Lời nói đầu
Việc chuyển nền kinh tế nớc ta sang nền kinh tế thị trờng là xu hớng tất yếu
khách quan bao gồm mở rộng quan hệ hàng hoá, tiền tệ, quan hệ thị trờng với các
quy luật khắt khe của nó ngày càng chi phối mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống
kinh tế- xã hội, đến hoạt động mọi mặt của các doanh nghiệp nói chung và doanh
nghiệp sản xuất nói riêng. Thị trờng mở rộng cả trong và ngoài nớc, các doanh
nghiệp phải tự khẳng định mình trong cuộc đấu tranh sinh tồn này bằng lợi thế
cạnh tranh về chất lợng, giá cả và hiệu quả.
Việc tối thiểu hoá chi phí sản xuất kinh doanh nhằm hạ giá thành sản phẩm
có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp. Mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá thành
phản ánh trình độ sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguyên vật liệu, máy móc
thiết bị, kỹ thuật tiên tiến của mỗi doanh nghiệp. Tuỳ vào đặc điểm sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp mà có những biện pháp hữu hiệu hạ giá thành sản phẩm,
nâng cao năng lực cạnh tranh.
Công ty cổ phần Thép Hoà Phát là công Ty sản xuất công nghiệp có quy mô
lớn bao gồm nhiều phân xởng mà quy trình sản xuất vừa mang tính riêng biệt vừa
mang tính liên tục. Sản phẩm sản xuất ra với chu kỳ dài, khối lợng lớn đa dạng về
chủng loại, mẫu mã,... Do đặc điểm công nghệ sản xuất nh vậy nên nhiệm vụ hạ
giá thành sản phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh là nhiệm vụ cấp bách của
công ty. Đây là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của việc hạ giá thành sản phẩm, trong thời
gian thực tập tại công ty đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo Vũ Đinh Nghiêm
Hùng cùng với các cô chú, anh chị trong công ty, em mạnh dạn chọn đề tài: Một
số giải pháp Hạ giá thành sản phẩm Thép của công ty Cổ phần thép Hoà
Phát nhằm nâng cao sức cạnh tranh"
Do trình độ còn hạn chế và thời gian tìm hiểu thực tế cha nhiều, bài viết này
không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận đợc sự đóng góp nhằm hoàn
thiện hơn đề tài nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
phần 1
thụ. Do vậy, cần phải đợc bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao
gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi
phí đa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh đợc giá trị thực của các t liệu sản
xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi phí khác có liên quan đến
việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống. Mọi cách tính toán chủ quan không
phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ
các quan hệ hàng hoá-tiền tệ, không xác định đợc hiệu quả kinh doanh và không
thực hiện đợc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
b- Mối quan hệ giá thành với chi phí, giá trị và giá cả
Giá thành công xởng sản phẩm với chi phí sản xuất có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Giá thành công xởng sản phẩm đợc tính trên cơ sở chi phí
sản xuất đã đợc tập hợp và sản lợng sản phẩm hoàn thành.
Nội dung giá thành công xởng của sản phẩm chính là chi phí sản xuất đ-
ợc tính cho sản lợng và loại sản phẩm đó. Tuy nhiên, chi phí sản xuất và giá
thành công xởng cũng có sự khác nhau cần đợc phân biệt. Mặc dù, cả giá thành
và chi phí đều giống nhau về chất vì đều bao gồm hao phí lao động sống và lao
động vật hoá, nhng khác nhau về lợng. Trong giá thành chỉ đợc tính những chi
phí gắn liền với sản phẩm hay dịch vụ đã hoàn thành, không kể chi phí bỏ ra
trong kỳ kinh doanh nào. Hơn nữa trong giá thành không bao gồm những chi
phí không có tính chất công nghiệp, không bao gồm những chi phí đã chi ra
trong kỳ nhng còn chờ phân bổ dần cho kỳ sau.
Thực tế, trong giá thành sản phẩm còn có chi phí thuộc thu nhập thuần
tuý của doanh nghiệp nh tiền lãi trả ngân hàng, BHXH.
Mối quan hệ giữa giá thành và giá trị:
Về kết cấu: cả giá thành và giá trị đều bao gồm ba bộ phận C, V và m.
