TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH KẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG TIỂU LUẬN:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
VÀ XÂY DỰNG LỘ TRÌNH ÁP DỤNG
BASEL III TẠI VIỆT NAM Giảng viên: Nguyễn Thị Hai Hằng
Lớp: K09404A
Nhóm: 36 TP Hồ Chí Minh, Năm 2013 Chuyên đề: Đánh giá hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Giảng viên: Nguyễn Thị Hai Hằng
Nhóm: 36
Thành viên:
Phạm Đỗ Lan Anh K094040506
Nguyễn Thị Thúy Hà K094040539
DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NH Ngân hàng
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆP ƢỚC BASEL 3
1.1. Tổng quan về rủi ro của các Ngân hàng thƣơng mại 3
1.2. Hiệp ƣớc Basel và các tiêu chuẩn để đánh giá mức độ an toàn trong
hoạt động của các ngân hàng 4
1.2.1. Basel I: 4
1.2.2. Sơ lược về Basel II: 6
1.2.3. Basel III: 8
CHƢƠNG 2. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG BASEL III TẠI VIỆT NAM 18
2.1. Tác động của Basel III lên hệ thống NH tại Việt Nam khi đƣợc đƣa
vào áp dụng 19
2.1.1. Tác động tích cực: 19
2.1.2. Tác động tiêu cực 20
2.2. Khả năng áp dụng Basel III tại Việt Nam 20
2.2.1. Mức độ đáp ứng một số tiêu chuẩn mới 21
2.2.2. Hệ thống quản lý giám sát và khuôn khổ pháp lý 25
2.2.3. Một số thách thức khác ảnh hưởng tới khả năng áp dụng Basel III
vào Việt Nam 26
CHƢƠNG 3. ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG LỘ TRÌNH ÁP DỤNG BASEL III
TẠI VIỆT NAM 29
3.1. Ở góc độ NHNN và các cơ quan giám sát ngân hàng Việt Nam 30
3.1.1. Tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn 30
3.1.2. Sự khác biệt trong chuẩn mực kế toán Việt Nam và thế giới và cách
xác định tài sản vốn cấp 1, cấp 2 30
3.1.3. Yêu cầu vốn đệm dự phòng rủi ro tài chính (Capital Conservation
Buffer) 30
3.1.4. Yêu cầu vốn dự phòng chống suy giảm theo hiệu ứng chu kỳ kinh tế
(Countercyclical Capital Buffer) 31
3.1.5. Kiểm soát chặt chẽ các phương án tăng vốn mới 32
3.1.6. Phát triển và mở rộng thị trường các công cụ tài chính nhằm giảm đi
gánh nặng cho các ngân hàng 32
ii. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu và đề xuất áp dụng giải pháp quản trị rủi ro mới theo tiêu chuẩn quốc tế,
nhằm nâng cao bức tường an ninh tài chính cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.
iii. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Dựa trên những lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại và các hoạt động quản trị rủi ro
ngân hàng thương mại, phân tích khả năng tuân thủ Basel III của các ngân hàng thương
mại và xây dựng lộ trình phù hợp để đưa Basel III áp dụng vào hệ thống ngân hàng Việt
Nam.
2
iv. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp lý thuyết suy luận logic, duy vậy biện chứng, thống kê chỉ số, tổng
hợp, so sánh Vận dụng linh hoạt các phương pháp này để nêu bật được nội dung đề tài.
v. Kết cấu nội dung:
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung đề tài được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Hiệp ước Basel
Chương 2: Khả năng áp dụng Basel III tại Việt Nam
Chương 3: Đề xuất xây dựng lộ trình áp dụng Basel III tại Việt Nam 3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆP ƢỚC BASEL
1.1. Tổng quan về rủi ro của các Ngân hàng thƣơng mại
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các NHTM là trạng thái các tài sản ( tài sản nợ,
tài sản có và tài sản ròng) dễ rơi vào trạng thái không ổn định, không an toàn trong
khủng hoảng, khiến các NH mất đi trạng thái bền vững và không thể phát triển các hoạt
động kinh doanh dẫn đến sự đổ vỡ. Có thể nói ổn định là điều kiện cần thì an toàn chính
là điều kiện đủ cho quá trình phát triển vững mạnh của hệ thống tài chính.
