Bài tiểu luận: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân pot - Pdf 18

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Đề Tài:
Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân
GVHD: Nguyễn Thị Thu Hà
SVTH: Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGÀY 26/9/2008
DANH SÁCH TỔ 2 – SỬ 3A
1. Lê Thanh Hải – Tổ trưởng
2. Lê Thị Hải
3. Lâm Thị Bích Huệ
4. Ngô Thị Huê
5. Nguyễn Thị Hiền
6. Hoàng Thị Hoa
7. Hoàng Thị Hương
8. Mai Thị Huyền
9. ĐỗThị Loan
10. Lê Thị Lan
11. Trịnh Thị Hồng
12. Trần Đức Luyện
2
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
MỤC LỤC
2
MỤC LỤC 3
I. - CÁC KHÁI NIỆM 4
II. – LẤY THÔNG TIN VÀ SO SÁNH GIỮA VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI 5

kinh doanh, dịch vụ, quản lý kinh tế - xã hội từ việc sử dụng lao động thủ công sang sử
dụng sức lao động cùng với công nghệ tiên tiến, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
(SGK địa lớp 9)
4
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
a. Công nghiêp hóa là: biến một nước có nền kinh tế không phải công nghiệp ( như
nước ta là nước có nền kinh tế nông nghiệp) trở thành một nước mà có GDP ( thu nhập
quốc dân) chủ yếu do công nghiệp mang lại.
b. Hiện đại hoá: là cải biến những gì lạc hậu, nâng cấp nó trở nên mới mẻ, hiệu quả.
=> Công nghiệp hóa là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ các
ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế. Đó là tỷ trọng về lao động, về
giá trị gia tăng, v.v
Đây là quá trình chuyển biến kinh tế-xã hội ở một cộng đồng người từ nền kinh tế với
mức độ tập trung tư bản nhỏ bé (xã hội tiền công nghiệp) sang nền kinh tế công
nghiệp. Công nghiệp hóa là một phần của quá trình "hiện đại hóa". Sự chuyển biến
kinh tế-xã hội này đi đôi với tiến bộ công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của sản xuất
năng lượng và luyện kim quy mô lớn. Công nghiệp hóa còn gắn liền với thay đổi các
hình thái triết học hoặc sự thay đổi thái độ trong nhận thức tự nhiên.
I.5. Khái niệm về nền kinh tế tri thức:
Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ
vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng
cuộc sống. Trong nền kinh tế tri thức vẫn còn nông nghiệp và công nghiệp nhưng hai
ngành này chiếm tỷ lệ thấp. Cũng như trong nền kinh tế công nghiệp vẫn còn nông
nghiệp nhưng nông nghiệp nhỏ bé. Trong nền kinh tế tri thức, chiếm đa số là các
ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học và công
nghệ.
I.6. Khái niệm về thuộc tính:
Thuộc tính là đặc tính vốn có của một sự vật, nhờ đó sụ vật tồn tại và qua đó con
người nhận thức được sự vật,phân biệt được sự vật này với sự vật khác.
II. – LẤY THÔNG TIN VÀ SO SÁNH GIỮA VIỆT

Đảng lần 8 đã đề ra nhiệm vụ : “Từ nay đến 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp”.
6
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
II.2. Số lượng công nhân qua các thời kỳ:
II.2.a. Thế giới:
Theo thống kê của tổ chức lao động quốc tế(ILO) thì công nhân thế giới tăng nhanh từ
290 triệu năm 1950 lên 615 triệu năm 1970, 800 triệu năm 1998, 1 tỷ năm 2005 và dự
kiến đến năm 2010 là 1,2 tỷ công nhân.
II.2.b. Việt Nam:
Theo thống kê của tạp chí khoa học xã hội thì công nhân Việt Nam phát triển nhanh:
Từ 2,667 tr (1986) lên 2,857tr (1990) lên 3,682tr (1996) lên 4,761tr (2000) lên 10,8tr
(2003) và năm 2005 là 11,5 triệu công nhân.
II.3. Tổng số công nhân có cổ phần cổ phiếu và vốn đầu tư:
Là trên 50%, công nhân trí thức đã tham gia quản lý các doanh nghiệp(cổ phần, cổ
phiếu).
II.4. Trình độ của công nhân:
II.4.a. Thế giới:
Tốc độ công nhân hóa lực lượng lao động xã hội, trí thức hóa công nhân rất nhanh ở
các nước phát triển và các nước công nghiệp mới. Tất cả thể hiện ở chỉ số phát triển
của nền kinh tế tri thức.
- Ở các nước phát triển, 60 – 70% lực lượnglao động xã hội là công nhân trí thức.
- Ở Bắc Mỹ và một số nước Tây Âu, kinh tế tri thức chiếm 45 – 70% GDP (ở Mỹ từ
1990 đến 2005 có tới 15 triệu công nhân lao động thuộc lĩnh vực thông tin).
- Theo đánh giá của INO, chất lượng lao động của các nước: Trung Quốc 52,5%,
Singapo 70,26%, Hàn Quốc 76,73%.
• Công nhân trí thức mang một số đặc điểm sau:
- Công nhân được đào tạo ở trình độ khoa học công nghệ cao.
- Có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi nghề nghiệp.
- Phải có khả năng sáng tạo tri thức mới.

