1 ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Đề tài môn đánh giá hệ thống ngân hàng Việt Nam:
KINH NGHIỆM TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG
CỦA THẾ GIỚI
VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
GVHD: ThS Nguyễn Thị Diễm Hiền
ThS Nguyễn Thị Hải Hằng
Nhóm SVTH:
Phan Nữ Ngọc Linh K094040564
Phạm Chí Nhân K094040580
Trần Cẩm Vân K094040634
Tp Hồ Chí Minh, 2013
2
Mục lục
Lời mở đầu 4
Chương 1: Các lý luận về tái cấu trúc ngân hàng 5
1.1 Định nghĩa và đối tượng 5
1.2 Nguyên nhân cần tái cấu trúc 6
1.3 Các phương án tái cấu trúc 6
Chương 2: Kinh nghiệm tái cấu trúc một số quốc gia điển hình 9
2.1 Thái Lan 9
2.1.1 Tình hình nền kinh tế lúc cấu trúc 9
2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến tái cấu trúc 11
2.1.3 Biện pháp thực hiện 12
3.5.2 Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam cần được hiểu như thế nào 54
3.5.3 Những nguyên tắc cần được đảm bảo trong quá trình tái cấu trúc 55
Kết luận 56
4
Lời mở đầu
Trong 5 năm trở lại đây, hệ thống ngân hàng (NH) của Việt Nam không ngừng phát triển về số
lượng và các hình thức dịch vụ. Điều đó có vai trò, ý nghĩa rất to lớn trong sự phát triển của đất
nước. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, hệ thống NH cũng bộc lộ những mặt tiêu cực,
hạn chế, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đáng lo ngại.
Hệ thống NH của nước ta tuy không ít về số lượng nhưng phần nhiều còn nhỏ bé, sức cạnh tranh
rất thấp, nhất là đối với các NH nước ngoài. Đặc biệt là hệ số an toàn tối thiểu (CAR) chưa cao.
Cơ chế hoạt động của các NH còn có sự chồng chéo, thiếu rõ ràng. Sổ sách thiếu minh bạch, có
nhiều sơ hở cho việc tham nhũng, trục lợi, thậm chí có thể dẫn đến việc "làm giàu trên lưng
nhau". Do những nguyên nhân chủ quan trên và nguyên nhân khách quan của nền kinh tế, nợ xấu
của ngành NH hiện đã lên tới 8,6% tổng dư nợ, trong đó nợ mất vốn theo ước tính có thể tới
50%. Đây là một tỷ lệ chưa đến mức mất kiểm soát nhưng đã tới giới hạn cần cảnh báo.
Trước những nguy cơ trên, việc tái cấu trúc hệ thống NH được triển khai từ giữa năm 2011 đến
nay là một chủ trương đúng đắn, được đa số chuyên gia kinh tế, tài chính, tín dụng và nhân dân
ủng hộ. Tái cấu trúc ngân hàng là công việc khó khăn, tốn không ít thời gian, bao gồm nhiều việc
trong đó phát hiện, loại bỏ những người làm trái các quy định của pháp luật, thoái hóa biến chất
chỉ là một việc. Mục đích cao nhất của tái cấu trúc là hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động
của hệ thống NH, xử lý nghiêm các sai phạm pháp luật, nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn
hệ thống, từng bước xây dựng hệ thống NH thành một công cụ tín dụng quan trọng bậc nhất của
quốc gia.
5
1.2 Nguyên nhân cần tái cấu trúc
Hệ thống ngân hàng có nguy cơ rơi vào khủng hoảng, kéo theo nguy cơ khủng hoảng kinh tế
- xã hội hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủng hoảng, có nguy cơ lan rộng ra toàn hệ thống.
Tùy tình hình ở các quốc gia mà có nguyên nhân tái cấu trúc khác nhau: Giải quyết hậu cú
sốc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan, Indonsia, Hàn Quốc…, nguyên nhân chính trị ở Pakistan, lệ
thuộc vào nước ngoài ở Bosnia và Herzegovia, hậu khủng hoảng kinh tế ở Hangary, Tây Ban
Nha, Thụy Điển Quy cho cùng, nguyên nhân trực tiếp là hoạt động thị trường tài chính yếu
kém, do : (1) cho vay vượt quá khả năng quản lý tài sản và nợ, (2) thiếu cơ sở pháp lý và khung
sườn hoạt động rõ ràng.