Các loại rủi ro mà NHTM thường xuyên phải đối mặt bao gồn nhóm nhân tố nội sinh
như: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, khả năng quản trị - điều hành và rủi ro đạo đức,
hệ thống kiểm soát nội bộ, sự hợp tác giữa các NHTM.
cũng tuân theo.
1.2.1.1. Tiêu chuẩn 1: Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3
Đây là thành tựu đáng chú ý nhất trong nội dung của Basel I khi đưa ra được định nghĩa
mang tính quốc tế chung nhất về vốn ngân hàng. Theo đó vốn của ngân hàng được chia
làm 3 loại: vốn cấp 1, vốn cấp 2, vốn cấp 3.
Trong đó: Vốn tự có = vốn cấp 1 + vốn cấp 2
5
Vốn cấp 1 ≥Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3
Bảng 1.2: Các loại vốn cấp 1, cấp 2, cấp 3 theo quy định của hiệp ƣớc Basel I
Vốn tự có
Nguồn vốn
Cấp 1: Vốn nòng cốt
Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn
Lợi nhuận giữ lại
Lợi ích thiểu số tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo
tài chính.
Lợi thế kinh doanh ( goodwill).
Cấp 2: Vốn bổ sung
Lợi nhuận giữ lại không công bố
Dự phòng đánh giá lại tài sản
Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung
Công cụ vốn hỗn hợp
Vay với thời hạn ưu đãi
Đầu tư vào các công ty con và các tổ chức tài chính khác.
Cấp 3 (dành cho rủi ro
thị trường)
Vay ngắn hạn.
1.2.1.2. Tiêu chuẩn 2: Tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro – “Tỷ lệ Cook”
Tỷ lệ này được phát triển bởi BCBS với mục đích củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế,
Trụ cột thứ I liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu
vẫn duy trì ở 8%. Tuy nhiên lượng vốn duy trì được thanh toán theo ba yếu tố rủi ro
chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro vận hành.
Trọng số rủi ro cũng được coi trọng hơn với nhiều mức (0% -150% hoặc hơn) và đặc
biệt rất nhạy cảm với xếp hạng.
1.2.2.2. Trụ cột thứ II: Giám sát
Trụ cột thứ II liên quan đến việc hoạch định chính sách ngân hàng, cung cấp cho
các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn sao với Basel I. Trụ cột này
cung cấp khung giải pháp cho các rủi ro như: rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro
danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên
rủi ro còn lại ( residual risk).
7
1.2.2.3. Trụ cột thứ III: Quy luật thị trường.
Trụ cột này làm tăng một cách đáng kể những thông tin mà ngân hàng phải công
bố: từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan
đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro tác
nghiệp và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này. Thị trường sẽ có
một bức tranh hoàn thiện hơn về vị thế rủi ro tổng thể của ngân hàng và cho phép các đối
tác của ngân hàng định giá và tham gia chuyển giao một cách hợp lý.
Bảng 1.3: Trọng số rủi ro theo phân loại tài sản trong quy định của Basel II
Trọng số rủi ro
Phân loại tài sản
0%
- Tiền mặt và vàng năng trong ngân hàng,
- Các nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và Bộ tài chính.
20%
8%
1000 USD
200 USD
16 USD
Thế chấp nhà ở
50%
8%
1000 USD
500 USD
40 USD
Vay không đảm bảo
100%
8%
1000 USD
1000 USD
80 USD
Các phương pháp đo lường và quy chuẩn của Basel II cũng khuyến khích các ngân hàng
tự quản lý bằng việc áp dụng những phương pháp đánh giá nội bộ về nhu cầu sử dụng
vốn, chú ý đến tình trạng rủi ro của ngân hàng, đưa nhiều hơn yếu tố thị trường vào hệ
8
thống ngân hàng thông qua yêu cầu công bố thông tin, cho phép các bên tham gia đánh
giá được rủi ro và mức vốn hóa thực sự của những chủ thể khác nhau.
