Phân tích hoạt động kinh doanh
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với chiến lược kinh tế hội nhập và phát triển do Nhà nước đặt ra, thương
mại quốc tế trở thành một bộ phận quan trọng có vai trò quyết định đến sự phát triển
của quốc gia. Vì vậy việc đẩy mạng giao lưu thương mại quốc tế nói chung và xuất
khẩu hàng hoá dịch vụ nói riêng là mục tiêu phát triển kinh tế hàng đầu của nước ta.
Đối với một nươc đang phát triển, có sự khan hiếm về vốn để tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước thì việc phát triển các ngành kinh tế tận dụng được lợi thế
vốn có của quốc gia là một điều vô cùng quan trọng. Trong những năm qua ngành
thuỷ sản nước ta đã khẳng định được lợi thế và vị trí của mình trong nền kinh tế quốc
dân. Với việc đòi hỏi vốn đầu tư không lớn, tận dụng được điều kiện tự nhiên xã hội
đất nước với đường bờ biển dài 3260 km và vùng biển rộng khoảng 1 triệu km
2
, khí
hậu ôn hòa và nguồn tài nguyên biển phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi để phát
triển tổng hợp nhiều ngành kinh tế biển. Việt Nam rất có tiềm năng phát triển ngành
thủy sản và thực tế Việt Nam là một trong 20 quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu
thế giới. Trong tiến trình hội nhập kinh tế hiện nay, khi thị trường rộng mở, có nhiều
cơ hội đến với ngành thủy sản, do đó việc phân tích thị trường, tìm ra những cơ hội
tốt để hoạch định chiến lược phát triển xuất khẩu là rất cần thiết.
Việc mở rộng quan hệ thương mại sang những khu vực và thị trường thế giới
được ngành thủy sản đi đầu từ những năm 1980. Đến nay, hàng thủy sản Việt Nam đã
có mặt tại 105 quốc gia và vùng lãnh thổ, qua đó tạo được uy tín đối với các nước và
các bạn hàng lớn. Từ đó, có thể thấy việc mở rộng quan hệ thương mại quốc tế này đã
góp phần mở ra con đường mới cho nền kinh tế Việt Nam.
Vì thế, hơn ai hết doanh nghiệp phải là đơn vị đi đầu, phải tìm kiếm cả thị
trường trong và ngoài nước. Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải biết thích
ứng với môi trường kinh doanh luôn vận động. Mặt khác trong khuôn khổ cho phép,
GVHD:Bùi Văn Trịnh 1 Nhóm 3.1
- So sánh các chỉ tiêu qua các năm (năm 2006-2008)
GVHD:Bùi Văn Trịnh 1 Nhóm 3.1
Phân tích hoạt động kinh doanh
- Phân tích tỷ trọng của các mặt hàng kinh doanh và một số chỉ tiêu hiệu quả để
nắm được thế mạnh của từng mặt hàng, từ đó, có kế hoạch sản xuất và tiêu thụ đạt
hiệu quả hơn.
IV. PHẠM VI GIỚI HẠN
Trong phạm vi nội dung nghiên cứu của bài luận văn này, em chỉ tập trung và
phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm một số mặt hàng chủ lực và hiệu quả hoạt động
kinh doanh của công ty cổ phần thủy sản Cafatex trên cơ sở số liệu của giai đoạn từ
năm 2006 đến 2008.
Từ đó, đề ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả
kinh doanh của công ty trong tương lai.
V. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ VÀ
HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY
1. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu trong hoạt động phân tích kinh tế,
đây là phương pháp dùng để xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa vào việc so
sánh với một chỉ tiêu cơ sở hay còn gọi là chỉ tiêu gốc.
Nguyên tắc so sánh
Chỉ tiêu so sánh:
- Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh.
- Tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua.
- Chỉ tiêu của doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành.
- Các thông số thị trường.
- Các chỉ tiêu có thể so sánh được với nhau.
Điều kiện so sánh:
Các chỉ tiêu so sánh được phải phù hợp về yếu tố không gian, thời gian, cùng nội
dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán, quy mô và điều kiện kinh
doanh của doanh nghiệp.
