Một số giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu chế xuất vùng đồng bằng sông Cửu Long - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Sau nhiều thập kỷ hình thành và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao với nhiều mô hình khác nhau, đang được các quốc gia trên
thế giới, nhất là các nước chậm phát triển vận dụng như một phương thức
hiệu quả nhất huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, đẩy nhanh tốc độ
phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển, tạo động
lực thúc đẩy quá trình hội nhập.
Là một quốc gia thuộc nhóm nước chậm phát triển, Việt Nam không
nằm ngoài quỹ đạo và xu hướng phát triển nói trên. Hơn 20 năm qua, cùng
với sự nghiệp đổi mới toàn diện nền kinh tế, quá trình hình thành và phát triển
các khu công nghiệp đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng mới hiện đại, góp
phần từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng hợp tác quốc tế.
Trong gần 20 năm hình thành và phát triển, các khu công nghiệp, khu
chế xuất đã thể hiện được vai trò của mình bằng những thành tựu nổi bật,
khẳng định được sự lựa chọn của Đảng ta là đúng đắn.
Đồng bằng sông Cửu Long, một vùng đất trù phú của đất nước ta, luôn
được biết đến với những cánh đồng màu mỡ, những vườn cây trái sum sê,
những con kênh con rạch chằng chịt... Giờ đây, theo chủ trương của Đảng và
Nhà nước, để công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đất thuần nông nay, những
khu công nghiệp cũng đã mọc lên. Trong những năm qua, rất nhiều khu công
nghiệp của vùng đã hoạt động rất hiệu quả, đã đóng góp đáng kể vào phát
triển nền công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói chung của vùng.
Qua thời gian thực tập, em đã có dịp được tìm hiểu kỹ hơn về các khu
công nghiệp, khu chế xuất và em thấy rằng: Bên cạnh những thành tựu đã đạt
được, các khu công nghiệp, khu chế xuất vùng đồng bằng sông Cửu Long
Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A
1
cũng còn rất nhiều vấn đề đang được đặt ra. Trong đó vấn đề nổi cộm là các
khu công nghiệp hoạt động không hiệu quả, không thu hút được vốn đầu tư
của các thành phần trong và ngoài nước, làm cho hiệu quả sử dụng đất rất

tìm kiếm số liệu cũng gặp nhiều khó khăn, nên bài viết của em còn nhiều
thiếu sót. Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô để em hoàn thiện bài
viết tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A
3
Chương I: Khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX) và vai trò của
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN, KCX
1.1. Vai trò của các KCN, KCX đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội
1.1.1. Khái niệm về KCN, KCX
Theo Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3
năm 2008 quy định về KCN, KCX thì KCN, KCX được hiểu như sau:
• Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực
hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được
thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.
• Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu,
thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có
ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp
dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này.
KCN, KCX được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy
định cụ thể.
Như vậy, các KCN, KCX là nơi tập trung các doanh nghiệp công
nghiệp, doanh nghiệp chế xuất đảm bảo tiết kiệm và tận dụng tối đa cơ sở hạ
tầng, quản lý hành chính và quản lý môi trường thuận lợi hơn, tốt hơn. Chúng
có những đặc trưng sau đây:
+ KCN, KCX được coi là một địa bàn tự do thu nhỏ về chính sách kinh
tế - xã hội, một “phòng thí nghiệm” các chính sách mở cửa của nước sở tại.
Việc xây dựng các KCN, KCX có thể làm thay đổi diện mạo một vùng kinh
tế, tạo điều kiện cho dân cư được tiếp cận với một nền công nghiệp hiện đại,

Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A
5
chuyển đổi cơ cấu kinh tế cần tiến hành phân kỳ đầu tư chặt chẽ nhằm đảm
bảo sử dụng đất có hiệu quả.
+ Các KCN, KCX phải có khả năng thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu
tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Đây là một điều kiện hết sức quan
trọng, bởi vì vốn đầu tư là đầu vào quan trọng nhất đối với tất cả các KCN,
KCX, là điều kiện cần để phát triển các khu công nghiệp.
+ KCN, KCX phải được xây dựng ở những địa phương có khả năng
cung cấp và đáp ứng nhu cầu về lao động một cách tốt nhất.
+ Phải đảm bảo được các yêu cầu về an ninh quốc phòng.
+ Đối với các địa phương đã phát triển khu công nghiệp, việc thành lập
mới các khu công nghiệp chỉ được thực hiện khi tổng diện tích đất công
nghiệp của các khu công nghiệp đã được thuê ít nhất là 60%.
+ Đối với khu công nghiệp có quy mô diện tích trên 500ha và có nhiều
chủ đầu tư tham gia đầu tư xây dựng – kinh doanh kết cấu hạ tầng, phải tiến
hành lập quy hoạch chung xây dựng khu công nghiệp theo hướng dẫn của Bộ
Xây dựng trược khi lập kế hoạch chi tiết khu công nghiệp để đảm bảo tính
thống nhất và tính đồng bộ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp.
+ Trong các KCN, KCX không có khu dân cư. Trong khu công nghiệp
có thể có khu chế xuất, có doanh nghiệp chế xuất.
1.1.2. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển các
KCN, KCX.
a) Chủ trương phát triển các KCN, KCX
Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, việc phát triển các
KCN, KCX được coi là nhân tố cơ bản trong việc khai thác tốt tiềm năng nội
sinh, thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài, đây là con
đường ngắn nhất để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, và
cũng chính là con đường mà Việt Nam đã chọn.
Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A

sinh trong hoạt động đầu tư của doanh nghiệp). Ban quản lý các KCN, KCX
là đầu mối liên kết giữa nhà đầu tư với KCN, KCX, thông qua Ban quản lý
các KCN, KCX, nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận với các thông tin về KCN, KCX,
nắm bắt được tình hình của các khu công nghiệp một cách rõ ràng, chi tiết
hơn và được giải quyết thủ tục đầu tư ngay tại địa phương chứ không phải qua
nhiều “cửa” như trước đây. Nhờ đó, giúp cho nhà đầu tư nước ngoài nhanh
chóng và đơn giản hóa việc xin phép đầu tư, giảm bớt được chi phí về thời
gian và tiền bạc; đồng thời giúp giảm bớt khối lượng công việc của cơ quan
Trung ương, tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý, nắm bắt tình hình hoạt
động của các doanh nghiệp trong KCN, KCX một cách trực tiếp và sâu sát
hơn thông qua Ban quản lý các KCN, KCX.
+ Chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp: những dự án đầu
tư vào KCN, KCX được hưởng ưu đãi cao hơn đối với các dự án cùng
ngành nghề, cùng lĩnh vực nhưng đầu tư ngoài KCN, KCX như giảm 50%
thuế thu nhập đối với người có thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập, kể
cả người Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại các KCN, KCX ; khu
vực đầu tư nước ngoài được khuyến khích, ưu tiên cao hơn đối với khu vực
đầu tư trong nước.
+ Chính phủ đã bãi bỏ một số quy định về thuế theo hướng khuyến
khích đầu tư nước ngoài như: thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài; áp dụng
một số chính sách giá trị gia tăng (VAT), thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
theo hướng ưu đãi đặc biệt đối với doanh nghiệp khu chế xuất.
Một số chính sách về đất đai cũng được xây dựng, sửa đổi theo hướng
ưu đãi tiền thuê đất đối với doanh nghiệp KCN, KCX
+ …
1.1.3. Vai trò của các KCN, KCX đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A
8
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm của Việt

