TIỂU LUẬN:
Cách mạng xã hội chủ nghĩa với
việc hoàn thành sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân
Mở đầu
Trong giai đoạn mới hiện nay, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang
diễn ra trên toàn thế giới, chủ nghĩa xã hội đang ở trong thời kỳ thoái trào, thời đại
ngày nay vẫn đang là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi toàn thế giới còn đang có nhiều biến động, tiêu cực thì vấn đề làm sáng tỏ
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được đặt ra trở nên bức thiết hơn bao giờ hết,
cả trên hai phương diện: lý luận và thực tiễn.
niệm như: giai cấp vô sản, giai cấp xã hội, giai cấp công nhân hoàn toàn chỉ dựa
vào việc bán sức lao động của mình và lao động làm thuê ở thế kỷ XIX, giai cấp vô
sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp như
những cụm từ đồng nghĩa để biểu thị một khái niệm.
Trong các thuật ngữ này, tuỳ từng điều kiện mà ta sử dụng. Tuy nhiên, các thuật
ngữ đó đều nói lên: Giai cấp công nhân- con đẻ của nền đại công nghiệp tư bản chủ
nghĩa, giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất
hiện đại. Ngoài các thuật ngữ trên, C.Mác và Ph.Ăngghen còn dùng những thuật ngữ
có nội dung hẹp hơn để chỉ các loại công nhân trong các ngành khác nhau, trong các
giai đoạn khác nhau của công nghiệp như: công nhân cơ khí là công nhân làm trong
ngành cơ khí; công nhân dệt là công nhân làm trong ngành dệt; công nhân công
trường thủ công là công nhân làm trong các công trường; công nhân nông nghiệp là
công nhân làm trong ngành nông nghiệp có sử dụng các trang thiết bị của công
nghiệp
Mặc dù các thuật ngữ trên có nhiều tên gọi khác nhau như thế nào đi nữa thì
theo C.Mác và Ph.Ăngghen chúng vẫn chỉ mang hai thuộc tính căn bản.
Thứ nhất, về phương thức lao động, phương thức sản xuất: Giai cấp công nhân
là lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công
nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao.
Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: đó là những người
lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư
bản bóc lột về giá trị thặng dư.
Trong hai tiêu trí này, C.Mác và Ph.Ăngghen tới tiêu chí một đó là công nhân
công xưởng, được coi là bộ phận tiêu biểu cho giai cấp công nhân hiện đại. Hai ông
cho rằng: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại
công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của nền đại công nghiệp”; “công
nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc cũng vậy công
Dưới chế độ chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân lại là những người lao động
tự do, những người bán sức lao động để sống, họ là những người làm công ăn lương
(hay làm thuê), là lao động trong lĩnh vực công nghiệp.
Ngày nay, với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nửa sau của thế kỷ XX,
bộ mặt của giai cấp công nhân hiện đại có nhiều thay đổi khác trước. Từ dự kiến của
C.Mác và Ph.Ăngghen, giai cấp công nhân xét về diện mạo có nhiều biến đổi. Chính
sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội hiện nay đã vượt xa trình độ văn minh
công nghiệp trước đây, sự xã hội hoá và phân công lao động xã hội mới, cơ cấu của
giai cấp công nhân hiện đại; các hình thức bóc lột giá trị thặng dư đã làm cho diện
mạo của giai cấp công nhân hiện đại không còn giống với những mô tả của C.Mác
trong thế kỷ XIX. Tuy thế nhưng giai cấp công nhân hiện đại vẫn tồn tại, vẫn có sứ
mệnh lịch sử của mình trong xã hội tư bản hiện đại; những thuộc tính cơ bản của giai
cấp công nhân mà C.Mác đã phát hiện ra vẫn còn nguyên giá trị.