Trụ cột thứ 2 và thứ 3 liên quan đến quy trình đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và
công bố thông tin. Tuy không trực tiếp tác động đến việc tuân thủ tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu, nhưng lại đòi hỏi sự công khai, minh bạch, nhất quán và phù hợp với thông lệ
quốc tế.
1.2.3. Basel III:
Tiếp nối những thành tựu của Basel II, Basel III ra đời trong hoàn cảnh cuộc khủng
hoàng tài chính toàn cầu năm 2008 đang diễn ra hết sức phức tạp và để lại nhiều hệ lụy
lâu dài với hệ thống tài chính – ngân hàng toàn thế giới.
định ở trên thì ngân hàng đó càng bị hạn chế trong việc phân bổ lợi nhuận.
Ngân hàng nào không xây dựng quỹ dự phòng hoặc tỷ lệ dự trữ không đạt mức tối thiểu
mà Basel III quy định, cơ quan quản lý sẽ bắt buộc họ phải trích lợi nhuận để tăng vốn,
giảm nguồn tiền dùng để chia cổ tức, mua lại cổ phần hay hạn chế những khoản tiền
thưởng cho các nhà quản trị. Quy định mới có thể bắt buộc nhiều ngân hàng phải thu hẹp
dư nợ tín dụng hoặc bán bớt tài sản để cải thiện tình trạng vốn.
- Thứ ba, về yêu cầu Vốn đệm phòng ngừa sự suy giảm theo chu kỳ kinh tế
(Countercyclical Capital Buffer)
Tùy theo bối cảnh của mỗi quốc gia, một tỷ lệ vốn đệm phòng ngừa sự suy giảm theo
chu kỳ kinh tế có thể được thiết lập với tỷ lệ từ 0-2.5% và phải được đảm bảo bằng vốn
chủ sở hữu phổ thông.
Mục đích của vốn đệm phòng ngừa sự suy giảm theo chu kỳ kinh tế là để đạt được
những mục tiêu rộng lớn hơn trong việc đảm bảo an toàn kinh tế vĩ mô, bảo vệ khu vực
ngân hàng trong thời kỳ tăng trưởng tín dụng dư thừa vượt mức. Phần vốn dự phòng này
chỉ đòi hỏi trong trường hợp có sự tăng trưởng tín dụng nóng, nguy cơ dẫn đến rủi ro cao
trong hoạt động tín dụng một cách có hệ thống.
Phần vốn đệm phòng ngừa sự suy giảm theo chu kỳ kinh tế, khi có hiệu lực, nó được
xem như là một phần mở rộng phạm vi bào toàn vùng vốn đệm dự phòng tài chính và cả
hai phần vốn này chỉ bắt buộc thực hiện bắt đầu từ năm 2016 đến 2019.
10
- Thứ tư, yêu cầu về Nguồn vốn bổ sung thêm đối với các ngân hàng có tầm ảnh
hưởng quan trọng đến toàn hệ thống(Capital for Systemically Important Banks)
Trong các hiệp ước Basel trước đây chưa từng có quy định này. Tuy nhiên, loại vốn này
đang được Ủy ban Basel nghiên cứu và đề xuất áp dụng thêm đối với các ngân hàng lớn,
có tầm ảnh hưởng quan trọng đến toàn hệ thống ngân hàng, mà rủi ro các ngân hàng này
liên quan đến sự an nguy toàn hệ thống tài chính.
Loại vốn này hiện vẫn đang được nghiên cứu và có thể bao gồm cả những khoản phí rủi
ro phải trả cho sự đảm bảo an toàn (bảo hiểm), phí chuẩn bị vốn, chuẩn bị cho các khoản
chi tiêu (vốn) đột xuất và tham gia các gói cứu trợ.
