§Ò tµi:
CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHO
VAY TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH HÀ TÂY
Danh mục các từ viết tắt
CBTD Cán bộ tín dụng
CIC Trung tâm thông tin tín dụng
NHCT Ngân hàng công thương
NHCT HT Ngân hàng công thương Hà Tây
NHCT VN Ngân hàng công thương Việt Nam
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TCTD Tổ chức tín dụng
\
Danh mục bảng biểu, sơ đồ
Trang
Sơ đồ 2.1 –Sơ đồ cơ cấu tổ chức NHCT HT..............................................29
Đồ thị 2.1 - Tổng vốn huy động của ngân hàng qua các năm..................33
Đồ th ị 2.2 – Doanh số cho vay của Ngân hàng qua các năm .................35
Bảng 2.1 – Tình hình huy động vốn tại NHCT HT từ 2005 đến 2007....32
Bảng 2.2 - Doanh số cho vay qua các năm...............................................34
Bảng 2.3 - Dư nợ cho vay của ngân hàng qua các năm...........................37
Bảng 2.4 – Hoạt động thanh toán quốc tế..................................................38
Bảng 2.5 – Cho vay theo hình thức đảm bảo............................................50
Bảng 2.6 – Doanh số thu nợ của ngân hàng qua các năm.......................52
Bảng 2.7 - Nợ quá hạn của Ngân hàng qua các năm................................53
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hệ thống ngân hàng được ví như hệ thần
kinh của cả nền kinh tế, hệ thống ngân hàng quốc gia hoạt động thông suốt
lành mạnh và hiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chính luân chuyển, phân
bổ và sử dụng hiệu quả, kích thích tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.
Tổng quan về hoạt động cho vay
và kiểm soát hoạt động cho vay
của Ngân hàng thương mại
1.1. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động cho vay
Với vai trò là một trung gian tài chính, các NHTM hiện nay ngày càng
thực hiện thêm rất nhiều dịch vụ ngân hàng như mua bán ngoại tệ, thanh toán,
bảo lãnh, cho thuê tài chính, uỷ thác, tư vấn, môi giới đầu tư chứng khoán,
bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ đại lý… nhưng nó không hề quên đi nhiệm vụ
chính là dẫn vốn từ những nơi thừa vốn tạm thời đến những nơi thiếu vốn
giúp cho nền kinh tế vận động linh hoạt hơn. Đó là chức năng huy động vốn
và cho vay.
“Cho vay là một hình thức cấp tín dụng theo đó TCTD giao cho khách
hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thoả
thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
1
Đối với ngân hàng - Là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá
đăc biệt - tiền tệ, hoạt động cho vay được coi là hoạt động cơ bản nhất, mang
lại thu nhập lớn nhất cho các ngân hàng, ”khoản mục cho vay chiếm quá nửa
giá trị tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng”
2
. Do đó các
ngân hàng sử dụng mọi nỗ lực của mình để nâng cao chất lượng và số lượng
cho vay nhưng trên cơ sở tối đa lợi nhuận và đảm bảo an toàn.
1
TS Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, NXB Thống kê, tr 225.
2
Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính, 2004.
\
Còn đối với nền kinh tế, hoạt động cho vay của ngân hàng nói riêng, của
cầu vay không thường xuyên.
• Cho vay theo hạn mức: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng thoả thuận
cấp cho khách hàng một hạn mức nhất định có thể cho cả kỳ hoặc cuối kỳ.
khách hàng không được vượt hạn mức đó.
• Cho vay luân chuyển: Là hình thức cho vay dựa trên luân chuyển hàng
hoá. Ngân hàng cho khách hàng vay để mua hàng hoá và sẽ thu nợ khi họ
bán được hàng.
• Cho vay trả góp: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn đã thoả thuận.
• Cho vay gián tiếp: Thông qua các tổ, đội, nhóm…
1.1.2.5. Theo hình thức đảm bảo
• Cho vay có tài sản đảm bảo: là việc cho vay mà theo đó nghĩa vụ trả nợ
của khách hàng được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế
chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo lãnh
bằng tài sản của bên thứ ba.
• Cho vay không có tài sản đảm bảo: là việc cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
1.1.3. Quy trình cho vay của Ngân hàng thương mại
3
Bước1: Hướng dẫn, tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ vay vốn và sao gửi hồ sơ
cho phòng quản lý rủi ro.
