài ra còn có các loại lớn về kích thớc và tính năng, ví dụ: máy mini dùng
để xử lý những công việc đồng thời, máy Super rất mạnh dùng để giải các bài toán lớn
và phức tạp. Máy tính cùng với các thiết bị đi kèm nh màn hình, máy in, thiết bị ngoại vi
đợc gọi là phần cứng (Hardware). Nếu nh phần cứng đứng riêng rẽ thì sẽ không làm đợc
gì cả mà nó cần phải có các chơng trình hay còn gọi là phần mềm đi kèm để điều khiển
hoạt động của phần cứng (còn gọi là phần mềm hệ thống). Ngoài ra một số yếu tố quan
trọng của công nghệ thông tin là hệ thống (tổ chức, xã hội) mà qua đó dòng thông tin
chuyển vận từ cá nhân hoặc cơ quan này sang cơ quan khác. Nh vậy hiểu theo nghĩa
rộng, máy tính gồm phần cứng, phần mềm và thông tin.
2.2. Thành phần mạng truyền thông
Một tính năng nữa của công nghệ thông tin đó là việc cho phép liên kết, gửi và
nhận thông tin qua mạng. Qua mạng truyền thông, các máy tính (còn gọi là trạm làm
việc) ở các vị trí khác nhau đợc nối lại với nhau bằng các đờng truyền thông dụng nhất.
Việc đa các mạng truyền thông vào sử dụng mang tính chất cách mạng không chỉ cho
cá nhân ngời dùng mà cho cả quản lý, sản xuất, dịch vụ của các doanh nghiệp và các cơ
quan quản lý Nhà nớc Bản thân mạng truyền thông cũng bao gồm cả phần cứng,
phần mềm để điều khiển các thông tin trong quá trình chuyển vận trên mạng.
2.3. Thành phần bí quyết
Nguyễn Thanh Hà - 846018
12
Luận văn tốt nghiệp

nhớ để ghi các chơng trình tính toán và dữ liệu; các thiết bị đa vào (chuột, bàn phím,
đĩa mềm ) và đa kết quả ra (màn hình, máy in, đĩa mềm ). Cấu trúc đó tạo thành
phần cứng của máy tính điện tử, sẵn sàng tổ chức thực hiện các trình tự tính toán đợc
quy định bởi các chơng trình bất kỳ. Tuỳ theo từng bài toán cụ thể, ngời ta viết một ch-
ơng trình để giải nó trong một ngôn ngữ máy tính nào đó và chơng trình đợc đa vào máy
tính để máy thực hiện. Các chơng trình làm thành phần mềm của máy tính điện tử. Tuỳ
theo tính chất và phạm vi tác động của các loại chơng trình mà ta có: phần mềm hệ
thống, phần mềm tiện ích và phần mềm ứng dụng.
Máy tính điện tử là thành phần cơ bản của công nghệ thông tin. Tuy nhiên, theo
nghĩa rộng thờng dùng hiện nay, công nghệ thông tin là tập hợp các phơng pháp khoa
học, các phơng tiện, công cụ kỹ thuật hiện đại chủ yếu là máy tính điện tử và các
mạng viễn thông nhằm cung cấp các giải pháp toàn thể để tổ chức, khai thác, sử
dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh
vực hoạt động của con ngời và xã hội.