Những nguyên nhân này có biểu hiện chính gồm tổng sản lượng sụt giảm mạnh, lạm phát và
thất nghiệp tăng cao và những mất cân đối tài khóa và đối ngoại lớn, tình hình ngân hàng hoạt
động không hiệu quả, nợ quá hạn, nợ xấu tăng cao, nguy hại nghiêm trọng đến lòng tin của
người dân đối với ngân hàng, tâm lý thị trường tài chính bi quan…
1.3 Các phương án tái cấu trúc
Một số phương án tái cấu trúc có thể triển khai bao gồm:
Tái cấu trúc nợ của khu vực doanh nghiệp
Trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, bao giờ cũng phải giải quyết vấn đề nợ
xấu đối với khu vực doanh nghiệp. Thông thường, tỷ lệ vay nợ của khu vực doanh nghiệp bao
giờ cũng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng cho vay của hệ thống ngân hàng. Để giải quyết vấn
đề này có nhiều hướng tiếp cận khác nhau.
Nếu DN lâm vào tình trạng khó khăn tạm thời, không trả nợ và lãi đúng hạn do lãi suất tăng cao
và do những bất lợi khách quan khác nhưng về lâu dài doanh nghiệp vẫn có triển vọng phát triển,
thì ngân hàng có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp cơ cấu lại các khoản nợ để doanh nghiệp có
thể tiếp tục hoạt động được. Điều này không chỉ giúp bản thân doanh nghiệp mà còn có thể giúp
chính ngân hàng bảo toàn được các khoản cho vay, hơn là cho các doanh nghiệp phá sản và ngân
hàng chỉ thu lại được khoản nợ của mình trong quá trình thanh lý tài sản
Hỗ trợ hệ thống ngân hàng
7
Quản lý nợ xấu
Nói chung, nợ xấu trong nền kinh tế phải được xử lý bởi nguyên tắc thị trường, đảm bảo
hiệu quả kinh tế. Khi vấn đề nợ xấu xảy ra ở mức độ lớn, bản thân hệ thống ngân hàng khó có
thể giải quyết, điều này có thể ảnh hưởng đến việc cung cấp tín dụng cho nền kinh tế, lúc đó sẽ
cần sự can thiệp của nhà nước. Giải pháp hỗ trợ của nhà nước chỉ nên thực hiện đối với số nợ
xấu còn lại sau khi tổ chức tín dụng đã tự xử lý và theo nguyên tắc đảm bảo hài hòa hiệu quả
kinh tế và xã hội. Khi nhà nước can thiệp vào vấn đề nợ xấu thường áp dụng hai mô hình chủ
yếu để xử lý nợ xấu: thành lập các công ty quản lý tài sản (AMC) hoặc xây dựng các cơ chế xử
lý nợ xấu
Chuyển đổi sở hữu
Sáp nhập những ngân hàng trong nước có lẽ là cách thức tốn ít chi phí nhất trong quá
trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Thậm chí, ngay cả khi không có khủng hoảng xảy ra nhưng
nếu có quá nhiều các ngân hàng nhỏ thì sáp nhập cũng là cách thức tốt để tăng tính hiệu quả. Tuy
nhiên, tình huống khi nhiều ngân hàng xảy ra vấn đề thì rất khó tìm ra ngân hàng mạnh để tiến
hành mua bán sáp nhập. Với những trường hợp như vậy, để khuyến khích sáp nhập, các cơ quan
hữu quan thường phải xử lý vấn đề nợ xấu trước (nhưng tốn khá nhiều chi phí cho ngân sách).
Trong những trường hợp khủng hoảng, nhiều khi không thể tìm được ngân hàng nội địa nào đủ
lớn mạnh để tiến hành sáp nhập, do đó phải cho phép ngân hàng nước ngoài tiến hành thâu tóm.