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY
SẢN CAFATEX
- Tiền thân của công ty cổ phần thủy sản CAFATEX là xí nghiệp đông lạnh thủy
sản II (thành lập tháng 5/1987) trực thuộc Liên hiệp Công ty thủy sản xuất nhập khẩu
Hậu Giang, với nhiệm vụ chính lúc bấy giờ là thu mua – chế biến – cung ứng hàng
thủy sản xuất khẩu.
- Tháng 7/1992 sau khi tỉnh Hậu Giang cũ được chia cắt thành 2 tỉnh mới là Cần
Thơ và Sóc Trăng, theo quyết định số 416/QĐ.UBT.92 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cần
Thơ ký ngày 01/07/1992 đã quyết định thành lập xí nghiệp chế biến thủy súc sản Cần
Thơ trên cơ sở xí nghiệp đông lạnh thủy sản II (cũ) nguyên là đơn vị chuyên sản xuất
và cung ứng sản phẩm thủy sản đông lạnh cho hệ thống seaprodex Việt Nam xuất
khẩu.
- Tháng 3/2004 với chủ trương của chính phủ công ty chuyển từ doanh nghiệp
nhà nước sang công ty cổ phần hoạt động theo luật doanh nghiệp với tên gọi là công
ty cổ phần thủy sản CAFATEX
Thông tin về Công ty cổ phần thủy sản CAFATEX.
- Tên giao dịch: CAFATEX FISHERY JOINT STOCK Co. (viết tắt là: Cafatex
corporation)
- Loại hình pháp lý: công ty cổ phần.
- Trụ sở: km 2081 quốc lộ 1A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Điện thoại: 0711.3847 775
GVHD:Bùi Văn Trịnh 1 Nhóm 3.1
Phân tích hoạt động kinh doanh
II. TỔNG QUÁT VỀ THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG
HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CAFATEX
1. Thuận lợi và khó khăn
1.1. Thuận lợi
- Công ty cổ phần thủy sản Cafatex được đặt ngay tại vị trí trung tâm của 13 tỉnh
thành phố thuộc khu vực ĐBSCL, có nguồn lao động dồi dào, có cơ sở hạ tầng khá
vùng và đầu tư mang tính khoa học cao, nên còn có những vụ mùa thất thu lớn đẩy
các doanh nghiệp chế biến các loại mặt hàng thủy sản rơi vào tình trạng khan hiếm
nguyên liệu. Hơn nữa, công ty Cafatex lại nằm ở vị trí trung tâm của 13 tỉnh thành
phố thuộc khu vực ĐBSCL, không gần biển nên nguồn cung cấp nguyên liệu bị hạn
chế. Các nguyên liệu chủ yếu để sản xuất hàng xuất khẩu của Công ty đa số được mua
từ các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Vũng Tàu… nên gặp rất nhiều khó khăn.
Ngoài ra, ở khu vực ĐBSCL hiện nay có rất nhiều công ty chế biến hàng thủy sản
phải kể đến như Cataco, Nam Hải, Agifish,… đa số những công ty này đều xuất khẩu
những mặt hàng đông lạnh giống như nhau đã dẫn đến tình trạng cạnh tranh trên thị
trường nguyên liệu đầu vào làm số lượng và giá cả nguyên liệu thường xuyên bị biến
động, không được ổn định.
- Hiện nay, trên thị trường sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh
nghiệp, thể hiện ở các chính sách như giảm giá bán, khuyến mãi… mà Công ty từ
trước tới nay lại không chú trọng nhiều đến khâu khuyến mãi, vì vậy, những chính
sách này đã làm cho khâu tiêu thụ sản phẩm của Công ty gặp không ít những khó
khăn so với các công ty khác cùng trong ngành.
- Mặc dù, đội ngũ Marketing của Công ty tuy có nhiều kinh nghiệm nhưng còn
thiếu về số lượng nên việc thu thập thông tin về khách hàng tiềm năng là chưa đủ.
- Việt Nam chưa gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) nên công ty
Cafatex phải chịu mức thuế khá cao nếu muốn xuất khẩu sang các nước khác trong
WTO, điều nay dẫn đến giá bán sản phẩm cao làm cho Công ty gặp rất nhiều khó
khăn trong việc thâm nhập và cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường
quốc tế.
- Công ty Cafatex hiện tại vẫn chưa có thị trường tiêu thụ nội địa ổn định.