Trong hơn nửa thế kỷ qua, kỹ thuật máy tính điện tử, viễn thông đã phát triển một
cách mạnh mẽ, nhanh chóng và liên tục, tạo tiền đề cho sự thâm nhập sâu rộng của công
nghệ thông tin vào mọi mặt hoạt động của con ngời. Năm 1946, các máy tính điện tử
đầu tiên ra đời, kéo theo việc sản xuất hàng loạt máy tính điện tử thế hệ thứ nhất và thứ
hai dùng đèn điện tử. Giữa thập kỷ 60, sự ra đời của các máy tính điện tử thế hệ thứ 3
với kỹ thuật mạch tích hợp và các bộ nhớ bán dẫn, máy tính điện tử bắt đầu đợc ứng
dụng rộng rãi trong kinh doanh, quản lý kinh tế. Đến giữa thập kỷ 70, ra đời các bộ vi
xử lý, đó là các linh kiện thực hiện chức năng của cả bộ xử lý trung tâm của một máy
tính điện tử đợc chứa trong chỉ một chíp bán dẫn có diện tích khoảng 1-2 cm2. Cho
đến cuối thập kỷ 80 sang đầu thập kỷ 90, sự phát triển bùng nổ của các mạng viễn thông
truyền dữ liệu quốc gia và quốc tế trên cơ sở kỹ thuật cáp quang, vệ tinh và vi ba số đã
có khả năng nối mạng không những giữa các trung tâm tính toán mà còn nối đợc đến
Nguyễn Thanh Hà - 846018
14
Luận văn tốt nghiệp
từng máy vi tính cá nhân. Xuất hiện những hệ thống siêu xa lộ thông tin liên kết hàng

xã hội của con ngời ngay từ giai đoạn đầu của nền văn minh nông nghiệp. Thông tin
trong thời kỳ sơ khai của con ngời chỉ đơn thuần ở dạng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, rồi
phát triển đến tiếng nói, chữ viết. Thế nhng, thông tin đã đóng vai trò vô cùng quan
trọng, vì không xã hội nào có thể tồn tại nếu không có thông tin, tức là sự trao đổi,
truyền tải thông tin. Xã hội càng phát triển, nhu cầu về thông tin và xử lý thông tin ngày
càng lớn, đòi hỏi phải đợc đáp ứng kịp thời. Sự ra đời của máy tính điện tử và kỹ thuật
tính toán đã đa đến một cuộc cách mạng trong sản xuất nông nghiệp: tự động hóa các
thiết bị sản xuất và các dây chuyền sản xuất, tin học hoá các hoạt động quản lý, kinh
doanh Và đến khi công nghệ thông tin đ ợc ứng dụng rộng rãi đã thúc đẩy nhanh
chóng các hoạt động thông tin trong mọi lĩnh vực, tạo ra ngày càng nhiều giá trị gia
tăng trong các khu vực kinh tế, làm cho thông tin trở thành nguồn tài nguyên quốc gia
quan trọng hàng đầu. Những tác động chủ yếu của công nghệ thông tin tới sự phát triển
của nền kinh tế và xã hội đợc đề cập trong các lĩnh vực sau:
+ Đối với công nghiệp, một mặt công nghệ thông tin đã tạo ra một ngành công
nghiệp công nghệ thông tin, hiện đang phát triển rất nhanh chóng, mặt khác, đợc ứng
dụng trong các quá trình sản xuất và trong tổ chức của các ngành công nghiệp vốn có để
tăng năng suất và chất lợng sản phẩm, tạo ra sản phẩm mới với nhiều tính năng hiện đại,
tự động hoá các hoạt động thiết kế và chế tạo sản phẩm, tin học hóa các hoạt động tiếp
thị, kinh doanh Có thể nói, với công nghiệp,công nghệ thông tin là một công nghệ tạo
khả năng. Làm chủ đợc công nghệ đó thì có thể sáng tạo ra nhiều cách sử dụng linh hoạt
trong nhiều lĩnh vực của sản xuất.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
16
Luận văn tốt nghiệp
+ Đối với các ngành dịch vụ, công nghệ thông tin đã làm thay đổi một cách sâu
sắc nội dung và cách thức hoạt động của nhiều loại hình dịch vụ vốn có nh trong thơng
mại, quảng cáo, tiếp thị, giao thông vận tải, bảo hiểm, thông tin liên lạc và đặc biệt là
các dịch vụ tài chính và ngân hàng. Công nghệ thông tin cũng tạo ra nhiều ngành dịch
vụ mới nh dịch vụ thông tin và tri thức, văn hóa, t vấn, giáo dục từ xa, y tế từ xa Công
nghệ thông tin đã góp phần làm biến đổi các hoạt động theo hớng tăng hàm lợng trí tuệ,

hoặc bao lu trữ hệ thống đĩa mềm và đĩa cứng trên trục quay ngày càng hiện đại.