Như vậy có thể thấy rằng các KCN, KCX có đóng góp không nhỏ
trong việc huy động nguồn lực vào thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước
Thứ hai, sự phát triển các KCN, KCX góp phần đáng kể vào GDP,vào
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng
hóa ngành nghề, nâng cao trình độ công nghệ và khả năng cạnh tranh của sản
phẩm, góp phần chuyển dịch cơ cấu chung của cả nước.
Các KCN, KCX đóng góp lớn vào việc nâng cao giá trị sản xuất công
nghiệp , nâng cao giá trị gia tăng của ngành công nghiệp, do đó góp phần làm
tăng GDP của địa phương nói riêng, và của cả nước nói chung, đồng thời
trực tiếp làm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp trong cơ cấu kinh tế. Mặt
khác, các KCN, KCX hình thành và phát triển kéo theo các ngành dịch vụ
phục vụ đời sống và sản xuất bên trong KCN, KCX cũng được phát triển
mạnh mẽ hơn, làm cho tỷ trọng ngành dịch vụ tăng lên. Vì vậy, các KCN,
KCX góp phần đáng kể làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Các dự án đầu tư vào KCN, KCX rất đa dạng, với nhiều ngành nghề
khác nhau, trong đó có nhiều ngành nghề mới. Thêm vào đó, sự xuất hiện của
các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của các KCN, KCX. Do đó, các KCN,
KCX góp phần làm đa dạng hóa các ngành nghề.
Các KCN, KCX là nơi thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế
trong và ngoài nước, các dự án trong KCN, KCX thường có công nghệ tiên
tiến, vì vậy năng lực sản xuất cao hơn. Vì vậy, các doanh nghiệp ở ngoài các
KCN, KCX muốn tồn tại và phát triển thì phải nâng cao năng lực cạnh tranh
của mình. Như vậy, các KCN, KCX đã gián tiếp thúc đẩy khả năng cạnh tranh
Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A
10
của các doanh nghiệp, làm cho thị trường càng năng động hơn, hiệu quả hơn,
hội nhập với thế giới tốt hơn.
Thứ ba, phát triển KCN, KCX tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng công

doanh nghiệp dù là ở lĩnh vực nào. Vì vậy, việc hình thành các KCN,
KCX_nơi tập trung một số lượng lớn các doanh nghiệp công nghiệp, đã mở ra
một không gian kinh tế rộng lớn, một kênh mới rất có tiềm năng thu hút lao
động ở nhiều trình độ khác nhau, nhờ đó đã giải quyết vấn đề việc làm cho
hàng chục vạn lao động, trong đó có một phần đáng kể là lao động nông thôn
dư thừa, giúp họ có một công việc ổn định, được đào tạo tay nghề, chuyên
môn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, góp phần tích cực vào việc đẩy lùi các
tệ nạn xã hội. Tính đến T8/2008, các KCN, KCX ở nước ta đã thu hút được
khoảng 1.064.000 lao động trực tiếp, nếu tính đến cả lao động gián tiếp thì số
lao động thu hút được ước tính khoảng 1,5 – 1,8 triệu lao động.
KCN, KCX là nơi sử dụng lao động có chuyên môn kỹ thuật phù hợp
vói công nghệ mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực và quốc tế. Do
đó, KCN, KCX đóng góp rất lớn vào đào tạo nguồn nhân lực để hình thành
đội ngũ lao động của nền công nghiệp hiện đại. Ở nước ta, nhiều khu công
nghiệp đã xây dựng các cơ sở dạy nghề (trường cao đẳng kỹ thuật công nghệ
Biên Hòa, Trung tâm dạy nghề Việt Nam – Singapore…). Đặc biệt đã hình
thành mô hình liên kết đào tạo và sử dụng nhân lực giữa các khu công nghiệp
và Nhà trường.
KCN, KCX là nơi doanh nghiệp được thử thách trong môi trường cạnh
tranh sôi động không chỉ trong nước, mà còn thử thách trong môi trường cạnh
tranh quốc tế. Cạnh tranh và quan hệ cung – cầu lao động diễn ra ở khu vực
Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A
12
này rất gay gắt, tạo động lực để lao động không ngừng phấn đấu, nâng cao tay
nghề, nâng cao trình độ chuyên môn.
Thứ sáu, các doanh nghiệp trong KCN, KCX góp phần làm tăng nguồn
thu cho ngân sách Nhà nước
Thông qua việc thực hiện nghĩa vụ thuế, các doanh nghiệp trong các
KCN, KCX đã đóng góp một phần không nhỏ vào nguồn thu ngân sách Nhà
nước.