Hiện nay, cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân đã có nhiều thay đổi to
lớn. Bên cạnh lực lượng công nhân truyền thống, xuất hiện công nhân trình độ tự
động hoá với việc áp dụng phổ biến công nghệ thông tin vào sản xuất. Bên cạnh
những ngành công nghiệp truyền thống, xuất hiện công nhân hoạt động ở lĩnh vực
dịch vụ. Thực tế, ở các nước tư bản, công nhân trong các ngành dịch vụ này chiếm
50% đến 70% lao động.Tuy nhiên, điều này không hề làm giảm vai trò của giai cấp
công nhân trong nền kinh tế và ngay cả tỷ trọng của giai cấp công nhân trong dân cư.
Bởi vì những người làm thuê trong các ngành dịch vụ gắn liền với công nghiệp và
hoạt động theo lối công nghiệp vẫn là công nhân xét cả trên hai thuộc tính về giai cấp
công nhân. Mặt khác, bên cạnh trình độ thấp của giai cấp công nhân truyền thống đã
xuất công nhân có trình độ cao, có xu hướng “tri thức hoá” và cũng ngày càng tiếp
thu thêm đông đảo những người thuộc tầng lớp trí thức vào hàng ngũ của mình. Mặc
dù vậy, bản chất về giai cấp công nhân cũng không hề thay đổi. Nếu trước kia, công
nhân bán sức lao động chân tay là chủ yếu thì nay, họ bán cả sức lao động chân tay
Dưới chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân trở thành giai cấp nắm chính quyền,
thành giai cấp thống trị nhưng không thành giai cấp bóc lột, họ có nhiệm vụ lãnh đạo
cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, đại biểu cho toàn thể nhân dân
lao động làm chủ những tư liệu sản xuất cơ bản đã được công hữu hoá.
Sau khi xoá bỏ được mọi giai cấp, giai cấp công nhân sẽ không còn nữa. Lúc
đó, công nhân sẽ như mọi lao động được giải phóng, đều có điều kiện phát triển tự do
và toàn diện.
Có thể nói, những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hai tiêu chí cơ
bản của giai cấp công nhân cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là cơ sở phương
pháp luận để chúng ta nghiên cứu giai cấp công nhân hiện đại, đặc biệt là để làm sáng
tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay. Từ hai tiêu chí
trên ta có thể định nghĩa: “Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình
thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền công nghiệp
hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày
càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình
sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng
chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”.
II. Nội dung và điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân
1. Nội dung
Lịch sử phát triển của thế giới chính là lịch sử phát triển của các hình thái kinh
tế xã hội từ thấp đến cao. Trong xã hội có giai cấp, để giải quyết mâu thuẫn giữa lực
lượng sản xuất phát triển đến trình độ xã hội hoá cao với quan hệ sản xuất cũ, giữa
giai cấp thống trị với giai cấp lao động phải phát triển từ hình thái kinh tế xã hội thấp
đến cao.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân lao
động: là người sáng tạo chân chính ra lịch sử; là người có vai trò quyết định sáng tạo
kinh tế xã hội tư bản sang hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa, giải phóng
nhân loại khỏi ách áp bức, bất công và mọi hình thức bóc lột. Hay nói cách khác, nội
dung tổng quát sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là: xoá bỏ chế độ tư bản chủ
nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng
xã hội cộng sản văn minh.
Ph.Ăngghen viết:” Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy- đó là sứ mệnh
lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại ”. Còn Lênin đã chỉ rõ:” Điểm chủ yếu trong học
thuyết của C.Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản
là người xây dựng xã hội chủ nghĩa”.
Nội dung thực chất của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở đây chính
là:
Trong lĩnh vực kinh tế: giai cấp công nhân tiến hành xoá bỏ chế độ tư hữu tư
nhân tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu tư liệu sản xuất, nâng cao năng suất
lao động thoả mãn từng bước nhu cầu phát triển của nhân dân. Sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân trong lĩnh vực này chỉ rõ mục tiêu cuối cùng của giai cấp công
nhân, thoả mãn nhu cầu ngày càng đầy đủ hơn: làm theo năng lực, hưởng theo nhu
cầu. Do đó nó cần phải được thực hiện một cách lâu dài, gian khổ, trải qua từng bước
cụ thể. Xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất; xây dựng chế độ công hữu
là quá trình phù hợp nhưng phải dần dần từ từ.