Tuy nhiên, giá thành và giá trị có sự khác nhau về lợng và về chất. Trớc hết, giá
thành là biểu hiện bằng tiền của tất cả những chi phí của doanh nghiệp về sử
dụng t liệu sản xuất, trả lơng, phụ cấp ngoài lơng và những chi phí phục vụ
khác để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Giá thành đợc xây dựng cho từng loại
sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể và chỉ tính toán đối với sản lợng sản phẩm hoặc
chi phí, còn giá thành lại gắn với khối lợng sản phẩm công việc, lao vụ đã sản
xuất hoàn thành. Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến sản phẩm
hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm
4
hỏng. Còn giá thành sản phẩm không bao gồm chi phí sản xuất sản phẩm dở
dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng, nhng lại bao gồm chi phí sản phẩm dở dang
kỳ trớc chuyển sang. Ta có thể thấy mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm qua sơ đồ sau:
Biểu1.1: Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất sản phẩm dở
dang đầu kỳ
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
Tổng giá thành sản phẩm đã hoàn thành Chi phí sản xuất sản
phẩm dở dang cuối kỳ
Qua sơ đồ trên ta thấy
Tóm lại, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết vì
nội dung cơ bản của chúng đều là biểu hiện bằng tiền của những chi phí doanh
nghiệp đã bỏ ra cho sản xuất. Chi phí sản xuất trong kỳ là căn cứ, cơ sở để tính giá
thành sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành, sự tiết kiệm hoặc lãng phí của
doanh nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hởng đến giá thành sản phẩm thấp hoặc
cao. Do vậy, quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.
* Các phơng pháp phân loại chi phí sản xuất trong giá thành sản phẩm
Việc phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa quan trọng đối với công tác phân
tích và lập kế hoạch giá thành, so sánh những chỉ tiêu về giá thành trong các thời
kỳ khác nhau, giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại sản phẩm. Ngoài ra
việc phân loại chi phí còn có tác dụng thiết thực đối với việc phát hiện những
năng lực tiềm tàng về hạ giá thành sản phẩm, cung cấp những thông tin chính
xác, kịp thời để xây dựng chính sách giá cả hợp lý. Nhằm những mục đích cụ thể
khác nhau, ngời ta phân loại chi phí theo nhiều phơng pháp khác nhau.
Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế và theo công dụng cụ thể của chi
thiết để xác định phơng hớng và biện pháp hạ giá thành sản phẩm.
Những yếu tố chi phí sản xuất và những khoản mục chi phí để tính giá
thành đối chiếu với nhau và đợc sắp xếp theo biểu sau:
Biểu 1.2: Nội dung của yếu tố chi phí sản xuất và khoản mục tính giá
thành sản phẩm
Yếu tố chi phí sản xuất Khoản mục tính giá thành
1.Nguyên vật liệu chính mua
ngoài
2.Vật liệu phụ mua ngoài
3.Nhiên liệu mua ngoài
4.Năng lợng mua ngoài
5.Tiền lơng CNVC
6.BHXH CNVC
7.Khấu hao TSCĐ
8.Các chi phí khác bằng tiền
1.Nguyên vật liệu chính
2.Vật liệu phụ
3.Nhiên liệu dùng vào sản xuất
4.Năng lợng dùng vào sản xuất
5.Tiền lơng của công nhân sản xuất
6.BHXH của công nhân sản xuất
7.Khấu hao TSCĐ dùng vào sản xuất
8.Chi phí phân xởng
9.Chi phí quản lý doanh nghiệp
10.Thiệt hại về ngừng sản xuất và
sản phẩm hỏng
11.Chi phí ngoài sản xuất
6
Phân loại chi phí theo phơng pháp phân bổ chi phí vào giá thành ngời
ta chia ra: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Ví dụ khấu hao TSCĐ, chi phí lãi vay ngân hàng (trung và dài hạn), chi phí bảo
hiểm, tiền thuê đất đai, tiền lơng của những ngời quản lý,
Thông thờng, chi phí trực tiếp là chi phí biến đổi còn chi phí gián tiếp là
chi phí cố định.
Trong chi phí biến đổi, ngời ta còn chi tiết hoá thành chi phí biến đổi cùng
tỷ lệ (là chi phí biến đổi cùng hớng và cùng mức độ với sự biến đổi của sản l-
ợng sản phẩm làm ra) và biến đổi không cùng tỷ lệ (là những chi phí có thể
tăng nhanh hơn kết quả sản xuất hoặc cũng có thể chậm hơn tốc độ tăng của
kết quả sản xuất).