Tỷ lệ tổng vốn tối thiểu = [ Tỷ lệ vốn cấp 1] + [ Vốn đệm dự phòng tài chính] + [Vốn
Vùng đệm dự phòng rủi ro tài chính
2.5 Tối thiểu cộng phần vốn đệm dự phòng
rủi ro tài chính
7.0
8.5
10.5
Vùng vốn đệm phòng ngừa suy giảm
theo chu kỳ kinh tế
0 – 2.5
- Thứ năm, về yêu cầu đảm bảo an toàn thanh khoản:
Theo tiêu chuẩn mới của Basel III, vấn đề đảm bảo an toàn thanh khoản được coi trọng
hơn. Ủy bao Basel đã đưa ra hai chỉ tiêu mới để giải quyết vấn đề thanh khoản
Chỉ tiêu “Tỷ lệ đảm bào thanh khoản” ( Liquidity Coverage Ratio – LCR):
Tỷ lệ này phải được đáp ứng liên tục.
Thời gian của các luồng tiền vào và luồng tiền ra có thể không khớp nhau và sẽ có vấn
đề về thanh khoản trong thời gian 30 ngày đó, vì vậy ngân hàng và cán bộ thanh tra được
yêu cầu phải phát hiện được bất kỳ sự thiếu hụt nào về thanh khoản trong thời gian này.
Mục tiêu của Tỷ lệ đảm bảo thanh khoản ( LCR) là để đảm bảo một ngân hàng duy trì ở
mức thích hợp tài sản có thanh khoản chất lượng cao và dễ dàng chuyển đổi thành tiền
mặt để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của ngân hàng trong thời gian 30 ngày của đợt
kiểm tra tình huống về việc mất thanh khoản nghiêm trọng do cán bộ thanh tra xây dựng.
ước từ ngày 1/1/2013. Các nước thành viên phải dịch các quy định vào luật pháp quốc
gia và các quy định trước thời điểm này.
Các ngân hàng sẽ được yêu cầu phải đáp ứng các quy định mới về vốn tối thiểu liên quan
đến tài sản tính theo rủi ro gia quyền – RWAs ( Risk-Weighted Assets) như sau:
– Tỷ lệ vốn chủ sở hữu chung tối thiểu; 3.5% trên tổng số vốn tính theo rủi ro gia quyền
( RWAs).
– Tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu 4.5% trên tổng số vốn tính theo rủi ro gia quyền ( RWAs).
– Tỷ lệ tổng vốn tối thiểu: 8.0% trên tổng số vốn tính theo rủi ro gia quyền ( RWAs).
13
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu chung tối thiểu và vốn cấp 1 tối thiểu theo quy định sẽ được phân
đoạn nâng dần từng bước trong khoảng từ ngày 1/1/2013 đến 1/1/2015.
Năm 2013, tỷ lệ vốn chủ sở hữu chung tối thiểu sẽ tăng từ mức 2% hiện nay lên 3.5%.
Các nguồn vốn cấp 1 theo yêu cầu cũng sẽ tăng từ 4% lên 4.5%. Năm 2014, các ngân
hàng sẽ phải đáp ứng một yêu cầu mới là 4% vốn chủ sở hữu chung tối thiểu và yêu cầu
vốn cấp 1 là 5.5%. Năm 2015, các ngân hàng sẽ phải đáp ứng 4.5% vốn chủ sở hữu
chung tối thiểu và 6% vốn cấp 1 theo yêu cầu.
Yêu cầu tổng vốn đầu tư vẫn còn ở mức 8%, như mức duy trì hiện có của các ngân hàng
và do đó không cần phải được loại bỏ hay thay thế dần tiêu chí này. Sự khác biệt giữa
các yêu cầu tổng số vốn 8% và các yêu cầu cấp 1 có thể được đáp ứng với cấp 2 và các
hình thức nào cao hơn về vốn.