Tại sao phải xoá bỏ chế độ tư hữu? Sở dĩ như vậy vì đây là cơ sở của chế độ
người bóc lột người; biểu hiện cao nhất của chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản
xuất là sở hữu tư bản chủ nghĩa do đó phải xoá bỏ chế độ tư hữu; sau khi xoá bỏ chế
độ tư hữu thì mới thiết lập chế độ công hữu tư liệu sản xuất, phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, phù hợp với yêu cầu sản xuất; đây cũng là cơ sở
kinh tế cho sự tồn tại chế độ xã hội mới vì thế cũng rất cần phải xoá bỏ chế độ tư hữu
này. Chính C.Mác đã nói: ”những người cộng sản có thể tóm tắt lực lượng của mình
xuất); kế thừa có chọn lọc tri thức văn hoá truyền thống dân tộc và tri thức văn hoá
thời đại.
Trong giai đoạn hai, khi đã giành được chính quyền – thời kỳ quá độ xây dựng
chủ nghĩa xã hội: Đảng cộng sản và giai cấp công nhân phải tiếp tục đấu tranh giai
cấp trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, với mục đích là giữ vững chính
quyền cách mạng (xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa):Về chính trị, quyền
lực nhà nước thể hiện ý chí của dân. Nhà nước vô sản có hệ thống chính trị gồm
Đảng cộng sản, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và các tổ chức chính trị, nhằm
bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trong công tác đối nội
và đối ngoại sẽ sử dụng bạo lực trấn áp thù trong giặc ngoài. Về kinh tế, mục đích là
đạt được năng suất lao động cao, nguyên tắc phân phối là làm theo năng lực, hưởng
theo lao động; sử dụng các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu: sở hữu toàn dân
(sở hữu nhà nước), sở hữu tập thể, sở hữu cá thể, sở hữu tư bản nhà nớc, sở hữu tư
nhân. Do đó cần nắm vững cơ chế Đảng cộng sản lãnh đạo, nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa quản lý, nhân dân lao động làm chủ dựa trên pháp luật của nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa (nguyên tắc tập trung dân chủ). Về văn hoá tư tưởng: kế thừa có
chọn lọc tri thức văn hoá truyền thống dân tộc, kết hợp với tri thức văn hoá của nhân
loại (khoa học kỹ thuật công nghệ của nền kinh tế tri thức), và định hướng xã hội là
định hướng tư tưởng cá nhân. Về quân sự, xây dựng chiến lược quốc phòng toàn dân
và an ninh quốc gia. Về ngoại giao, phát triển quan hệ song phương, đặt vấn đề dân
tộc và lợi ích là trên hết Vì vậy đường lối đặt ra phải phù hợp với quy luật khách
quan, hợp lòng dân, chống thù trong giặc ngoài và mọi âm mưu diễn biến hoà bình
của đế quốc.
2. Những điều kiện khách quan
Học thuyết C.Mác và Ph.Ăngghen về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
là luận chứng khoa học về địa vị kinh tế xã hội và vai trò lịch sử của giai cấp công
nhân, về mục tiêu và con đường để giai cấp đó hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
kinh tế tri thức.
Do không có tư liệu sản xuất, giai cấp công nhân phải bán sức lao động làm
thuê, bị nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư, bị lệ thuộc hoàn toàn vào quá trình
phân phối các kết quả lao động của chính họ. Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa,
giai cấp công nhân bị toàn bộ giai cấp tư sản bóc lột, là giai cấp trực tiếp đối kháng
với giai cấp tư sản, không có quyền trong tổ chức, điều hành lao động, phân phối sản
phẩm lao động. Do đó giai cấp công nhân không được làm chủ trong xã hội tư bản
chủ nghĩa. Họ bị bần cùng hoá so với giai cấp tư sản (bị bóc lột trong quá trình sản
xuất, ngoài quá trình sản xuất và bị bóc lột theo chiều sâu).