3
Tham khảo tại “Quyết định về việc cho vay theo dự án đầu tư đối với khách hàng là tổ chức kinh tế.
MS:QT.05.01.”
\
Người thực hiện là CBTD. Nội dung thực hiện:
− Hướng dẫn khách hàng lập và hoàn thiện hồ sơ:
+ Đối với khách hàng vay vốn lần đầu: CBTD hướng dẫn khách hàng
thiết lập hồ sơ vay vốn và cung cấp những thông tin cần thiết theo
quy định của NHCT.
đốc xem xét.
Nếu dự án đầu tư có quy mô lớn, phức tạp, CBTD báo cáo lãnh đạo phòng
để trình giám đốc xem xét, quyết định mua thông tin, thuê cơ quan tư vấn có
chức năng thẩm định để thẩm định độc lập.
− Nhận được tờ trình, lãnh đạo phòng khách hàng kiểm tra, rà soát hồ sơ
trình và nội dung tờ trình (yêu cầu CBTD bổ sung chỉnh sửa và làm rõ các
nội dung còn thiếu hoặc các thông tin chưa đầy đủ nếu cần), ký tắt trên
từng trang tờ trình thẩm định/ tái thẩm định, ghi rõ ý kiến đề xuất cho vay/
không cho vay, ký trình người có thẩm quyền quyết định cho vay.
Bước 3: Thẩm định rủi ro tín dụng độc lâp và trình duyệt báo cáo kết quả
thẩm định rủi ro tín dụng (áp dụng cho các trường hợp phải thẩm định rủi ro
theo quy định của Tổng giám đốc hoặc khi người có thẩm quyền quyết định
cho vay yêu cầu)
Bước 4: Xét duyệt khoản vay
− Trong trường hợp khoản vay thuộc thẩm quyền của người có thẩm quyền
quyết định cho vay tại Chi nhánh: người có thẩm quyền kiểm tra toàn bộ
hồ sơ khoản vay và tờ trình có chữ ký của CBTD và lãnh đạo phòng khách
hàng, báo cáo kết quả thẩm định rủi ro tín dụng (nếu có) đã có chữ ký của
\
cán bộ phòng quản lý rủi ro (nếu cần thì yêu cầu bổ sung hồ sơ và các điều
kiện cần thiết), sau đó ghi ý kiến đồng ý hay không đồng ý cho vay.
− Còn trong trường hợp khoản vay vượt thẩm quyền của người có thẩm
quyền quyết định cho vay tại chi nhánh thì người có thẩm quyền quyết
định cho vay tại chi nhánh chuyển hồ sơ lên phòng khách hàng Trụ sở
chính.
Bước 5: Thông báo cho khách hàng
− Trường hợp khoản vay thuộc thẩm quyền phê duyệt của Giám đốc/ phó
giám đốc chi nhánh: CBTD soạn thảo công văn thông báo ý kiến của
người có thẩm quyền quyết định cho vay, trình lãnh đạo phòng kiểm soát,
trình người có thẩm quyền quyết định cho vay ký phê duyệt, gửi thông báo
khách hàng và phòng quản lý rủi ro.
Bước 8: Kiểm tra, giám sát vốn vay
Sau khi giải ngân, CBTD dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của lãnh đạo
phòng tiến hành kiểm tra định kỳ hay bất thường về tình hình sử dụng vốn
vay của khách hàng để xem các khoản vay do ngân hàng cung cấp cho khách
hàng có được sử dụng đúng mục đích như cam kết trong hợp đồng tín dụng
hay không, mặt khác có thể xem xét tình hình hoạt động kinh doanh của
khách hàng đồng thời có thể dự báo được những rủi ro, phát hiện kịp thời các
khoản nợ co vấn đề để nhanh chóng có biện pháp xử lý. Tránh tình trạng
khoản vay chuyển sang nợ xấu mới phát hiện ra và từ đó mới có biện pháp xử
lý nợ có vấn đề.
\
Bước 9: Thu nợ gốc, lãi, phí và xử lý các phát sinh
CBTD theo dõi việc thu nợ theo từng Hợp đồng tín dụng đã ký và thông
báo cho khách hàng khoản vay đến hạn trả nợ gốc, lãi và phí.
Đến hạn trả nợ, căn cứ thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, bộ phận kế
toán thực hiện thu nợ theo quy trình và phương pháp hạch toán cho vay.