thường là những dự án đầu tư mới, phần lớn được trang bị máy móc thiết vị
thế hệ mới, đồng bộ. Với thế mạnh về công nghệ, thiết bị, cộng với phương
pháp quản lý tiến bộ, cac doanh nghiệp này sản xuất ra sản phẩm có chất
lượng tốt và ổn định. Vì vậy, để cạnh tranh có hiệu quả và tồn tại được trên
thị trường, các doanh nghiệp ngoài KCN, KCX sản xuất sản phẩm cùng loại
không còn cách nào khác là phải áp dụng mọi biện pháp để không ngừng
nâng cao chất lượng sản phẩm của mình, góp phần giúp công nghiệp địa
phương từ chỗ phục vụ nhu cầu tại chỗ là chính đã vươn ra thị trường cả nước
và xuất khẩu.
Như vậy, vai trò của KCN, KCX trong quá trình đô thị hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp nông thôn là rất quan trọng. Các KCN, KCX khong chỉ
trực tiếp thúc đẩy công nghiệp của địa phương và của vùng phát triển mạnh
mẽ, mà cón có tác động lan tỏa rộng rãi tới nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của
đời sống kinh tế từng địa phương và cả nước. Đó chính là hạt nhân của
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước.
Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A
14
1.2. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và hoạt động thu hút
FDI vào các KCN, KCX
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và các hình thức của FDI
a)Khái niệm
FDI là nguồn vốn lớn, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế ở
các nước đang phát triển. FDI trở thành một tất yếu kinh tế trong điều kiện
quốc tế hóa sản xuất và lưu thông. Không có một quốc gia nào, dù lớn hay
nhỏ, dù phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa lại
không cần đến FDI và tất cả đều coi đó là nguồn lực quốc tế quan trọng cần
khai thác để từng bước hòa nhập vào cộng đồng quốc tế.
Theo luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thì “ Đầu tư trực
tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng
tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư”. Như

khả năng trả nợ của họ thường là yếu kém.
Thứ hai, FDI là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn
khỏi nước sở tại
Kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực
năm 1997 đã cho thấy, những nước chịu tác động nặng nề của khủng hoảng
thường là những nước nhận nhiều vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài; ngược
lại những nước thu hút nhiều FDI thường chịu tác động của cuộc khủng
hoảng ít hơn, nhẹ hơn. Chính vì vậy, sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ,
các nước đang phát triển được khuyến cáo nên thay đổi chính sách theo
hướng thận trong hơn với đầu tư gián tiếp, chú trọng hơn đến việc thu hút
FDI. Bởi vì trong trường hợp không muốn đầu tư tiếp, nhà đầu tư trực tiếp
cũng không thể rút vốn dễ dàng, nhanh chóng như đầu tư gián tiếp, vì vốn của
họ nằm trực tiếp trong nhà xưởng, thiết bị trên nước sở tại.
Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A
16
Thứ ba, FDI không đơn thuần chỉ là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ,
kỹ thuật,phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới,
mở ra thị trường mới cho nước tiếp nhận đầu tư.
Đây là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI. Các nước đang phát triển
thường có trình độ khoa học và công nghệ thấp, lạc hậu. Để rút ngắn khoảng
cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển, thì những nước này cần
nhanh chóng tiếp cận với các kỹ thuật mới, tiên tiến. Tùy theo hoàn cảnh cụ
thể của mình, mỗi nước có cách đi riêng để nâng cao trình độ công nghệ của
mình, thông qua FDI là cách tiếp cận nhanh, trực tiếp, thuận lợi. Đồng thời,
FDI có tác dụng rõ nét hơn các hình thức đầu tư nước ngoài khác trong việc
chấn hưng, làm thay đổi bộ mặt của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư.
c)Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song những chủ yếu là 3 hình thức:
hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài.

tiên tiến hiện đại. Cùng với việc cung cấp vốn, qua hình thức này, các công
ty nước ngoài đã chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc nước khác tiên
tiến hơn sang cho nước tiếp nhận đầu tư, do đó các nước tiếp nhận đầu tư
có thể nhân được nhưng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại (thực tế, có
những công nghệ không thể mua được bằng quan hệ thương mại đơn
thuần), những kinh nghiệm quản lý, năng lực Marketing, đội ngũ lao động
được đào tạo, rèn luyện về mọi mặt (trình độ kỹ thuật, phương pháp làm
việc, kỷ luật lao động…).
FDI có tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đầu tư FDI làm cho hoạt động đầu tư trong
Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A
18
nước phát triển. Các doanh nghiệp trong nước được tham gia vào mạng lưới
sản xuất toàn cầu, để tồn tại được trong môi trường đó, đòi hỏi các doanh
nghiệp trong nước phải nâng cao tính năng động và khả năng cạnh tranh trong
nước, tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các tiềm năng của đất nước. Điều đó
có tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực,
phù hợp với xu hướng chung của phân công lao động quốc tế.
Các doanh nghiệp FDI thu hút một số lượng lớn lao động, giải quyết
được việc làm cho một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động.
Việc tiếp nhận FDI không đẩy các nước vào cảnh nợ nần, không chịu
những ràng buộc về chính trị, xã hội.
FDI góp phần bổ sung đáng kể vào nguồn thu ngân sách quốc gia thông
qua việc thực hiện nghĩa vụ về thuế cho doanh nghiệp có vốn FDI.
Như vậy, có thể thấy lợi ích của FDI với nước sở tại có thể chia thành
hai loại: Tác động trực tiếp được tạo ra thông qua những mối quan hệ giữa
nước đầu tư và nước nhận đầu tư trên cơ sở chuyển giao vốn, công nghệ tiên
tiến và bí quyết quản lý hiện đại, nâng cao trình độ quản lý và kinh doanh của
các công ty địa phương. Tác động gián tiếp được tạo ra thông qua việc tăng
cường tính cạnh tranh của cả hai phía đối tác hoặc lợi ích bên ngoài, hiện