Giai cấp công nhân hiện nay ở các nớc tư bản có đời sống vật chất cao vẫn bị
bóc lột, bần cùng hoá theo đúng nghĩa của nó. Công nhân có cổ phần, tức là đã ra
nhập vào quá trình sản xuất, điều hành sản xuất đó là công nhân tư bản nhân dân nh-
ưng con số này vẫn còn rất khiêm tốn. Còn ở các nớc tư bản phá triển, công nhân bị
bóc lột cao hơn rất nhiều, từ 200% tới 300% và sự chênh lệch giàu nghèo cũng khá
cao. Trong tất cả các giai cấp đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp công
nhân là thực sự cách mạng vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp, đại diện cho
lực lượng sản xuất với trình độ xã hội hoá ngày càng cao, và nó lao động trong nền
đại công nghiệp với trình độ công nghệ ngày càng hiện đại và sản xuất ra tuyệt đại
của cải cho xã hội.
Từ địa vị giai cấp công nhân và giai cấp công nhân có lợi ích cơ bản thống nhất
với lợi ích của đông đảo nhân dân lao động đã tạo điều kiện cho giai cấp công nhân
đoàn kết với giai cấp khác, đi đầu trong công cuộc đấu tranh để thực hiện quá trình
giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Họ có khả năng đoàn kết giai cấp khác (tất cả
giai cấp vô sản) vì giai cấp công nhân: có cùng lợi ích cơ bản, thống nhất nhau do bị
bóc lột giá trị thặng dư; cùng tồn tại trong một môi trường sản xuất nh nhau có tính
chất công nghiệp thậm chí dịch vụ; có cùng tư bản trong nước và quốc tế bóc lột; có
cùng mục tiêu, sứ mệnh lịch sử tiêu diệt tư sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
tập trung và trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, cơ cấu tổ chức sản xuất chặt chẽ đã
tôi luyện cho giai cấp công nhân hiện đại tính tổ chức và kỷ luật cao, tác phong công
nghiệp; trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản thống trị, giai cấp công nhân
phải đoàn kết lại, tổ chức chặt chẽ và có tính cách mạng cao vì cách mạng đòi hỏi
đúng thời điểm, thời cơ thuận lợi mới có thể thành công.
Giai cấp công nhân là giai cấp có bản chất quốc tế: Gắn với nền công nghiệp
hiện đại, chẳng những giai cấp công nhân có trình độ xã hội hoá ngày càng cao ở mỗi
nước mà còn có mối quan hệ quốc tế ngày càng tăng. Giai cấp công nhân ở các nước
tư bản nói chung đều có địa vị kinh tế xã hội giống nhau. Vì vậy họ có mục tiêu đấu
tranh chung là xoá bỏ chế độ áp bức bóc lột tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ xã hội
chủ nghĩa, không còn tình trạng người áp bức bóc lột người. Mặt khác, giai cấp tư
sản cũng là một lực lượng quốc tế và để duy trì địa vị thống trị của mình, giai cấp tư
sản luôn thực hiện sự liên minh trên phạm vi quốc tế để chống lại cuộc đấu tranh của
giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức. Do đó muốn hoàn thành sự nghiệp giải
phóng, giai cấp công nhân phải đoàn kết lại, đấu tranh trên phạm vi toàn quốc tế. Bản
chất quốc tế đó thể hiện trước hết ở việc giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân, dân
tộc mình hoàn thành nhiệm vụ tự giải phóng. Lợi ích quốc tế của giai cấp công nhân
không tách rời mà gắn bó mật thiết với lợi ích chân chính của dân tộc mà giai cấp
công nhân làm đại diện.