Nhờ cách phân loại này, ngời ta có thể đánh giá chính xác hơn tính hợp lý
của chi phí sản xuất chi ra. Mặt khác, đó là cơ sở quan trọng để xác định sản l-
ợng sản phẩm tối thiểu và xác định chính sách giá cả hợp lý, linh hoạt đối với
các doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng.
Ngoài việc phân loại chi phí theo các cách phân loại trên còn một số cách
phân loại nữa chẳng hạn nh căn cứ vào quá trình luân chuyển của chi phí
Bằng những tiêu thức phân loại chi phí khác nhau cho phép nhà quản trị với
những mục tiêu cụ thể sẽ vận dụng từng phơng pháp vào quá trình phân tích và
quản lý chi phí nhằm đạt hiệu quả cao hơn.
1.1.2 Phân loại và phơng pháp tính giá thành sản phẩm
a- Phân loại giá thành sản phẩm
Giá thành đợc xem xét dới nhiều góc độ, phạm vi tính toán khác nhau.
Căn cứ vào số liệu để tính giá thành thì giá thành sản phẩm chia ra: giá
thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.
- Giá thành kế hoạch: đợc xác định trớc khi bớc vào kinh doanh trên cơ
sở giá thành thực tế của năm trớc và các định mức kinh tế kỹ
thuật của ngành, các chi phí đợc Nhà nớc cho phép. Nó đợc lập ra trên
cơ sở hao phí vật chất và giá cả kế hoạch kỳ kinh doanh.
- Giá thành định mức: mang đặc trng của giá thành kế hoạch, nhng đ-
ợc xác định không phải trên cơ sở mức khấu hao cho cả kỳ kinh
doanh mà trên cơ sở mức hiện hành cho từng giai đoạn trong kỳ kinh
các khoản mục chi phí. Tuy nhiên, trong thực tế, để tính giá thành tuỳ theo ph-
ơng pháp hạch toán chi phí và đặc điểm quá trình sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp ngời ta có thể áp dụng các phơng pháp sau:
+ Phơng pháp tính trực tiếp (còn gọi là phơng pháp giản đơn)
Phơng pháp này đợc áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản
xuất giản đơn, số lợng mặt hàng ít, sản xuất với khối lợng lớn và chu kỳ sản
xuất ngắn nh: các nhà máy điện, nớc, các doanh nghiệp khai thác
Giá thành đơn vị sản phẩm theo phơng pháp này đợc xác định bằng cách:
+ Phơng pháp tổng cộng chi phí: áp dụng đối với các doanh nghiệp mà quá
trình sản xuất đợc thực hiện ở nhiều bộ phận (phân xởng) sản xuất, nhiều giai đoạn
công nghệ, chi phí sản xuất đợc tập hợp theo chi tiết hoặc bộ phận sản phẩm, giá
thành sản phẩm đợc xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất của từng chi tiết, bộ
phận sản phẩm hoặc chi phí sản xuất của các giai đoạn tham gia sản xuất sản
phẩm.
Giá thành thành phẩm=Z
1
+Z
2
+Z
3
+...+Z
n
Tổng giá thành sản phẩm
Khối lợng sản phẩm hoàn thành
10
Giá thành toàn
bộ của sản
phẩm tiêu thụ
=
Giá thành
sản xuất. Theo phơng pháp này trớc hết phải căn cứ vào hệ số quy đổi để quy
đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc, từ đó dựa vào tổng chi phí liên quan
đến giá thành các loại sản phẩm đã đợc tập hợp để tính ra giá thành sản phẩm
gốc và giá thành từng loại sản phẩm.
Trong đó
+ Phơng pháp tỷ lệ
Đợc áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy
cách sản phẩm khác nhau (nh doanh nghiệp may mặc, giày da, dệt,..). Do đó,
chi phí sản xuất đợc tập hợp theo nhóm sản phẩm cùng loại và giá thành của
từng loại sản phẩm đợc xác định bằng phơng pháp tỷ lệ nh tỷ lệ với khấu hao,
giá thành định mức
Tổng giá thành sản phẩm của các loại sản phẩm
Tổng số sản phẩm gốc quy đổi
11
Giá thành
đơn vị sản
phẩm gốc
=
Giá thành đơn
vị sản phẩm
từng loại
=
Giá thành
đơn vị sản
phẩm gốc
*
Hệ số quy đổi
sản phẩm từng
loại
Trên thực tế, có thể kết hợp phơng pháp trực tiếp với tổng cộng chi phí,
tổng cộng chi phí với tỷ lệ.