8
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
 Theo số liệu thống kê của nhà xuất bản thống kê Việt Nam về đánh giá tiềm năng
khoa học và công nghệ năm 2000 thì:
Cán bộ khoa học và công nghệ ở cương vị lãnh đạo phát huy tốt khả năng của mình
chỉ chiếm 35,2%, yếu 26,73%. Cán bộ khoa học công nghệ cao phát huy tốt chỉ
chiếm 34,9%, yếu 27,8%. Cán bộ chuyên môn nghiên cứu phát huy tốt có 36,02%,
yếu 26,69%.
 Như vậy so với thế giới, công nhân Việt Nam thu nhập còn thấp, trình độ kém
so với mức trung bình của nền kinh tế tri thức thế giới.
II.5. Đời sống công nhân Việt Nam
(Điển hình ở Thành phố Hồ Chí Minh) – (Theo cuộc khảo sát 2007 của tiến sĩ
Phạm Đình Nghiệp ĐHKHXH-NV).
- Đời sống văn hóa nghèo nàn, đơn điệu. Chỉ có 2,2% thường xuyên đi xem phim,
văn nghệ. 1,2% đi du lịch, thăm quan bảo tàng. 6,2% vào mạng Internet. Còn lại
hầu hết công nhân ở nhà nghỉ ngơi trong những ngày nghỉ.
III. – TRẢ LỜI CÂU HỎI:
III.1. Câu 1: Phân tích một số biến đổi của GCCN trong sự nghiệp CNH , HĐH đất
nước. Sự biến đổi đó có làm thay đổi sứ mệnh của giai cấp công nhân không?
Trả lời
a. Giai cấp công nhân là gì?
 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin :
Để hiểu rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trước hết cần làm rõ khái niệm giai
cấp công nhân. Chính C.Mác và Ph.ăngghen đã chỉ rõ: "Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản
thực ra là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải
làm gì về mặt lịch sử"
C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau: giai cấp vô sản, giai cấp xã
hội hoàn toàn chỉ dựa vào việc bán sức lao động của mình, lao động làm thuê ở thế kỷ
9
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH

Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với phát triển kinh tế tri thức vì một nước Việt
Nam dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam
• Là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lớp
công nhân đầu tiên xuất hiện gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất
(1897) và thực sự trở thành giai cấp công nhân Việt nam từ thời kỳ khai thác thuộc
địa của thực dân Pháp lần thứ hai (1924-1929). Cùng với quá trình phảt triển của
cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành bộ phận của đội ngũ giai
cấp công nhân quốc tế. Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc
tế, giai cấp công nhân Việt Nam còn có đặc điểm riêng:
Thứ nhất: Sinh ra và lớn lên từ một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, có
truyền thống yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, dù còn non trẻ, nhỏ bé, song giai cấp
công nhân đã sớm trở thành giai cấp duy nhất được lịch sử, dân tộc thừa nhận và giao
phó sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ sau các phong trào cứu nước theo lập
trường Cần Vương, lập trường tư sản và tiểu tư sản thất bại.
Thứ hai: Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, vừa mới lớn lên, đã tiếp thu chủ
nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân quốc tế, nhanh chóng trở thành
lực lượng chính trị tự giác và thống nhất, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, đã
sớm giác ngộ mục tiêu lý tưởng, chân lý của thời đại: độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội, giai cấp công nhân Viêt Nam luôn có tinh thần và bản chất cách mạng
triệt để.
Thứ ba: Giai cấp công nhân nước ta xuất thân từ nông dân lao động, bị thực dân
phong kiến bóc lột, bần cùng hóa nên có mối quan hệ máu thịt với giai cấp nông dân
và các tầng lớp lao động khác. Qua thử thách của cách mạng, liên minh giai cấp đã trở
thành động lực và là cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc.
Thứ tư: Từ khi trở thành giai cấp cầm quyền, giai cấp công nhân Việt Nam luôn
phát huy bản chất cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn là lực lượng đi
đầu và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
xây dựng và phát triển nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức hiện đại.