nông thôn, gia tăng khoảng cách giàu nghèo. Vì mục đích cuối cùng và quan
trọng nhất của nhà đầu tư là luôn luôn tối đa hóa lợi nhuận, họ thực hiện quá
trình sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật của quốc gia sở tại, nhưng chỉ
đầu tư vào những vùng, những ngành nghề có tỷ suất lợi nhuận cao.
1.2.3. Quan niệm về hoạt động thu hút FDI vào các KCN, KCX
Thu hút FDI vào các KCN, KCX là một quá trình bao gồm nhiều hoạt
động khác nhau và các quyết định nối tiếp nhau nhằm vận động và giúp đỡ
Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A
20
các nhà đầu tư nước ngoài ra quyết định và thực hiện đầu tư vào một KCN,
KCX cụ thể của một quốc gia.
Hoạt động thu hút có nghĩa là các hoạt động nhằm gia tăng sự chú ý và
quan tâm của các nhà đầu tư quốc tế vào các dự án đầu tư cụ thể trong một
KCN, KCX, có thể mang lại lợi ích thương mại cho các nhà đầu tư. Hoạt
động này bao gồm nhiều nội dung, liên quan chặt chẽ với nhau. Việc thực
hiện tốt và có sự phối hợp đồng bộ giữa các nội dung sẽ mang lại kết quả cao
cho hoạt động thu hút FDI vào các KCN, KCX của một quốc gia.
Thu hút FDI vào KCN, KCX có các hình thái chủ động và bị động.
Hình thái chủ động là hình thái các chủ thể trong nước sở tại tích cực, chủ
động tìm kiếm nhà đầu tư nước ngoài, thuyết phục họ đầu tư vào các KCN,
KCX thông qua các hoạt động mang tính chuyên nghiệp như tham gia triển
lãm quốc tế, chủ động tìm kiếm đối tác đầu tư bằng cách tiếp xúc với các
doanh nghiệp khác tham gia triển lãm; quảng cáo trên các tờ báo quốc tế có
uy tín; quảng bá hình ảnh của các KCN, KCX trong nước thông qua hoạt
động quan hệ công chúng. Những khu công nghiệp áp dụng hình thái chủ
động thường thành công hơn trong hoạt động thu hút FDI. Thông qua hình
thái chủ động, ban quản lý các khu công nghiệp luôn tìm cơ hội được thể hiện
mình rõ nét nhất, ấn tượng nhất trước mắt các nhà đầu tư nước ngoài, làm cho
họ biết đến mình để so sánh, cân nhắc với các đối tượng khác trước khi quyết
định đầu tư. Từ đó cũng làm tăng cơ hội được lựa chọn trước các nhà đầu tư.