Lịch sử thế giới đã chứng minh những kết luận của C.Mác, Ph.Ăngghen và
Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên,
cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình
không phải diễn ra một cách bằng phẳng, thuận buồm xuôi gió. Bên cạnh những điều
kiện khách quan quy định, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân còn có nhiều quan
điểm nhằm phê phán giai cấp công nhân cùng với sứ mệnh lịch sử của họ:
Thứ nhất, ngày nay, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội và một số người cơ hội xét lại
đang phủ nhận thuyết Mác – Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Theo
bản. Chủ nghĩa Mác- Lênin không quan niệm một giai cấp có khả năng lãnh đạo cách
mạng vì nó nghèo khổ nhất. Mưu toan đem sự nghèo khổ để luận giải sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân là sự xuyên tạc trắng trợn những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác-Lênin. Sự thực, ở những nước tư bản phát triển, đời sống của một bộ phận
không nhỏ trong giai cấp công nhân đã được cải thiện. Một bộ phận công nhân đã có
mức sống cao hơn. Song điều đó không có nghĩa là công nhân ở các nước đó không
bị bóc lột hoặc bị bóc lột không đáng kể. Một số công nhân có cổ phần, cổ phiếu
trong công ty nhưng điều đó không hề làm thay đổi một sự thật là toàn bộ tư liệu sản
xuất tư bản chủ nghĩa vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản. Do đó giai cấp công nhân về
cơ bản vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư, và bị bóc lột nhiều hơn trước.Vì vậy mà giai
cấp tư sản chỉ bớt một phần lợi nhuận (chính là việc cho công nhân mua cổ phần, cổ
phiếu) để cải thiện đời sống công nhân. Và thực tế thì đời sống của giai cấp công
nhân ở các nước tư bản phát triển vẫn còn nhiều tình trạng nghèo khổ, thất nghiệp,
thiếu nhà ở, mù chữ, đời sống bấp bênh.
Thứ năm, cũng có quan điểm cho rằng, luận điểm của Mác về sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân trước đây có thể đúng nhưng không có đúng trong thời đại
ngày nay. Theo họ thì thời đại ngày nay là thời đại của nền “văn minh trí tuệ”, của
“kinh tế tri thức”, do đó tri thức mới là lực lượng tiên phong, có vai trò lãnh đạo cách
mạng. Tất nhiên, trí thức có vai trò quan trọng trong mọi thời đại.Trong sự nghiệp
xây dựng xã hội mới, vai trò trí thức ngày càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Song,
trí thức không thể đóng vai trò lãnh đạo thay thế vai trò lãnh đạo thay thế giai cấp
công nhân. Bởi lẽ: Trong xã hội trí thức chỉ là một tầng lớp đặc biệt và không thuần
nhất. Trí thức chưa bao giờ và không bao giờ là một giai cấp. Nó không đại biểu cho
một phương thức sản xuất nào, không là một lực lượng kinh tế, chính trị độc lập tr-
ước các giai cấp và tầng lớp xã hội khác. Do đó, không có hệ tư tưởng riêng, không
thể là người lãnh đạo cách mạng. Mặt khác, tri thức không có lợi ích đối kháng trực
tiếp với giai cấp tư sản. Dới chế độ tư bản, trí thức cũng làm thuê nhưng được giai
cấp tư sản đào tạo và một bộ phận đợc ưu đãi.Trí thức không phải là tầng lớp có tinh
Đảng cộng sản là bộ phận không thể tách rời của giai cấp công nhân.Mục đích
và lợi ích của Đảng và của giai cấp công nhân là thống nhất. Không có Đảng cộng
sản – hạt nhân chính trị của phong trào công nhân, bản thân giai cấp công nhân
không thể trở thành lực lượng chính trị độc lập, cũng không thể trở thành giai cấp
lãnh đạo cách mạng.
Đảng cộng sản là người đại diện chân chính cho lợi ích của giai cấp công nhân
và lợi ích dân tộc. Trong phạm vi một nớc đồng thời cũng vì lợi ích chung của phong
trào cộng sản và quốc tế. Chính vì vậy, giai cấp công nhân dới sự lãnh đạo của Đảng
đã tạo ra được cơ sở thống nhất tư tưởng và hành động, phát huy tư cách là người
lãnh đạo trong đấu tranh chống áp bức bóc lột xây dựng xã hội mới.