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác văn
phòng phải tự bồi dỡng, đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ, trình độ tin học, ngoại ngữ
để có thể cập nhật thông tin một cách nhanh nhạy, chính xác trong xu thế toàn cầu hoá
hiện nay.
- Phong cách làm việc trong điều kiện hiện nay là làm việc theo nhóm, tổ chức cơ
quan rất uyển chuyển linh hoạt.
- Trong văn phòng hiện đại, vai trò của con ngời đợc đề cao, đợc phát huy năng
lực, tài năng, đợc cung cấp thông tin, đợc quan tâm đến cái đẹp, làm đẹp cho bản thân
và cho xã hội (đặc biệt là phụ nữ).
6. Sự cần thiết của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn
phòng.
Trong đời sống hằng ngày, các quá trình thông tin thờng bao gồm các loại hoạt
động nh thu thập, lựa chọn, sắp xếp, lu trữ, tìm kiếm, chế biến, truyền đa, khai thác và
sử dụng thông tin Một quá trình gồm một số các hoạt động đó nhằm đạt một mục đích
nhất định thờng đợc gọi chung là quá trình xử lý thông tin. Quản lý và lãnh đạo, về thực
Nguyễn Thanh Hà - 846018
18
Luận văn tốt nghiệp
chất là thực hiện các quá trình xử lý thông tin, mà sản phẩm là các thông tin điều khiển
nhằm mang lại những kết quả tối u trong quá trình hoạt động.
Văn phòng với chức năng tham mu, giúp việc thờng phải xử lý thông tin để giúp
lãnh đạo cơ quan, đơn vị điều hành công việc một cách có hiệu quả. Với một khối lợng
công việc bao gồm rất nhiều khâu từ thu thập, xử lý thông tin cho đến công tác lập kế
hoạch, kiểm tra đánh giá rồi soạn thảo văn bản, l u trữ tài liệu thì việc ứng dụng
công nghệ thông tin vào trong công tác văn phòng là một bớc ngoặt lớn, đánh dấu sự
thay đổi về phơng pháp quản lý thông tin. Trớc đây khi nói đến văn phòng ngời ta hình
dung ngay tới những tập hồ sơ, những chồng tài liệu cao ngất, nhng bây giờ hình ảnh đó
đã đợc thay bằng những chiếc máy tính hiện đại với những phần mềm tiện ích cho phép
lu trữ một khối lợng lớn dữ liệu và vô vàn những tính năng u việt của nó. Hơn thế nữa,

mạnh trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần 3, 4, 5 đợc coi là một trong những nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu đa nông nghiệp đi lên sản xuất lớn XHCN.
Từ năm 1961, Viện đã trực tiếp khảo sát quy hoạch cho trên 100 nông trờng quốc
doanh ở miền Bắc,với sự hớng dẫn của chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc. Sự hình thành
và phát triển hệ thống nông trờng quốc doanh miền Bắc vào thời kỳ đó đánh dấu bớc đi
đầu tiên của nền nông nghiệp XHCN, là niềm tự hào của nhiều thế hệ cán bộ quy hoạch
trong suốt quá trình xây dựng và trởng thành.
Từ 1970-1974, dới sự lãnh đạo của Viện Khoa học nông nghiệp, Viện đã phối hợp
với các cơ quan liên quan nghiên cứu xây dựng đề án phát triển 4 vùng nông nghiệp, 16
tiểu vùng chuyên môn hoá ở miền Bắc trực tiếp khảo sát quy hoạch vùng: mía sông
Lam, ngô Lục Ngạn, bò sữa Mộc Châu ; một số vùng kinh tế mới: Nam Tuyên Quang,
Mộc Châu, Nam bắc Long Đại, Phủ Quỳ, Ba Chẽ ; quy hoạch một số huyện điểm: Tân
Lạc, Gia Lộc, Đông Hng, Nam Ninh, Quỳnh Lu.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
20
Luận văn tốt nghiệp
Năm 1975 dới sự chỉ đạo của Ban phân vùng quy hoạch nông lâm nghiệp TW,
Viện là lực lợng nòng cốt phối hợp xây dựng dự án phân vùng nông lâm nghiệp toàn
quốc, phân chia 7 vùng nông lâm nghiệp, xây dựng phơng án phân vùng nông lâm
nghiệp 40 tỉnh, thành phố.