+ Phơng pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ
Đợc áp dụng đối với các doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản
xuất, bên cạnh các sản phẩm chính còn có thể thu đợc các sản phẩm phụ, để
tính giá trị sản phẩm chính phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ khỏi tổng chi phí
sản xuất sản phẩm. Giá trị sản phẩm phụ có thể đợc xác định theo nhiều phơng
pháp khác nhau nh: giá có thể sử dụng, giá ớc tính
+ Phơng pháp tính giá thành kế hoạch theo khoản mục chi phí
Khi tính giá thành kế hoạch theo khoản mục chi phí ta thực hiện các bớc:
- Xác định chi phí trực tiếp
- Xác định chi phí gián tiếp
Toàn bộ chi phí gián tiếp đợc phản ánh cụ thể qua biểu ở phụ lục.
Tổng giá thành thực tế của tất cả các loại sản phẩm
Tổng giá thành kế hoạch (giá thành định mức) của
tất cả các loại sản phẩm
Tổng giá thành thực tế của từng loại sản phẩm
Số lợng sản phẩm từng loại
12
Tổng giá
thành sản
phẩm
chính
=
Giá trị sản
phẩm
chính dở
dang đầu
kỳ
+
Chi phí
trực tiếp
Chi phí sử dụng
máy móc thiết bị
Chi phí quản
lý phân xởng
Giá thành phân xởng Chi phí quản
lý doanh nghiệp
Giá thành công xởng Chi phí ngoài
sản xuất
Giá thành toàn bộ
1.2- Những nhân tố ảnh hởng đến giá thành sản phẩm
Trong hoạt động kinh doanh, một yêu cầu khách quan đặt ra cho các doanh
nghiệp là phải quan tâm tìm biện pháp giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Để
thực hiện đợc điều đó trớc hết ta phải thấy đợc những nhân tố ảnh hởng đến giá
thành sản phẩm. Có rất nhiều nhân tố ảnh hởng đến giá thành sản phẩm nhng các
doanh nghiệp cần nắm đợc nhân tố nào là chính, ảnh hởng trực tiếp và quyết định.
Các nhân tố đó là:
- Tiến bộ khoa học và công nghệ: Việc áp dụng nhanh chóng những thành
tựu khoa học công nghệ vào sản xuất là nhân tố cực kỳ quan trọng cho
phép doanh nghiệp hạ thấp giá thành sản phẩm và thành công trong kinh
doanh. Tiến bộ khoa học công nghệ đã làm thay đổi nhiều điều kiện cơ bản
của sản xuất nh tăng năng suất lao động nhờ sử dụng máy móc thiết bị hiện
đại, giảm chi phí nguyên vật liệu nhờ sử dụng vật liệu thay thế.
- Chiến lợc nghiên cứu và phát triển của công ty: Vai trò của nghiên cứu và
phát triển trong việc giúp công ty đạt đợc hiệu quả cao là rất lớn. Thứ nhất,
nghiên cứu và phát triển có thể nâng cao hiệu quả thông qua thiết kế những
sản phẩm dễ chế tạo. Bằng cách cắt giảm số bộ phận tạo nên một sản
phẩm, nghiên cứu và phát triển có thể giúp giảm mạnh thời gian lắp ráp, từ
13
14
quả chiến lợc kinh doanh của mình. Phơng pháp khấu hao hợp lý sẽ
giúp công ty hạ giá thành sản phẩm của mình
- Chất lợng sản phẩm: Sản phẩm có chất lợng tốt hơn sẽ mang lại cho
công ty hai lợi thế. Danh tiếng về chất lợng sản phẩm giúp cho công
ty tính giá cao bao gồm cả lợi nhuận siêu ngạch và loại trừ đợc các
lỗi trong quá trình chế tạo làm tăng hiệu quả và giảm chi phí. Công
cụ mà công ty có thể sử dụng để đạt chất lợng cao hơn đó là thiết kế
lại sản phẩm, tìm ra các chất mới và quản lý chất lợng đồng bộ. Theo
triết lý TQM đã đợc phát triển bởi các nhà t vấn Hoa Kỳ thì:
+ Chất lợng đợc cải thiện nghĩa là chi phí giảm nhờ công việc sửa chữa sản
phẩm hỏng ít sai sót hơn, ít đình trệ hơn và sử dụng thời gian cũng nh vật t tốt
hơn.