Về việc xử lý các phát sinh:
− Đối với những vấn đề phát sinh làm ảnh hưởng đến kết quả thẩm định ban
đầu các dự án ( như điều chỉnh tăng số tiền vay, thay đổi cơ cấu nguồn
vốn, danh mục đầu tư của dự án…), CBTD lập tờ trình, xem xét khả năng
ảnh hưởng của vấn để phát sinh tới kết quả thẩm định ban đầu, từ đó đề
xuất hướng xử lý, trình lãnh đạo phòng kiểm soát và ký trình người có
thẩm quyền quyết định cho vay.
− Đối với những vấn đề phát sinh không làm ảnh hưởng đến kết quả thẩm
định ban đầu (như trả nợ trước hạn…), CBTD soạn thảo phụ lục hợp đồng,
văn bản sửa đổi bổ sung và trình lãnh đạo phòng và người có thẩm quyền
quyết định cho vay
− Đối với các vấn đề phát sinh liên quan đến quản lý và xử lý nợ có vấn đề ,
xử lý tài sản đảm bảo tiền vay thì CBTD thực hiện theo quy trình và các
người thực hiện.
\
Hoạt động của ngân hàng luôn diễn ra trong môi trường biến động, đặc
biệt hoạt động cho vay, ngoài ra còn phụ thuộc nhiều vào nhân tố con người
(cả CBTD và khách hàng vay vốn) do đó việc kiểm soát lại rất cần thiết.
Kiểm soát hoạt động cho vay có thể được định nghĩa như sau: Kiểm soát
hoạt động cho vay là quá trình kiểm tra, giám sát, đo lường, chấn chỉnh hoạt
động cho vay và khách hàng vay vốn nhằm giảm thiểu rủi ro, tối đa hoá lợi
nhuận dự kiến của hoạt động cho vay.
1.2.2. Sự cần thiết và Mục đích của kiểm soát hoạt động cho vay
NHTM là những định chế trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
nhận tiền gửi tiết kiệm và hoàn trả, đầu tư cho vay; cung cấp các dịch vụ ngân
hàng; kinh doanh chứng khoán... Hoạt động NHTM với những đặc trưng cơ
bản như thế nên chịu tác động của nhiều yếu tố như: Môi trường kinh tế,
chính trị, xã hội, các cơ chế chính sách quản lý điều hành vĩ mô và vi mô. Mà
các yếu tố này có thể thay đổi để phù hợp với diễn biến thực tế của nền kinh
tế. Đặc biệt trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá như hiện
nay, ngày càng làm gia tăng các nguy cơ rủi ro cho hoạt động NHTM và khi
rủi ro xảy ra thì hậu quả của nó sẽ rất nặng nề.
Hoạt động cho vay đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng, tuy nhiên
nó cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Hoạt động cho vay phải
tuân theo nguyên tắc: “sử dụng vốn đúng mục đích và hoàn trả nợ gốc và lãi
vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng”
4
. Nếu không
tuân thủ nguyên tắc trên thì khoản cho vay của ngân hàng gặp rủi ro. “Rủi ro
trong hoạt động cho vay là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho
ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc trả không
đầy đủ khoản tiền vay”
5
ngăn ngừa, xử lý những rủi ro trong quá trình cho vay; bảo đảm việc tuân thủ
đúng pháp luật và các quy đình hiện hành về việc cho vay. Với mục tiêu cuối
\
cùng là giảm thiểu rủi ro của hoạt động cho vay, tối đa hoá lợi nhuận dự kiến
từ hoạt động cho vay của ngân hàng. Vì vậy tăng cường kiểm soát hoạt động
cho vay không phải là hạn chế cho vay tới mức tối thiểu mà tăng cường kiếm
soát hoạt động cho vay ở đây là giúp cho việc cho vay có hiệu quả hơn (giảm
thiểu rủi ro, tối đa hoá lợi nhuận từ hoạt động cho vay).
1.2.3.Quy trình kiểm soát hoạt động cho vay
Trong các giai đoạn của quy trình cho vay: trước giải ngân, giải ngân và
sau giải ngân, quy trình kiểm soát đều gồm các bước sau:
− XĐ mục tiêu, nội dung, các chỉ số kiểm soát
− XĐ hệ thống kiểm soát: chủ thể kiểm soát là ai, công cụ kiểm soát là gì…
− Tiến hành giám sát đo lường
− Đánh giá sự thực hiện: xem xét chính sách cho vay của ngân hàng có được
thực hiện đúng theo quy định không, việc sử dụng vốn vay của khách hàng
có đúng mục đích không, thời hạn trả nợ gốc và lãi có đúng thời hạn như
Hợp đồng tín dụng không?...