2. Phương hướng hoạt động của Công ty Cafatex
GVHD:Bùi Văn Trịnh 1 Nhóm 3.1
Phân tích hoạt động kinh doanh
Công ty cổ phần thủy sản Cafatex trước đây là doanh nghiệp nhà nước, chuyên
sản xuất và chế biến sản phẩm thủy sản xuất khẩu theo yêu cầu của chính phủ. Công
ty luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình và sản phẩm của công ty Cafatex đã
tâm đầu tư, duy trì và bảo dưỡng thường xuyên không những về cơ sở hạ tầng, mà
còn phải đào tạo đội ngũ lao động nhằm nâng cao tay nghề và kiến thức cho cả nhà
quản lý và công nhân.
GVHD:Bùi Văn Trịnh 1 Nhóm 3.1
Phân tích hoạt động kinh doanh
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN THỦY SẢN CAFATEX
I. TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ THỦY SẢN Ở CÔNG TY
CAFATEX
1. Thị trường trong nước
Cafatex là công ty đi đầu trong việc xuất khẩu thủy sản ở nước ta. Công ty
không chú trọng nhiều đến thị trường trong nước, mà hiện nay thị trường tiêu thụ thủy
sản ở nước ta lại rất có tiềm năng.
Qua nghiên cứu thì thấy rằng mức tiêu dùng của người Việt Nam hiện tại thì nhu
cầu đối với các loại thủy sản ngày càng tăng đặc biệt ở các thành phố lớn như là Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng,… chủ yếu tại các hệ thống
nhà hàng, siêu thị. Mặt khác là do đời sống kinh tế, xu hướng của xã hội bắt đầu quan
tâm nhiều tới ăn mặt và sức khỏe. Người dân ngày càng thích dùng thức ăn thủy sản
vi tính chất ngon và sang trong trong bữa ăn của mỗi gia đình, sử dụng thực phẩm ít
béo nên sản phẩm cá, tôm, mực và sản phẩm gốc là thủy sản trở thành loại thực phẩm
chiếm phần quan trọng.
Chính vì vậy, thời gian qua Công ty đã bỏ phí mất phần nào doanh thu và lợi
nhuận của mình khi không chú trọng và đẩy mạnh việc mở rộng thị trường nội địa.
Nhưng hiện nay, Công ty đã và đang có nhiều kế hoạch nhằm khai thác thi trường
tiềm năng trong nước đồng thời để bù đắp lại các thị trường xuất khẩu đã bị thu hẹp
do suy thoái kinh tế toàn cầu. Công ty đã và đang đưa ra các hình thức quảng bá, giới
thiệu để đưa sản phẩm thủy sản của Công ty đến tay người tiêu dùng trong nước một
cách nhanh nhất, mặt khác tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị chất lượng cao, bao bì mẫu
mã đẹp, cung cấp nguyên liệu tươi đóng gói nhỏ hoặc hộp cho các bếp ăn nhà hàng,
cao và mang lại giá trị rất lớn. Tuy nhiên do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu
hiện nay thì thị trường xuất khẩu thủy hải sản ở nước ta nói chung và của công ty
Cafatex nói riêng đang bị thu hẹp do nhu cầu nhập khẩu và khả năng thanh toán tại
các thị trường chủ lực đều sút giảm., giá hàng hóa thủy sản giảm trên phạm vi toàn
cầu khiến cho thuận lợi về giá xuất khẩu thủy sản của Công ty qua các năm có xu
hướng giảm dần. Hơn nữa, khi nhu cầu nhập khẩu trên thị trường thế giới càng giảm
GVHD:Bùi Văn Trịnh 1 Nhóm 3.1
Phân tích hoạt động kinh doanh
thì sức ép cạnh tranh từ các nước châu Á khác càng gia tăng, đặc biệt là đối với các
mặt hàng nông sản, thủy sản, dệt may giày dép, điện tử,...khiến doanh nghiệp xuất
khẩu gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng, hợp đồng.
GVHD:Bùi Văn Trịnh 1 Nhóm 3.1
Phân tích hoạt động kinh doanh
II. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY
CAFATEX
Trong hoạt động kinh doanh việc đánh giá khả năng tiêu thụ sản phẩm của Công
ty là yếu tố đóng vai trò quan trọng, giúp doanh nghiệp xác định được mức độ tăng
trưởng và phát triển của đơn vị mình thông qua việc gia tăng sản lượng tiêu thụ thị
trường, đồng thời cũng xác định được sự phát triển của Công ty.