Năm 1978, sau khi chính phủ phê duyệt dự án phân vùng nông lâm nghiệp 40 tỉnh
thành, dới sự chỉ đạo của chính phủ, chỉ trong 3 năm từ 1978 đến 1980, Viện đã là lực l-
ợng nòng cốt, phối hợp với các ngành quy hoạch cho trên 400 huyện thị trong cả nớc.
Từ 1981, trớc yêu cầu triển khai 3 chơng trình phát triển lơng thực nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến và chơng trình xuất khẩu, Viện đã quy hoạch hầu hết các vùng
chuyên canh cây lơng thực, cao su, chè, cà phê, mía đờng, bò sữa, bông, dâu tằm tơ
đồng thời quy hoạch triển khai các nông trờng vùng lúa ĐBSCL lập luận chứng kinh tế
kỹ thuật các vùng hợp tác với Liên Xô, Đức phát triển cà phê Tây Nguyên, cao su
Đông Nam Bộ và các vùng khác.
Từ 1986 đến nay, Viện đã phối hợp các ngành quy hoạch phát triển KTXH 7 vùng

các quy trình quy phạm, nội dung, phơng pháp và tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật của công
tác điều tra, phân vùng quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã đợc Bộ và Nhà nớc ban
hành.
- Tổ chức hớng dẫn chỉ đạo các địa phơng, các đơn vị thuộc bộ làm quy hoạch và
thiết kế vùng chuyên canh, huyện và xí nghiệp Nhà nớc ( nông trờng, trang trại, hợp tác
xã nông nghiệp); trực tiếp làm quy hoạch và thiết kế vùng chuyên canh, huyện xí
nghiệp trọng điểm trực thuộc TW, tiến hành khảo sát, thiết kế mẫu các xí nghiệp nông
nghiệp về các mặt đồng ruộng, thuỷ lợi, giao thông, đai rừng, mặt bằng khu trung tâm
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các phơng án quy hoạch và thiết kế nông nghiệp
từ TW đến địa phơng và các ngành liên quan.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
22
Luận văn tốt nghiệp
- Quản lý ruộng đất nông nghiệp.
- Xây dựng lực lợng cán bộ, tổ chức và chỉ đạo việc bồi dỡng nghiệp vụ chuyên
môn về công tác điều tra quy hoạch và thiết kế nông nghiệp cho các địa phơng, các đơn
vị thuộc bộ; tổ chức đào tạo cán bộ trung học về điều tra, phân vùng quy hoạch và thiết
kế nông nghiệp cho bộ và địa phơng nh chuẩn bị mở trờng cao đẳng, đại học để đào tạo
loại cán bộ này.
3. Cơ cấu tổ chức bộ máy Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp.
Nguyễn Thanh Hà - 846018
23
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp
Nguyễn Thanh Hà - 846018
Lãnh đạo
Phòng
Hành chính
quản trị
Phòng

Tài nguyên
Môi trường
Trung tâm
Quy hoạch
PTNT
Trung tâm
Hàng trắc
nội
Đoàn
Quy hoạch I
Đoàn
Quy hoạch II
Đoàn
Lào
Xí nghiệp
Đo đạc 1
Xí nghiệp
Đo đạc 2
Phân Viện
1
Phân Viện
2
24
Luận văn tốt nghiệp
4. Kết quả hoạt động của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp.
Để thực hiện mục tiêu tổng quát của CNH HĐH nông nghiệp nông thôn là
xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá hiệu quả bền vững có năng suất chất lợng
và cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng thành tựu KHCN tiên tiến, Viện quy hoạch
và thiết kế nông nghiệp cần phải có những biện pháp, phơng hớng thích hợp để có
thể đáp ứng nhu cầu trong mọi hoạt động quy hoạch khảo sát nông nghiệp, góp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status