+ Kết quả là năng suất tăng.
+ Chất lợng tốt hơn dẫn đến thị phần lớn hơn và cho phép công ty tăng giá bán.
+ Tăng khả năng sinh lãi và cho phép công ty tiếp tục kinh doanh.
+ Công ty sẽ tạo thêm nhiều việc làm.
Nh vậy, tăng chất lợng sản phẩm cũng đồng nghĩa với việc hạ giá thành sản
phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Quản lý nguyên vật liệu: Đóng góp của quản lý nguyên vật liệu đối với
việc nâng cao hiệu quả cho công ty có tầm quan trọng rất lớn. Quản lý
nguyên vật liệu bao gồm các hoạt động cần thiết để đa nguyên vật liệu
đến nơi sản xuất, thông qua quá trình sản xuất, ra khỏi hệ thống phân
phối va đến tay ngời tiêu dùng. Tiềm năng để giảm chi phí thông qua
quản lý nguyên vật liệu một cách hiệu quả là rất lớn. Một doanh nghiệp
chế tạo có quy mô trung bình, chi phí nguyên vật liệu và vận chuyển
chiếm tới 50 đến 70% doanh thu. Thậm chí, một sự giảm nhỏ các chi phí
này cũng có ảnh hởng rất lớn đối với lợi nhuận của công ty. Theo ớc
tính, nếu công ty có doanh thu 1 triệu đô la, tỷ lệ lợi tức đầu t là 5%, và
chi phí nguyên vật liệu chiếm 50% doanh thu bán hàng, để tăng lợi
lao động. Năng suất lao động là một trong những nhân tố quyết định tính
hiệu quả và cơ cấu chi phí của doanh nghiệp. Năng suất lao động càng
cao thì chi phí của một đơn vị sản phẩm càng thấp. Thách thức đối với
quản lý nguồn nhân lực là đa ra phơng thức nhằm nâng cao năng suất lao
16
động. Để có đợc nguồn nhân lực mỗi công ty có thể dựa trên ba lựa chọn
chính: đào tạo và phát triển nhân viên, tổ chức nhân viên thành các
nhóm tự quản và hình thức trả lơng cho nhân viên. Mỗi sự lựa chọn đều
thể hiện một động lực khích lệ nhân viên đóng góp khả năng của mình
để đa công ty đến sự thành công.
Ngoài ra, các công ty còn áp dụng các chính sách khác nhằm nâng cao năng
suất lao động của nhân viên nh: khuyến khích nhân viên, trao quyền và đồng
thời trao trách nhiệm cho nhân viên, khích lệ nhân viên sáng tạo, đóng góp ý t-
ởng, tự do phát biểu ý kiến để xây dựng tập thể, tạo ra không khí và nơi làm
việc thoải mái hào hứng để gây cho nhân viên một cảm tình cũng nh sự gắn bó
với nơi làm việc,
Tất cả các tác động trên ảnh hởng rất lớn đến vấn đề giảm chi phí sản xuất,
góp phần tích cực đến hạ giá thành sản phẩm
1.3 Tác động của giá thành sản phẩm đến sức cạnh tranh của sản phẩm và
yêu cầu hạ giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là nhân tố tác động mạnh mẽ, tiên quyết đến sức cạnh tranh
của sản phẩm. Chính vì vậy các doanh nghiệp luôn luôn phải đặt ra yêu cầu hạ giá
thành sản phẩm. Những tác động của giá thành đến sức cạnh tranh của sản phẩm
đợc thể hiện ở những mặt sau:
+ Tác động của giá thành đến sức cạnh tranh của sản phẩm
Trong cơ chế thị trờng, quy luật cạnh tranh vừa là động lực cho sự phát triển,
vừa là thách thức gay gắt đối với các doanh nghiệp. Quá trình cạnh tranh luôn gắn
liền và quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong quá
trình cọ xát này, mỗi doanh nghiệp muốn giành thắng lợi phải tự trang bị cho mình
hai thứ vũ khí cơ bản đó là chất lợng cao và giá bán hạ. Cùng một mức chất lợng,
suy thoái, lãi suất, thất nghiệp, doanh nghiệp sẽ ứng phó dễ dàng hơn. Hay thái
độ (phản ứng) của chính phủ qua cách thức điều tiết giá thông qua các luật lệ về
giá.