ro là quá lớn mỗi khi có sự thay đổi thể chế chính trị. Những sự thay đổi này
sẽ làm đảo lộn phương hướng, chiến lược hay đình trệ hoạt động sản xuất
kinh doanh của họ. Có ổn định chính trị thì những cam kết của chính quyền
địa phương nước sở tại đối với nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính
sách ưu tiên, định hướng phát triển mới được đảm bảo. Sự ổn định về mặt xã
Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A
22
hội, tức là nhà đầu tư nước ngoài được đảm bảo an toàn về con người, về tài
sản, hạn chế tối đa các tệ nạn xã hội có thể tác động tới tâm lý của các nhà
đầu tư. Như vậy, sự ổn định về chính trị - xã hội là nhân tố tích cực tác động
đến tình hình thu hút FDI và ngược lại, sự bất ổn về chính trị - xã hội là
nguyên nhân để các nhà đầu tư nước ngoài xa lánh.
-Nhân tố kinh tế
Đây là nhân tố tập hợp của những yếu tố như: cơ sở hạ tầng, khả năng
vốn đầu tư trong nước, mức độ phát triển kinh tế và các chính sách kinh tế
ảnh hưởng tới việc thu hút FDI vào quốc gia sở tại. Cơ sở hạ tầng có ý nghĩa
rất quan trọng đối với việc thu hút FDI. Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống kho,
cảng, đường xá, sân bay, điện, nước, dịch vụ bưu chính viễn thông… tốt sẽ
giảm bớt chi phí đầu vào và thúc đẩy quá trình lưu thông, tiêu thụ sản phẩm.
Bên cạnh đó, để thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài, cần phải có một
nguồn vốn trong nước tương đối lớn để đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Chi
phí này bao gồm: chi phí đất đai, chi phí xây dựng, chi phí mua sắm trang
thiết bị máy móc, chi phí công trình phụ trợ… Nguồn vốn trong nước dồi dào
sẽ là một nguồn lực quan trọng hình thành nên những cơ sở hạ tầng hiện đại,
đáp ứng nhu cầu và thu hút được vốn cảu các nhà đầu tư nước ngoài. Mức độ
phát triển kinh tế thể hiện qua tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, GDP/đầu người có
ảnh hưởng tới quyết định đầu tư vào một quốc gia của nhà đầu tư nước ngoài.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế khẳng định rằng nền kinh tế của nước sở tại đang
tăng trưởng theo chiều hướng tốt hay xấu, các chính sách kinh tế của Nhà
nước có hợp lý hay không, có phát huy được tác dụng hay không, và nền kinh

tinh thần cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn phải quan tâm đến nhu cầu
của người lao động; dành một tỷ lệ thích đáng diện tích mặt bằng cho giao
thông, thông tin bưu chính, khu cây xanh, nhà văn hóa, sân thể thao phục vụ
Lª ThÞ Thanh – Líp KÕ Ho¹ch 47A
24
người lao động… đời sống văn hóa, tinh thần phong phú sẽ mang lại hiệu quả
làm việc cao cho người lao động và cũng là mang lại lợi ích cho nhà đầu tư
nước ngoài. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài có kinh nghiêm, nhân tố văn
hóa cũng rất được chú ý khi lựa chọn địa điểm đầu tư.
1.2.4.2. Nhân tố thuộc môi trường đầu tư của KCN, KCX
Bên cạnh những nhân tố thuộc về môi trường đầu tư chung ảnh hưởng
tới hoạt động thu hút FDI, thì có rất nhiều những yếu tố bên trong KCN, KCX
và yếu tố thuộc về địa phương có KCN, KCX ảnh hưởng mạnh mẽ tới xu
hướng phát triển của dòng vốn FDI vào các KCN, KCX:
-Hệ thống các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ phục vụ kinh
doanh tại địa phương
Một doanh nghiệp muốn hoạt động được thì ngoài những nguyên,
nhiên vật liệu chính còn phải sử dụng những hàng hóa và dich vụ do các
doanh nghiệp khác cung ứng. Trong điều kiện ngày nay, mức độ chuyên môn
hóa trong sản xuất kinh doanh ngày một tăng dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa các doanh nghiệp ngày càng lớn. Chính vì vậy, khi quyết định lựa chọn
một KCN, KCX làm địa điểm kinh doanh, các nhà đầu tư quan tâm đến các
ngành công nghiệp phụ trợ và các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ phục vụ
kinh doanh ngay tại KCN, KCX và ngay tại địa phương đó. Các ngành công
nghiệp phụ trợ sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư những vật tư phu, dịch vụ gia
công, cung cấp các chi tiết sửa chữa máy móc, thiết bị… Các doanh nghiệp
cung ứng dịch vụ kinh doanh sẽ cung cấp các dịch vụ như là tư vấn, kiểm
toán, ngân hàng, tài chính, tư vấn luật, đào tạo… Địa phương có ngành công
nghiệp phụ trợ và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh được thỏa mãn được nhu cầu của
nhà đầu tư sẽ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của địa phương. Chính vì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status