Sức mạnh để chiến thắng giai cấp tư sản và mọi kẻ thù khác, không phải chỉ là
ở số lượng và ở tinh thần chiến đấu của giai cấp công nhân mà chủ yếu là ở trình độ
tổ chức và giác ngộ chính trị của nó. Điều đó được thể hiện tập trung ở chính Đảng-
một tổ chức bao gồm những ngời ưu tú nhất, giác ngộ chính trị xã hội cao, có tinh
thần đấu tranh kiên quyết nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy
Đảng cộng sản luôn là đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân và của toàn xã
hội.Đảng có nhiệm vụ sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, phân tích đúng đắn hoàn
cảnh lịch sử cụ thể trong mỗi giai đoạn cách mạng, đề ra mục tiêu, phương hớng, đư-
ờng lối, chính sách đúng, phù hợp với yêu phát triển khách quan của đất nước. Đồng
thời Đảng giáo dục, tổ chức, lãnh đạo giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân thực
hiện công cuộc xoá bỏ chế độ xã hội cũ, xây dựng thành công chế độ xã hội mới xã
hội chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa với việc hoàn thành sứ mệnh lịch
độ phong kiến, giai cấp công nhân phải độc lập đường lối, chỉ có thể liên minh tạm
thời với giai cấp phong kiến.
Còn với Lênin, ông đã phân tích điều kiện cụ thể nước Nga và đa ra quan
điểm phát triển tư tưởng C.Mác và Ph.Ăngghen. Những quan điểm đó là:
Thứ nhất:cách mạng dân chủ tư sản phải do giai cấp công nhân lãnh đạo do giai
cấp công nhân vì yếu tố thời đại chi phối như giai cấp tư sản đã mất vai trò lãnh đạo,
chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang chủ nghĩa đế quốc làm kìm hãm sự phát triển của
lịch sử ; mặt khác, giai cấp công nhân đã trưởng thành, là điểm hoàn toàn mới so với
C.Mác và Ph.Ăngghen.
Thứ hai: lực lượng cách mạng gồm các giai cấp ,tầng lớp khác trong xã giai cấp
tiên tiến nhất vì mục tiêu của họ gắn liền với việc thủ tiêu một cách triệt để chế độ
phong kiến. Giai cấp vừa và nhỏ có tinh thần dân chủ, là lực lượng lừng khừng cấu
kết phong kiến chống cách mạng, hạn chế tiêu cực, phát triển tích cực.
Thứ ba: cách mạng dân chủ tư sản phải được tiến hành cụ thể rồi tiến ngay vào
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai cuộc cách mạng có mối liên hệ biện chứng, không
có bức tường thành nào ngăn cách.
Có thể nói cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng sâu sắc và toàn diện
trên mọi lĩnh vực.
Trên lĩnh vực chính trị: cách mạng xã hội chủ nghĩa làm Đảng cộng sản lãnh
đạo quần chúng nhân dân lao động đập tan chính quyền cũ để thành lập chính quyền
của dân, do dân và vì dân, da nhân dân lên vị trí làm chủ. Sau khi có chính quyền,
chính quyền nhà nớc vô sản cần tập trung xây dựng đời sống chính trị, khẳng định và
mở rộng quyền lực nhân dân, khắc phục hạn chế về dân chủ, nâng cao ý thức dân chủ
cho nhân dân.
Trên lĩnh vực kinh tế: cách mạng xã hội chủ nghĩa xoá bỏ chế độ công hữu tư
nhân tư liệu sản xuất cao nhất là sở hữu tư bản chủ nghĩa, nhằm mục tiêu đa người
lao động làm chủ trong quá trình sản xuất; xoá bỏ hình thức sở hữu tư bản chủ nghĩa,
đấu tranh giai cấp lâu dài, gian khổ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
chống lại sự thống trị của giai cấp tư sản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ diễn ra ở
những nơi có tình thế cách mạng. Tình thế cách mạng là biểu hiện của sự chín muồi
của những điều kiện khách quan. Có tình thế cách mạng vẫn chưa đủ mà cần phải có
những nhân tố chủ quan, bao gồm sự lãnh đạo của Đảng tiên phong và tinh thần,
hành động cách mạng của quần chúng. Nh vậy, đỉnh điểm của sự chín muồi của
những nhân tố khách quan và chủ quan sẽ đưa đến thời cơ cách mạng. Giai cáp công
nhân thông qua Đảng tiên phong của mình chọn đúng thời cơ phát động quần chúng
đứng lên dùng bao lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản và các
thế lực phản động giành lấy chính quyền nhà nước, thiết lập chuyên chính vô sản, mở
đường cho công cuộc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng
sản chủ nghĩa.