Mỗi doanh nghiệp khi nắm chắc giá thành sản phẩm thay đổi nh thế nào khi
gia tăng khối lợng sản phẩm thì sẽ có cơ sở trực tiếp để tính giá bán, vừa là căn cứ
để có thể lựa chọn mức giá cạnh tranh, chiến lợc cạnh tranh hiệu quả.
+ Vấn đề hạ giá thành sản phẩm
18
Các doanh nghiệp tồn tại trong thị trờng cạnh tranh phải có những vị trí nhất
định, chiếm lĩnh những thị trờng nhất định. Đây là điều kiện duy nhất duy trì sự
tồn tại của doanh nghiệp đó trong thị trờng. Sự tồn tại của doanh nghiệp luôn bị
các đối thủ khác bao vây. Vì vậy, để tồn tại trong thị trờng doanh nghiệp luôn phải
vận động, biến đổi với vận tốc ít nhất là ngang bằng với đối thủ cạnh tranh. Trên
thực tế ta thấy rõ trong thập kỷ vừa qua, thế giới kinh doanh sống trong môi trờng
mà sự xáo động của nó không ngừng làm cho các nhà kinh tế phải ngạc nhiên, mọi
dự đoán đều không vợt quá 5 năm. Sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp,
các quốc gia tăng nhanh. Hầu hết các thị trờng đều đợc quốc tế hoá. Chỉ có những
doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh mới tồn tại trong thị trờng này. Vì vậy, trong
môi trờng cạnh tranh doanh nghiệp phải đa ra những biện pháp nhằm chiến thắng
đối thủ cạnh tranh. Chỉ nh vậy doanh nghiệp mới có chỗ đứng trên thị trờng .
Doanh nghiệp phải tạo ra và sử dụng cho đợc những lợi thế trong cạnh tranh. Mỗi
doanh nghiệp tuỳ vào đặc điểm của mình và môi trờng mà tạo lợi thế cạnh tranh
bên trong hay bên ngoài. Lợi thế cạnh tranh bên trong là dựa trên tính u việt của
doanh nghiệp trong việc làm chủ chi phí sản xuất. Nó tạo nên giá trị cho ngời sản
xuất bằng cách tạo ra cho doanh nghiệp một giá thành thấp hơn so với ngời cạnh
tranh chủ yếu. Cốt lõi của cạnh tranh hiện nay đợc quan niệm là tạo u thế của
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Một doanh nghiệp có thể tạo lợi thế cạnh
tranh theo nhiều cách khác nhau: bằng cách chọn tuyến thị trờng khác với đối thủ
cạnh tranh, bằng cách đầu t giảm giá thành trong cùng một tuyến thị trờng, bằng
cách kiểm soát hệ thống phân phối. Muốn tạo lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp cần
- Chi phí về kinh tế thấp
- Khả năng bán hàng tốt, do đó có khối lợng bán lớn
- Khả năng về tài chính tốt
Mỗi doanh nghiệp khi kinh doanh đều phải dựa vào đặc điểm của ngời tiêu
dùng. Khi mức sống còn thấp thì ngời tiêu dùng thờng tìm mua những hàng
hóa rẻ, do đó nhiều doanh nghiệp phải chấp nhận lời ít bán giá thấp để bán đợc
nhiều. Ngợc lại khi mức sống cao hơn ngời tiêu dùng sẽ quan tâm đến những
hàng hoá có chất lợng tốt, chấp nhận mức giá cao.
Khi doanh nghiệp đã chọn đợc vũ khí cho mình rồi thì phải chuẩn bị sao
cho vũ khí đó phát huy hiệu quả cao nhất. Mục đích của doanh nghiệp khi theo
đuổi chiến lợc dẫn đầu về chi phí hoặc chiến lợc chi phí thấp là hoạt động tốt
20
hơn (có lợi thế hơn) các đối thủ cạnh tranh bằng việc làm mọi thứ để có thể sản
xuất hàng hoá hoặc dịch vụ ở chi phí thấp hơn các đối thủ. Chiến lợc này có hai
lợi thế cơ bản.