Công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của chúng ta
đang tiến những bước rất cơ bản, hết sức quan trọng, cả về quy mô, tính chất, chiều
sâu, và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề vững chắc
chuyển sang một giai đoạn phát triển mới. Trong bước quyết định và mạnh mẽ đó, giai
cấp công nhân góp phần rất cơ bản, là một trong những nhân tố quyết định sự thành
bại.
12
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
Hơn 20 năm đổi mới, nhất là một thập kỷ qua, trong sự lớn mạnh của đất nước, giai
cấp công nhân trưởng thành mạnh mẽ về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Đội ngũ công
nhân, viên chức, lao động nước ta có những chuyển biến quan trọng, tăng nhanh về số
lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đã có những đóng góp trực tiếp,
to lớn trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Những chuyển biến tích cực:
Về số lượng : Tính đến hết năm 2007, tổng số công nhân, viên chức, lao động cả nước
có hơn 14 triệu người, tăng hơn 7 triệu so với năm 2003. Trong đó, công nhân lao
động làm công, hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công
nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp có khoảng 9,5
triệu người, chiếm tỉ lệ 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội. Số lượng công
nhân, lao động trực tiếp sản xuất trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
là hơn 6,7 triệu người, trong đó, công nhân, lao động ở doanh nghiệp nhà nước giảm
15%; công nhân, lao động doanh nghiệp của tư nhân và tập thể tăng 63%; công nhân,
lao động ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 68%. Công nhân, lao động ở
doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 2,2%, doanh nghiệp tư nhân và tập thể 61,5%
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 16,5%, nữ chiếm 43,6%.
Về chất lượng:Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đã hình thành
một số ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân như điện lực, dầu khí, điện
tử, tin học, viễn thông đã tạo điều kiện cho đội ngũ công nhân có điều kiện lựa chọn
công việc phù hợp với mình. Hơn nữa, số lượng công nhân, lao động có trình độ cao
đẳng, đại học ngày một tăng. Đội ngũ công nhân, lao động cũng phát triển mạnh ở một

những hạn chế cần phải khắc phục. chất lượng đội ngũ công nhân, viên chức, lao động
chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công
nhân có tay nghề cao thiếu nghiêm trọng. Số đông công nhân, lao động trẻ xuất thân từ
nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống, chưa có tác phong công nghiệp và
ý thức kỷ luật lao động, sự hiểu biết và thực thi pháp luật còn hạn chế. Một bộ phận
công nhân viên chức, lao động còn chậm thích nghi với cơ chế thị trường, sự giác ngộ
14
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
giai cấp và hiểu biết chính trị không đồng đều, chưa thiết tha phấn đấu vào Đảng và
tham gia hoạt động trong các tổ chức chính trị- xã hội, kể cả tổ chức công đoàn.
Nhờ có sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đời sống của nhân dân, trong đó có
công nhân, viên chức, lao động đã từng bước cải thiện và nâng cao, nhưng vẫn chưa
tương xứng với thành tựu đã đạt được của công cuộc đổi mới và những đóng góp to
lớn của công nhân, viên chức, lao động. Số lao động thiếu việc làm và có việc làm
nhưng không ổn định ở một số ngành, nghề còn chiếm tỷ lệ cao, tập trung ở các doanh
nghiệp làm ăn không hiệu quả, phải sắp xếp lại hay bị giải thể, phá sản.
Tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị hưởng lương từ
ngân sách tuy có được tăng do Nhà nước thực hiện cải cách chính sách tiền lương và
điều chỉnh mức lương tối thiểu theo lộ trình, nhưng do giá cả hàng hoá tiêu dùng thiết
yếu liên tục tăng, mức lương cơ bản thấp, nên giá trị thực tế của tiền lương bị giảm,
chưa đủ chi cho nhu cầu thiết yếu đảm bảo cuộc sống. Tiền lương và thu nhập của
công nhân, lao động ở một bộ phận doanh nghiệp nhà nước còn thấp; ở doanh nghiệp
ngoài nhà nước, nhất là ở trong doanh nghiệp tư nhân vừa thấp, vừa không ổn định.
Nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước chia nhỏ số bậc lương và
xây dựng đơn giá tiền lương thấp để làm căn cứ ký hợp đồng lao động, làm giảm tiền
đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, gây thiệt hại cho người lao động và Nhà nước.
Đặc biệt, hiện nay đang diễn ra sự phân hoá ngày càng tăng về thu nhập của công
nhân, viên chức, lao động có cùng trình độ kỹ năng nghề nghiệp; giữa các ngành nghề,
vùng, miền, các thành phần kinh tế và giữa cán bộ quản lý với người lao động trực tiếp