Thứ hai, Việc điều chỉnh quy định (các khoản phải khấu trừ và bóc tách ra để đảm bảo
an toàn), bao gồn các khoản tiền vượt quá giới hạn 15% đầu tư vào các tổ chức tài chính
khác, các khoản cầm cố chứng quyền ( MSRs – Mortgage Servicing Rights), và các
khoản lợi thuế tài sản ( DTAs – Deferred Tax Assets). Những khoản này sẽ bắt đầu được
khấu trừ ở mức 20% từ năm 2014, và khấu trừ hoàn toàn ra khỏi vốn cổ phần kể từ ngày
1/1/2018.
Thứ ba, điều chỉnh quy định bắt đầu khấu trừ 20% các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn
ra khỏi vốn cổ phần phổ thông kể từ năm 2014, 40% từ năm 2015, 60% từ năm 2016,
80% từ năm 2017 và loại bỏ hoàn toàn 100% từ 1/1/2018.
Trong giai đoạn chuyển tiếp, phần còn lại không được khấu trừ khỏi vốn cổ phần phổ
– được công nhận như một phần của vốn cấp 1 theo quy định hiện hành của luật
ngân hàng của quốc gia đó.
Thứ bảy, Chỉ có những công cụ vốn và các khoản phải loại trừ được phát hành trước
ngày 26/7/2010 mới đủ điều kiện được tham gia quá trình chuyển đổi, thực hiện theo lộ
trình cắt giảm nói trên. Những khoản phát hành sau đó sẽ bị loại ra hoàn toàn.
Tỷ lệ về khả năng chi trả trong thời gian chuyển đổi cũng đã được Ủa ban Basel công bố
trong thông cáo báo chí ngày 26/7/2010. Thời gian theo dõi giám sát bắt đầu từ năm
2011, giai đoạn chạy thử nghiệm được bắt đầu từ năm 2013 cho đến ngày 1/1/2017. Việc
công bố tỷ lệ nợ và các thành phần của nó sẽ bắt đầu từ năm 2015.
15
Dựa trên kết qủa của thời kỳ thử nghiệm, các điều chỉnh cuối cùng sẽ được thực hiện
trong nửa đầu năm 2017 nhằm chuyển đổi sang áp dụng từ ngày 1/1/2018 sẽ dựa trên các
đánh giá và hiệu chỉnh phù hợp.
Sau một thời gian nghiên cứu bắt đầu vào năm 2011, tỷ lệ đảm bảo thanh khoản ( LCR –
Liquidity Coverage Ratio) sẽ được giới thiệu vào ngày 1/1/2015. Việc sửa các tiêu chuẩn
về tỷ lệ nguồn vốn trung dài hạn ( NSFR – Net Stable Funding Ratio) ( tỷ lệ nguồn vốn
trung dài hạn và vốn ổn định tối thiểu so với các tài sản dài hạn đã được tài trợ kể cả
ngoại bảng) sẽ được nghiên cứu lại và đưa ra áp dụng tiêu chuẩn mới từ năm 2018.