GVHD:Bùi Văn Trịnh 1 Nhóm 3.1
Phân tích hoạt động kinh doanh
BẢNG 1: SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ NỘI ĐỊA THEO CƠ CẤU MẶT HÀNG THUỶ SẢN
CỦA CÔNG TY CAFATEX
Đơn vị tính: tấn
Chỉ tiêu
Năm
Chênh lệch
2007/2006
Chênh lệch
2008/2007
tiêu thụ mạnh hơn sản phẩm đông block truyền thống, cụ thể như sau:
- Sản phẩm đông block truyền thống: Trong đó, tôm và cá đông block chiếm
sản lượng cao nhất và qua ba năm 2006 đến 2008 thì sản phẩm tôm và cá đông block
luôn luôn tăng. Đối với sản phẩm tôm thì sản lượng tôm năm 2007 tăng hơn năm
2006 một lượng là 14,15 tấn đạt tỷ trọng là 68,03% và đến năm 2008 thì sản lượng
tôm lại tăng cao hơn năm 2007. Còn đối với mặt hàng cá đông block thì sản lượng cá
tiêu thụ ngày một tăng rất cao, tiêu biểu như năm 2006 thì sản lượng cá đông block
tiêu thụ chỉ 0,81 tấn thì đến năm 2007 sản lượng tiêu thụ đã tăng lên 156,36 tấn một
sản lượng rất cao, tuy nhiên, vào năm 2008 thì sản lượng cá tiêu thụ đã đem lại sự bất
ngờ cho Công ty khi sản lượng cá tăng lên đến 498,04 tấn. Ngoài ra, năm 2008 thì
Công ty đã bắt đầu tiêu thụ được 0,11 tấn mực đông block đầu tiên, điều đó đã làm
cho Công ty phấn khởi hơn và bắt đầu tập trung cao vào tình hình tiêu thụ ở thị trường
nội địa để đẩy mạnh sự phát triển và đi lên của Công ty.
- Sản phẩm cao cấp: Ngoài tôm đông và cá đông thì còn có sản phẩm nghêu và
cồi điệp cũng chiếm một sản lượng tiêu thụ khá cao. Từ năm 2006 đến 2008 thì sản
lượng tiêu thụ của tôm và cồi điệp tăng cao, còn sản lượng của sản phẩm nghêu và cá
tiêu thụ tương đối thấp, và đến năm 2008 thì Công ty lại không tiêu thụ được sản
phẩm nghêu. Vì vậy, Công ty nên có những giải pháp đẩy mạnh việc tiêu thụ cá và
nghêu nhiều hơn nữa để doanh thu của Công ty ngày một tăng cao.
GVHD:Bùi Văn Trịnh 1 Nhóm 3.1
Phân tích hoạt động kinh doanh
2. Tình hình tiêu thụ theo cơ cấu mặt hàng tại thị trường xuất khẩu
Qua số liệu sản lượng tiêu thụ xuất khẩu của bảng 2, ta thấy tổng sản lượng năm
2007 đến năm 2008 có giảm những rất ít là 5,54% tương đương một lượng là 459,38
tấn, nhưng một số mặt hàng vẫn tăng như tôm đông block và cá đông cao cấp. Tuy là
công ty Cafatex đã nổ lực rất lớn trong việc cải tạo điều kiện sản xuất, môi trường và
đổi mới công nghệ, chủng loại, mẫu mã, bao bì… nhưng một số mặt hàng thủy sản
xuất khẩu vẫn chưa được phong phú còn chiếm tỷ lệ thấp như cồi điệp, nghêu,
seafood mix tiêu thụ không được cao, thậm chí năm 2008 lại không có khả năng tiêu
thụ.
Tôm đông 4.389,00 4.762,87 3.058,73 373,87 8,52 -1.704,14 -35,78
Nghêu 0.021 6,52 0 6,50 30,948 -6,52 -100
Cá đông 1.313,96 1.535,41 2.755,48 221,45 16,85 1.220,07 79,46
Cồi điệp 130,36 0 0 -130,36 -100 0 0,00
Seafood mix 0,49 0 0 -0,49 -100 0 0,00
Tổng sản lượng
7.528,4
7
8.278,7
1
7.819,3
3 750,24 9,9654 -459,38 -5,54
Đơn vị tính: tấn