của mình ko? Có làm thay đổi sứ mệnh của giai cấp công nhân không?
Trong giai đoạn hiện nay, trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông
Âu, người ta lại thấy không ít những luận thuyết, quan điểm khác nhau hoà trong một
dàn “hợp xướng” tiến công chủ nghĩa Mác - Lê nin, hy vọng có thể hạ bệ và thay thế
chủ nghĩa Mác - Lênin. Những luận thuyết phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân lại được nở rộ ở nhiều nơi. Người ta cố tình lập luận rằng, C. Mác đã gắn cho
giai cấp công nhân cái sứ mệnh mà nó không có chỉ bởi vì ông thương đó là giai cấp
nghèo khổ; rằng, chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, đã trở thành “chủ nghĩa tư bản
nhân dân”, nhà nước tư bản đã là “nhà nước phúc lợi chung”, nó không còn dựa trên
16
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
sự bóc lột lao động làm thuê nữa; rằng, công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc
lột nữa, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản,sứ mệnh lịch sử của họ sẽ thay đổi hay
không còn sứ mệnh lịch sử nữa!
Để làm rõ vấn đề này cần phải dựa trên cơ sở luận chứng địa vị kinh tế - xã hội của
giai cấp công nhân hiện nay gắn với việc làm sáng tỏ bản chất của chủ nghĩa tư bản
hiện đại.
Ngày nay, do tính quy định của sản xuất hiện đại, GCCN có một số biểu hiện mới:
trình độ văn hóa - tay nghề cao hơn; một số công nhân đã có cả tư liệu sản xuất, cổ
phiếu, đời sống một bộ phận được cải thiện v.v Song, những biểu hiện đó không làm
thay đổi địa vị cơ bản của công nhân trong CNTB. Họ vẫn đang là lực lượng chủ yếu
làm ra của cải cho xã hội và lợi nhuận cho các nhà tư bản; là lực lượng đối lập trực
tiếp với GCTS, bị bóc lột nhiều nhất và khoảng cách về mức thu nhập giữa họ với giới
chủ ngày càng lớn. Công nhân trong các nước tư bản phát triển được trí tuệ hóa, lao
động bớt nặng nhọc hơn, có chút ít cổ phần trong doanh nghiệp thì họ càng bị ràng
buộc chặt chẽ hơn vào guồng máy sản xuất của tư bản, càng bị bóc lột nặng nề và tinh
vi hơn. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư trung bình
ở thế kỷ XIX là 20, thì hiện nay là 300, cá biệt có nơi, như tập đoàn Microsoft tỷ suất
này lên tới 5000. Từ một chiều cạnh khác, hiện nay sự tăng lên lượng tri thức khoa học
và văn hóa của công nhân lại cũng là một tiền đề quan trọng để giúp họ nhận thức và