Ủy ban sẽ đưa ra báo cáo quá trình giám sát nghiêm ngặt các tỷ lệ trong khoảng thời gian
chuyển tiếp và sẽ tiếp tục xem xét những tác động của các tiêu chuẩn này đến các thị
trường tài chính mở rộng tài chính và tăng trưởng kinh tế, giải quyết hậu quả ngoài ý
muốn khi cần thiết. Bảng 1.4 sẽ cho thấy lộ trình cụ thể của việc thực thi hiệp ước Basel
III:
Bảng 1.5: Lộ trình thực thi các quy định của hiệp ƣớc Basel III
Chỉ tiêu
2013
2014
2015
2016
2017
sở hữu các khoản vốn
không đủ tiêu chuẩn
20%
40%
60%
80%
100%
100%
Tỷ lệ vốn cấp 1 tối
thiểu
4.5%
5.5%
6.0%
6.0%
6.0%
6.0%
6.0%
Tỷ lệ tổng vốn tối thiểu
8%
8%
8%
8%
8%
8%
8%
Tổng vốn tối thiểu
cộng vốn đệm dự
phòng bắt buộc
8%
Tỷ lệ vốn lõi cấp 1
5%
Không có
Phần vốn đệm dự phòng rủi ro tài chính
2.5%
Không có
Tỷ lệ về khả năng chi trả ( đòn cân nợ)
3%
Không có
Vùng vốn đệm phòng ngừa suy giảm theo chu kỳ kinh tế
0%-2.5%
Không có
Tỷ lệ đảm bảo thanh khoản tối thiểu
Bắt đầu từ
2015
Không có
Tỷ lệ về nguồn vốn trung, dài hạn và vốn ổn định tối
thiểu so với các tài sản dài hạn đã được tài trợ
Bắt đầu từ
2018
Không có
Vốn bổ sung thêm đối với các NH có tầm ảnh hưởng
Bắt đầu từ
2011
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1:
Chương này đã trình bày khái quát về rủi ro mà Ngân hàng thương mại. Rủi ro là
vấn đề thuộc về bản chất của hoạt động ngân hàng, chịu tác động của nhiều yếu tố đan
xen lẫn nhau. Rủi ro có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động và khả năng tồn tại của
ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Những điều đó đã cho thấy rằng chúng ta
III.
2.1. Tác động của Basel III lên hệ thống NH tại Việt Nam khi đƣợc đƣa vào áp dụng
2.1.1. Tác động tích cực:
Thứ nhất, Basel III giúp củng cố niềm tin của ngƣời gửi tiền. Niềm tin của
người gửi tiền là một trong những nền tảng quan trọng nhất đảm bảo sự ổn định của hệ
thống. Niềm tin này được tạo nên dựa trên sự an toàn, bền vững và hiệu quả trong hoạt
động của các NH. Và Basel III khi được áp dụng sẽ là cơ sở tốt nhất để đo lường và là
mục tiêu mà mọi NH Việt Nam phải hướng tới .
Thứ hai, việc áp dụng chuẩn mực mới sẽ làm tăng tính ổn định, hiệu quả
của các NH, hạn chế việc các NH tham gia vào các hoạt động kinh doanh nhiều rủi
ro. Với những yêu cầu của Basel III, đòi hỏi phải có một cơ quan quản lý làm nhiệm vụ
giám sát, đánh giá khả năng thực hiện các yêu cầu về quy định tỷ lệ tối thiểu của các NH.
Từ đó có thể sớm can thiệp nhằm ngăn chặn các hoạt động ảnh hưởng xấu đến NH, hạn
chế đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra cho toàn hệ thống NH.
Thứ ba, việc nâng cao tỷ lệ vốn cấp I tối thiểu (đặc biệt là vốn chủ sở hữu)
sẽ là cơ cở quan trọng để nâng cao tiềm lực tài chính của các NH. Bởi khi đó quy mô
các NH nhỏ trong nước sẽ buộc phải nâng lên đúng theo yêu cầu của Basel III, nguy cơ
bị thâu tóm hoặc bị chi phối bởi một vài cá nhân sẽ giảm hẳn đi. Mặt khác, vốn chủ sở
hữu được nâng cao sẽ buộc chủ sở hữu phải có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ nguồn
vốn mình bỏ ra.
Thứ tƣ, cam kết áp dụng Basel III khuyến khích Việt Nam nỗ lực hơn trong
việc quản lý, giám sát và minh bạch hóa thông tin của hệ thống NH Việt Nam. Minh
bạch hóa thông tin tức là các NHTM Việt Nam phải thường xuyên công bố những thông
tin cập nhật nhất và trung thực nhất về hiệu quả hoạt động của NH mình cho công chúng
như các báo cáo tài chính, … Minh bạch hóa thông tin hết sức quan trọng, bởi nó chính
là tiền đề tạo nên niềm tin của người gửi tiền và cũng là cơ sở để các cơ quan quản lý có
thể nhanh chóng can thiệp khi hoạt động của NH nào đó có vấn đề.