Tuy nhiên, việc cho phép này hoàn toàn phải phụ thuộc vào độ mở của chính sách đối với thị
trường tài chính. Cách thức cuối cùng là tiến hành quốc hữu hóa ngân hàng trong một khoảng
thời gian nhất định. Cách thức này thường chỉ phổ biến ở các nước phát triển khi hệ thống ngân
hàng chủ yếu dựa vào vốn của tư nhân. Ở những quốc gia mà các ngân hàng quốc doanh đóng
vai trò quan trọng và khi tính sở hữu nhà nước là nguyên nhân gây ra những khó khăn thì việc tư
nhân hóa lại là vấn đề chính yếu trong quá trình tái cơ cấu. Ví dụ như trường hợp của Trung
Quốc, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, hệ thống ngân hàng quốc doanh đã tiến hành nhiều
khoản cho vay không theo quy tắc thị trường mà theo chỉ định. Trong những trường hợp như
vậy, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng phải đi đôi với việc cổ phần hóa và tái cơ cấu hệ thống DN
nhà nước.
9
khi GDP chỉ tăng trung bình 13%/năm. Giá trị các loại tài sản tài chính bị thổi phồng quá mức,
dòng tiền đầu tư từ nước ngoài đổ về khá nhiều. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để
tạo cơ hội cho giới đầu cơ tấn công và gây nên khủng hoảng tài chính 1997.
Hình 2.1. Tương quan giá trị tài sản tài chính so với tăng trưởng GDP 1986-1998
Nguồn: IMF, International Financial Statistic
Tăng trưởng quá nóng của các tổ chức tài chính phi quốc doanh, chiếm từ 83% GDP năm
1990 lên đến 147% GDP năm 1996, với tổng giá trị tài sản hơn 8.7 nghìn tỷ Bath, trong đó ngân
hàng thương mại chiếm 64% giá trị này, thị phần huy động hơn 69% và tín dụng khoảng 67%.
Nguyên nhân chính là do tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn này khá nhanh, từ đó thu hút được
nhiều vốn đần tư từ bên ngoài ồ ạt đổ về, biểu hiện rõ ràng nhất là mất cân đối cán cân BOP thời
điểm cuối năm 1996. Đây là nguyên nhân lớn thứ 2 trực tiếp dẫn đến cú sốc tiền tệ 1997.
11
Xóa bỏ nhiều rào cản tài chính như thả nổi tỷ giá, kiểm soát lỏng lẻo các chỉ tiêu an toàn
trong lĩnh vực tài chính, đồng thời cho phép sở hữu chéo các tổ chức tài chính cũng là một điều
kiện làm cú sốc thêm trầm trọng.
Cùng với nhiều biến động bên trong lẫn ngoài khác, tháng 4-5/1997 các nhà đầu tư lớn rút
vốn khỏi Thái Lan gây nên cú sốc tiền tệ nổi tiếng trong lịch sử kinh tế thế giới. Tình hình mất
cân đối cán cân thương mai lớn đến mức Thái Lan phải tuyên bố phá giá tiền tệ từ 2/7/1997. Từ
đây, kinh tế Thái Lan dính cú sốc trầm trọng, dẫn đến những khó khăn không thể tháo gỡ trở
thành những nguyên nhân trực tiếp mà nó cũng chính là cơ sở để quyết định cần phải tái cấu trúc
hệ thống ngân hàng của Thái Lan. Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi
được 1 dollar Mỹ. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995
xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD
xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản.
Tháng 10/1997 IMF tuyên bố Thái Lan cần phải tái cấu trúc hệ thống tài chính hướng đến
một chuẩn mực được thành lập vào năm 2000, sau khi đã tài trợ nước này gần 20 tỷ USD để giải
quyết khó khăn vào tháng 8/1997.
2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến tái cấu trúc
Do hệ thống tài chính yếu kém, mà nguyên nhân có thể xếp vào 2 nhóm chính: (1) cho vay vượt
trung rất nhiều vào một số lĩnh vực như bất động sản, trong đó, cho vay hầu như dựa vào tài sản
đảm bảo hơn là đánh giá năng lực tín dụng, dẫn đến việc khi bong bóng bất động sản vỡ, các
ngân hàng phải đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng của giá trị tài sản đảm bảo.