− Điều chỉnh
− Đưa ra kết luận
1.2.4.Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác kiểm soát hoạt động
cho vay của Ngân hàng thương mại
1.2.4.1. Nợ quá hạn
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốc
NHNN quy định về việc phân loại nợ, các khoản nợ được chia thành 5 nhóm:
− Nhóm 1: (nợ đủ tiêu chuẩn) là các khoản nợ được TCTD đánh giá là
có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn.
− Nhóm 2: (nợ cần chú ý) là các khoản nợ có khả năng thu hồi đầy đủ
cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả
nợ.
quá chặt chẽ, như vậy cũng không phải việc kiểm soát có hiệu quả.
Tỉ lệ này tốt nhất là bằng 1. Nói như vậy không có nghĩa là khi đó hoạt
động kiểm soát đạt hiệu quả tốt
− Tỷ lệ dư nợ cho vay/ tổng vốn huy động: tỉ lệ này phản ánh số tiền mà
ngân hàng cho vay tại một thời điểm trên số vốn huy đồng được tại thời
điểm đó tính theo đơn vị (%) .
Nếu tỷ lệ này > 1, ngân hàng áp dụng chính sách cho vay mạo hiểm, cho
vay vượt quá khả năng huy động.
Nếu < 1, chính sách cho vay bảo thủ được áp dụng, chính sách này có thể
bỏ qua nhiều khách hàng,
Nếu tỷ lệ này bằng 1, việc kiểm soát hoạt động cho vay tương đối tốt.
1.2.4.3. Thu hồi nợ xấu
Tình hình thu hồi nợ xấu phản ánh công tác khắc phục tổn thất từ quyết
định cho vay của cán bộ ngân hàng. Nếu tỷ lệ thu hồi nợ xấu càng cao thì
càng chứng tỏ tinh thần trách nhiệm của cán bộ ngân hàng cũng như lãnh đạo
ngân hàng trong việc rút kinh nghiệm trong việc cho vay và tính nghiêm túc
trong công tác kiểm soát hoạt động cho vay để tránh gặp phải những sai sót
tương tự gây tổn thất lớn cho ngân hàng
1.2.4.4. Số trích lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro
Theo quyết định 493, các NHTM sẽ phải trích lập quỹ dự phòng rủi ro từ
lợi nhuận sau thuế tuỳ thuộc vào số dư nợ nhóm 1,2,3,4,5 (nhóm 1 không phải
trích lập dự phòng rủi ro, nhóm 2 trích 5%, nhóm 3 là 20%, nhóm 4 là 50%,
nhóm 5 trích toàn bộ). Ngoài ra để đảm bảo an toàn các ngân hàng cũng
thường có một khoản trích thêm để đảm bảo an toàn cho bản thân ngân hàng.
Nếu theo quy định tỉ lệ số trích lập quỹ dự phòng rủi ro so với số vốn cho vay
thấp cho thấy công tác kiểm soát hoạt động cho vay tương đối hiệu quả.
Việc sử dụng quỹ dự phòng rủi ro càng thấp có nghĩa là rủi ro xảy ra
càng ít và nó cũng nói lên phần nào chất lượng của công tác kiểm soát hoạt
động cho vay.
Ngoài các chỉ tiểu trên, để đánh giá chất lượng công tác kiểm soát hoạt
như nội chiến, xung đột, bạo động… thì việc kiểm soát vốn vay rất khó khăn.
Mặt khác vấn đề dân trí, đạo đức xã hội cũng ảnh hưởng tới việc kiểm
soát cho vay. Trình độ dân trí thấp, kém hiểu biết về hoạt động kinh doanh sẽ
dẫn tới tình trạng làm ăn kém hiệu quả hay sự suy thoái đạo đức xã hội gây ra
những rủi ro về vốn cho vay của ngân hàng.
1.3.1.4. Môi trường công nghệ
Trình độ công nghệ trên thế giới ngày càng hiện đại ảnh hưởng lớn đến
công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng, nhất là kiểm soát hoạt động cho vay
trong ngân hàng. Nếu các NHTM có điều kiện tiếp cận được với các công
nghệ hiện đại nhất trên thế giới nhất định hoạt động cho vay sẽ được tiến
hành nhanh chóng, khi đó sẽ thu hút được nhiều khách hàng và rủi ro là tối
thiểu.