Do đó cách mạng xã hội chủ nghĩa là cả một quá trình bao gồm việc lật đổ
chính quyền nhà nước của giai cấp tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản và dùng
chuyên chính vô sản để cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Đó là quy luật phổ biến của quá trình thực hiện sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân.
Như vậy, giai cấp công nhân sau khi tiến hành thành công cách mạng xã hội
chủ nghĩa tức là sẽ hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Chính vì vậy mà cách
mạng xã hội chủ nghĩa chính là nội dung hành động quan trọng nhất trong quá trình
thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Chỉ khi cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công
thì giai cấp công nhân mới hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình
V. Những biện pháp để củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân
Với một Đảng cộng sản chân chính thì sự lãnh đạo của Đảng cộng sản chính là
sự lãnh đạo của giai cấp. Đảng với giai cấp là thống nhất, nhưng Đảng có trình độ lý
luận và tổ chức cao nhất để lãnh đạo cả giai cấp và dân tộc. Đảng đem lại giác ngộ
nhân quốc tế, nhưng do điều kiện ra đời và hoàn cảnh lịch sử nước ta nên nó còn
mang những đặc điểm riêng. Đó là:
Thứ nhất: giai cấp công nhân Việt Nam còn non trẻ, ra đời từ những năm đầu
của thế kỷ XX ở một nước nửa thuộc địa phong kiến. Đó là giai cấp thuần nhất về tư
tưởng, sớm tập trung về lực lợng, không có tầng lớp công nhân quý tộc, sớm tổ chức
được chính Đảng của mình. Giai cấp công nhân Việt Nam đợc kế thừa truyền thống
đấu tranh bất khuất của dân tộc, hơn nữa nó lại bị ba tầng áp bức nặng nề nên có tinh
thần cách mạng.
Thứ hai: giai cấp công nhân Việt Nam có mối liên hệ khăng khít, thường xuyên,
chặt chẽ với giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức.
Thứ ba: giai cấp công nhân Việt Nam sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng tháng
Mười Nga của chủ nghĩa Mác- Lênin, không bị chi phối bởi chủ nghĩa cơ hội, sớm
gắn bó với phong trào công nhân Quốc tế.
Những đặc điểm trên đây của giai cấp công nhân Việt Nam đã có ảnh hưởng to
lớn tới việc thực hiện sứ mệnh lịch sử to lớn của nó. Bởi vì:
Do đặc điểm tập trung, sớm thống nhất cả về tư tưởng, tổ chức, sớm tổ chức đ-
ược chính Đảng của mình, sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lênin nên nó đã nhanh
chóng trở thành lực lượng chính trị tiên phong của dân tộc, đã xây dựng được cương
lĩnh chính trị và đường lối cách mạng đúng đắn ngay từ buổi đầu, vì vậy luôn giữ
vững vai trò độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Do có quan hệ mật thiết và gắn bó với giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức
nên giai cấp công nhân Việt Nam sớm tập hợp, đoàn kết và không ngừng phát huy
sức mạnh của cả dân tộc trên nền tảng liên minh Công- Nông- Trí thức.
Do gắn bó với phong trào công nhân quốc tế và sớm tiếp thu tư tưởng Mác-
lênin nên giai cấp công nhân Việt Nam đã sớm kết hợp và giải quyết đúng đắn vấn đề
dân tộc và giai cấp, kết hợp được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
Do không bị ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ hội Quốc tế III nên giai cấp công