người.
Thứ ba, giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ
tiêu hoàn toàn các giai cấp.
Sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân không phải vì duy trì giai cấp công nhân,
mà vì giải phóng triệt để con người. Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” C. Mác-
Ph Angghen đã khẳng định: “Toàn bộ lý luận của chủ nghĩa cộng sản là thủ tiêu chế
độ tư hữu”. Một khi chế độ tư hữu không còn thì nguyên nhân phân chia xã hội thành
giai cấp, nhà nước cũng bị xoá bỏ. Và, do đó, với tư cách là một giai cấp, giai cấp công
nhân cũng sẽ không còn lý do tồn tại. Tất nhiên con đường đi tới xã hội hông giai cấp
còn quanh co và nhiều phức tạp. Nhận thức đúng về tính tất yếu để xây dựng lý
tưởng, mục tiêu, song không được ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí. Trong tác phẩm “Gia
đình thần thánh” (1844), Mác và Ăngghen đã chỉ rõ về phương pháp luận tiếp cận khái
niệm "giai cấp vô sản và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân" là: "ở chỗ giai cấp
18
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
vô sản thực ra là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc
phải làm gì về mặt lịch sử?”
 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một quá trình cách dài và sáng tạo qua
2 giai đoạn:
+Giai đoạn thứ nhất:GCCN và chính đảng của nó tiến hành cuộc đấu tranh
giành chính quyền, trở thành giai cấp thống trị .
+Giai đoạn thứ hai: GCCN liên minh chặt chẽ với quãng đại quần chúng nhân
dân, dưới sự lãn đạo của Đảng Cộng sản tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản.
Đối với giai cấp công nhân Việt Nam,đã trải qua giai đoạn đầy gian khó trải qua
giai đoạn thứ nhất. Hiện nay chung ta đang thực hiện sứ mênh lịch sử của mình ở giai
đoạn 2.Có thể khái quát nội dung sứ mệnh lịch sử như sau: Giai cấp công nhân thông
qua Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, thực hiện thắng
lợi mục tiêu lý tưởng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và góp phần vào sự nghiệp
cách mạng thế giới. Trước mắt, trong những năm tới, thực hiện thắng lợi mục tiêu:”

Công nghiệp hóa,hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản các hoạt động
sản xuất,kinh doanh,dịch vụ,quản lý kinh tế-xã hội từ việc sử dụng lao động thủ công
sang sử dụng sức lao động cùng với công nghệ tiên tiến,tạo ra năng suất lao động xã
hội cao.
 Tác động của công nghiệp hoá- hiện đại hoá:
 Tích cực:
- Tác động mọi mặt đến đời sống của công nhân trong thời đại mới
- Làm biến đổi và chất và lượng trong đội ngũ giai cấp công nhân theo hướng tích cực
- Đảm bảo cho giai cấp công nhân về mặt vật chất tạo điều kiện nâng cao về mặt
chính trị- tư tưởng
- Có sự chuyển hướng trong cơ cấu lao động từ lao động chân tay sang lao động trí óc
- Tạo động lực giúp giai cấp công nhân không ngừng đổi mới tư duy và hành động
cho phù hợp
- Làm cho giai cấp công nhân càng đóng vai trò quan trọng trong sứ mệnh lịch sử với
toàn xã hội trước những âm mưu mới của kẻ thù.
20
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
 Công nhân trong thời đại mới cũng tác động trở lại công cuộc công nghiệp hoá-
hiên đại hoá:
- Là lực lượng chính, trực tiếp tham gia và quyết định sự thành công của sự nghiệp
công nghiệp hoá- hiện đại hoá,
- Thúc đẩy công nghiệp hoá- hiện đại hoá ngày càng phát triển hoàn thành sự nghiệp
hiện đại hoá đất nước.
 Tiêu cực:
- Công nghiệp hoá với tốc độ nhanh gây khó khăn trong việc thích ứng với điều kiện
mới.
- Công nghiệp hoá làm cho có sự phân hoá trong đội ngũ công nhân giữa các vùng
miền
- Những mặt trái của cơ chế thị trường làm nảy sinh mâu thuẫn giữa quyền lợi và
nghĩa vụ trong giai cấp công nhân.