- Vì chi phí thấp hơn nên có thể đặt giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh
của mình mà vẫn thu đợc lợi nhuận bằng của các đối thủ. Nếu các
công ty trong ngành đạt các giá trị tơng tự cho các sản phẩm của mình
thì khi đó có thể thu đợc lợi nhuận cao hơn vì chi phí thấp hơn.
- Nếu sự cạnh tranh trong ngành tăng và các công ty bắt đầu cạnh tranh
bằng giá thì lúc đó sẽ có khả năng đứng vững trong cạnh tranh tốt hơn
các công ty khác vì chi phí thấp hơn của mình.
Muốn vậy có thể hạ giá thành sản phẩm từ quy mô sản xuất lớn, độc quyền
công nghệ, u đãi về nguồn nguyên liệu, cấu thành sản phẩm, mức độ dịch vụ,
quy trình kỹ thuật,
Trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh với mức độ chóng mặt nh hiện nay
các doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều đối thủ. Các đối thủ này đã đợc
M.Porter cụ thể hóa bằng mô hình sau:
21
Biểu1.4: Mô hình 5 lực của M. Porter
người mua
Sản phẩm thay thế
Môi trường kinh tế Môi trường công nghệ
Môi trường tự nhiên
nghĩ về giảm chi phí có thể không theo dõi đợc những thay đổi trong thị hiếu
của ngời tiêu dùng. Do vậy, cần lu ý là việc theo đuổi chiến lợc chi phí thấp
không loại trừ khả năng chuyên môn hoá. Vấn đề quan trọng là sản phẩm phải
đợc khách hàng chấp nhận khi so sánh với sản phẩm khác. Vì vậy, chi phí thấp
chỉ có u thế cạnh tranh nếu công ty đảm bảo một mức độ khác biệt hoá sản
phẩm nhất định đợc ngời tiêu dùng nhận biết và chấp nhận.
23
phÇn 2
ph©n tÝch thùc tr¹ng Gi¸ thµnh s¶n phÈm thÐp cña c«ng
ty cæ phÇn thÐp hoµ ph¸t
2.1: Đặc điểm của công ty cổ phần thép Hoà phát
2.1.1: Tên và địa chỉ của Công ty
Tên gọi Của Công Ty: Công Ty Cổ Phần Thép Hoà Phát
Trụ Sở chính : 34 Đại Cồ Việt – Lê Đại Hành – Hai Bà Trưng – Hà Nội
Cở sở sản xuất : Khu Công Nghiệp Như Quỳnh A – Văn Lâm – Hưng Yên
2.1.2: Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Cổ Phần Thép Hoà Phát mà tiền thân là Công Ty Hoà Phát Group
được thành lập năm 1992. Ngay từ khi mới thành lập trong giai đoạn Luật doanh
nghiệp đã tạo thành hành lang pháp lý và những điều kiện thuận lợi nhất để khối
doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển đồng bộ, rút ngắn khoảng cách với
doanh nghiệp quốc doanh. Chặng đường qua Thép Hoà Phát đã không ngừng
vươn lên đạt được nhiều thành tựu trong công tác quản lý sản xuất và kinh
doanh. Ngày 09\01\2007 trở thành một cột mốc quan trọng khi Công Ty Cổ
Phần Thép Hoà Phát phát triển thành Công Ty Mẹ với tên gọi Công Ty Cổ Phần
Tập Đoàn Hoà Phát, sau khi mua lại 6 doanh nghiệp độc lập mang thương hiệu
Hoà Phát đó là: Công Ty TNHH thiết bị Phụ Tùng Hoà Phát, Công Ty Cổ Phần
chon sao cho Phôi không bị nứt không bị cong để trong quá trình cán vật cán
được ổn đinh không gây sự cố
+ Nung Phôi: Phôi sau khi được lựa chọn được đưa vào lo nung tới nhiệt
độ 1050 – 1100 độ C khi ra lò để đảm bảo quá trình cán
PHÔI
CÁN NÓNGV ÀO LÒ NUNG
LỰA CHỌN PHÔI
PHÂN ĐOẠNLÀM NGUỘI
KIỂM TRA CHẤT
LƯỢNG
TÔI THÉP
ĐÓNG BÓ NHẬP KHO
25