1.3.1.5.Môi trường tự nhiên
Điều kiện tự nhiên cũng ảnh hưởng rất lớn tới công tác kiểm soát hoạt
động cho vay của các NHTM, chẳng hạn như việc thiên tai, lũ lụt, hạn hán…
những rủi ro do những nguyên nhân khách quan gây ảnh hưởng xấu tới hoạt
động kinh doanh cho khách hàng của ngân hàng. Điều này nằm ngoài tầm
kiểm soát của khách hàng cũng như của ngân hàng. Việc thu hồi vốn của
ngân hàng gặp khó khăn. Khi đó tuỳ từng trường hợp mà ngân hàng tiến hành
cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng
1.3.2.Các yếu tố thuộc môi trường vi mô
1.3.2.1. Khách hàng
Yếu tố khách hàng là rất quan trọng trong việc kiểm soát hoạt động cho
vay, nó bao hàm cả trình độ và sự trung thực của khách hàng. Nếu khách hàng
có trình độ, có khả năng kinh doanh, có thể tạo ra nhiều lợi nhuận từ đồng
vốn do ngân hàng cung cấp thì ngân hàng có thể thu hồi lại gốc và lãi của
khoản cho vay đúng hạn. Ngược lại nếu khách hàng vay vốn hiểu biết ít về
hoạt động kinh doanh, kinh doanh không hiệu quả hay chủ định lừa đảo thì
hoạt động kiểm soát của ngân hàng có chặt chẽ đến đâu, CBTD có cố gắng
thế nào trong việc thẩm định cho vay đi chăng nữa thì cũng không tránh được
định về tài sản đảm bảo… Việc kiểm soát hoạt động cho vay phải dựa trên
chính sách cho vay của chính ngân hàng hay nói cách khác chính sách cho
vay là định hướng cho các cán bộ ngân hàng trong việc lựa chọn khách hàng,
thẩm định hồ sơ vốn vay để đi tới quyết định cho vay và giám sát việc sử
dụng vốn vay. Khi một NHTM có một chính sách cho vay hợp lý, các cán bộ
ngân hàng sẽ thấu hiểu và thực hiện tốt việc kiểm soát.
1.3.3.2. Tài chính
Nguồn vốn của ngân hàng là rất quan trọng trong bất cứ hoạt động nào.
Với nguồn tài chính phong phú, NHTM sẵn sàng đáp ứng nhu cầu về vốn vay
của khách hàng, hoạt động kiểm soát đòi hỏi có hệ thống kiểm soát rộng lớn
như cần nhiều chủ thể kiểm soát hơn, kiểm soát với quy mô lớn hơn…có khi
hoạt động kiểm soát bị lơ là, chủ quan. Mặt khác, các NHTM đó cũng có điều
kiện sắm sửa máy móc, công nghệ tinh vi hiện đại, các phần mềm chuyên
dụng góp phần thẩm định việc vay vốn, kiểm tra mục đích sử dụng vốn của
khách hàng.
1.3.3.3. Nguồn nhân lực
Thật vậy trong bất cứ hoạt động trong mọi ngành nghề thì yếu tố con
người luôn là nhân tố hàng đầu. Yếu tố con người ở đây đòi hỏi cả về trình độ
lẫn phẩm chất: khi cán bộ ngân hàng thấu hiểu được định hướng cho vay của
ngân hàng mà không đủ trình độ, kinh nghiệm thì sẽ không phát hiện ra được
các hình thức thủ đoạn lừa đảo của những kẻ xấu như giả mạo giấy tờ, cung
cấp thông tin sai sự thật… Như vậy việc kiểm soát hoạt động cho vay kém
hiệu quả. Mặt khác nếu như CBTD có đủ năng lực trình độ mà không có
phẩm chất tốt lại càng nguy hiểm và khó kiểm soát hơn. Nguồn nhân lực
không chỉ nói riêng tới các CBTD mà còn đề cập tới cả các nhà quản trị ngân
hàng: sự quản lý tốt hay kém, việc đưa ra chính sách tín dụng đúng đắn, hiệu
quả hay không, việc phân công trách nhiệm cho cả hệ thống… của các nhà
quản trị cũng ảnh hưởng lớn đến việc kiểm soát.
\
1.3.3.4. Công nghệ