Trả lời
 Khái niệm: ĐCS là tổ chức chính trị cao nhất,đại biểu tập trung trí tuệ và lợi ích của
toàn thể giai cấp công nhân,toàn thể nhân dân và dân tộc.
 Sự khác nhau:
 Sự thành lập:
- Ngay từ khi mới hình thành giai cấp công nhân Châu Âu trong xã hội tư bản đã
không ngừng trưởng thành từng bước về số lợng và chất lượng.Bản thân giai cấp công
nhân luôn có sự nâng cao về học vấn về tay nghề và khoa học công nghệ, từ hoạt động
đấu tranh kinh tế trứoc mắt,đã từng bước hoạt động chính trị ,đấu tranh chính trị, thông
qua các tổ chức nghiệp đoàn, công đoàn,từng bước có ý thức giai cấp,giác ngộ giai
cấp.
- Công nhân Châu Âu sớm được tiếp thu CNXHKH.
ĐCS Châu Âu ra đời từ rất sớm ở các nước tư bản có nền công nghiệp phát triển.
- ĐCS tiêu biểu ở Liên Xô,Pháp,Anh,Đức….
- ĐCS Châu Âu là Đảng được kết hợp bởi phong trào công nhân với CNXHKH.
22
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
- ĐCS VN là dảng trẻ tuổi.ra đời năm 1930.Trong hoàn cảnh CM VN đang gặp nhiều
khó khăn về đường lối.VN đang bị Thực dân Pháp xâm lược,giai cấp công nhân Việt
Nam còn non trẻ cả về số lượng lẫn chất lượng.
- Đảng ta là sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lenin với phong trào công nhân và phong
trào yêu nước.
 Mục đích:
- Đối với Đảng Cộng Sản Châu Âu mục đích là lãnh đạo giai cấp công nhân giải phóng
giai cấp,giải phóng xã hội và giải phóng nhân loại.
- Đảng Cộng Sản Việt Nam là lãnh đạo toàn dân ta hoàn thắng thắng lợi cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc,xây dựng CNXH ,và bảo vệ tổ quốc XHCN.
 Sự thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac-
Lenin vào phong trào cách mạng Việt Nam.
Câu 4: Vì sao phải đổi mới và chỉnh đốn Đảng ta trong tình hình hiện nay?

Tại đại hội X, một lần nữa Đảng khẳng định quan điểm kiên định sự lãnh đạo
của Đảng và coi đây là vấn đề có tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng,
và với sự phát triển của đất nước theo định hướng XHCN. Với quan điểm này Đảng đã
khẳng định: để có đủ khả năng và điều kiện, lãnh đạo đúng đắn và hiệu quả, Đảng phải
thường xuyên và tự đổi mới, tự chỉnh đốn nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
về mọi mặt, làm cho Đảng thực sự trở thành'' đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam; đại biểu
trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc''.
Như vậy, qua mọi thời kì, Đảng ta luôn ý thức được rất rõ về vấn đề đổi mới,
xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang tiến
hành hội nhập quốc tế, và trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) thì vấn đề đó càng trở nên cấp bách hơn lúc nào hết.
b.V ì sao ch ú ng ta cần phải đổi mới, xây dựng và chỉnh đốn Đảng? (thực trạng của
Đảng ta trong giai đoạn hiện nay )
Thứ nhất: việc tuyển dụng cán bộ, công chức không đảm bảo yếu tố khách quan
mà theo kiểu ''con ông cháu cha'','' nhất thân, nhì quen'' làm mất lòng tin của nhân
24
Nhóm SV Tổ 2 – Sử 3A Bài Tiểu Luận Môn CNXHKH
dân,đặc biệt là lớp trẻ. Đây cũng là nguồn gốc dẫn dến hiện tượng bè phái và hình
thành các câu lạc bộ hoặc gia đình trong các cơ quan Nhà nước.
Ví dụ: Ông phó giám đốc Sở Thương mại Quảng ninh đưa một ông em vào làm
phó cho mình ở quản lý thị trường; ông Mai Văn Dâu đưa con vào Bộ thương mại;
ông Nguyễn Việt Tiến đưa người cháu chưa học hết đại học, có tiền sự vào làm Chánh
văn phòng rồi Phó Tổng giám đốc PMU18
Thứ hai : Công tác quản lý và đề bạt cán bộ cũng chưa hợp lý. Chúng ta khi đề bạt
cán bộ hay bị chia phối bởi các yếu tố như: còn ít tuổi, chưa có kinh nghiệm chính vì
những suy nghĩ bảo thủ này mà có rất nhiều những Đảng viên đủ đức đủ tài không
được vào những vị trí thích hợp trong bộ máy của Đảng theo đúng với năng lực của
họ.
Thứ ba : Hiện tượng mua chức, mua quyền vẫn còn tồn tại. Đi cùng với hiện tượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status