Thứ năm, khuôn khổ pháp lý về đảm bảo an toàn hoạt động ngành ngân hàng còn tương
đối yếu và rời rạc. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm giám sát ngân hàng và các công ty tài chính,
nhưng giao lại trách nhiệm giám sát hàng ngày cho Ngân hàng Trung ương. Bộ trưởng có quyền
cấp phép, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động và can thiệp vào hoạt động của các ngân hàng và
công ty tài chính thông qua một ủy ban quản lý.
2.1.3 Biện pháp thực hiện
Tái cấu trúc toàn diện ngành tài chính - ngân hàng: (1)Thành lập Ủy ban Tư vấn tái cấu trúc tài
chính cấp cao tham mưu cho Thống đốc và Bộ trưởng Tài chính. (2) Sự cam kết của các quỹ
công chúng trong việc hỗ trợ tái cấp vốn cho các ngân hàng và công ty tài chính còn hoạt động
tốt. (3) Tái cơ cấu tín dụng doanh nghiệp. (4) Quản lý nợ xấu. (5) Đóng cửa, sáp nhập hoặc bán
các ngân hàng thương mại và công ty tài chính yếu kém. (6)Gia tăng giám sát bảo đảm an toàn
cho hoạt động ngân hàng, đồng thời tích cực áp dụng các thông lệ quốc tế trong quản trị ngân
13
hàng. (6)Tái cơ cấu hoạt động các ngân hàng quốc doanh và chuẩn bị cho cổ phần hóa các ngân
hàng này. (7) Sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương với các tổ chức thiếu lành mạnh còn lại.
Thành lập công ty mua bán nợ xấu AMC
Là AMC đầu tiên trong khu vực phải đương đầu với việc xử lí tài sản của các công ty tài
chính mất khả năng thanh toán. The Financial Sector Restructuring Agency (FRA) được thành
lập vào 10/1997. FRA có hồi đồng gồm phó thống đốc, cựu bộ trưởng thương mại, cựu CEO
công ty tài chính, 1 ủy viên công tố và 1 kế toán. Nó đã có thành công sớm trong đáu giá tài sản.
Tài sản hữu hình (văn phòng, xe…) đã được bán vào tháng 3/1998, các khoản cho vay mu axe
vào tháng 7 và khoản vay mua nhà của cá nhân vào tháng 8. Các khoản bán này thực hiện trung
bình là nữa giá trị sổ sách.
Tuy nhiên, khoản bán tài sản lớn nhất là các khoản vay của doanh nghiệp với giá trị hiện giá lên
đến 10 tỷ US$ đã không được như mong muốn. Nó thu hút chỉ có 12 người mua, hầu hết là các
ngân hàng đầu tư của Mỹ. giá bán cao nhất đều thấp hơn mong muốn của chính quyền ( xấp xỉ
Ngân hàng xấu (bad bank) đã được thành lập để quản lí NPLs của Bangkok Bank of Commerce.
Hầu hết nhân viên là nhân viên cũ của ngân hàng này và đặt ở một số chi nhánh cũ. Dự định là
kết thúc vào cuối 1999. Tài sản hoạt động đã được nắm giữ bởi ngân hàng sở hữu nhà nước
Krung Thai Bank. Chính phủ đã thiết lập khung pháp lí để khuyến khích các ngân hàng tư nhân
thành lập ngân hàng xấu của họ.
Nhưng cho đến nay chính quyền Thái đã quan tâm nhiều hơn với việc xóa bỏ tình trạng lỏng lẻo
trong giám sát. Một xem xét toàn thể lại về pháp lí và khung quy định đã được kì vọng là sẽ dẫn
đến một quy chế mới vào giữa năm 1999. Thắt chặt hơn các yêu cầu dự phòng đã được thực hiện
từng bước và hiệu lực hoàn toàn vào cuối 2000. Tuy nhiên các ngân hàng nào cần sử dụng khung
tier 1 đã được thảo luận bên dưới phải đáp ứng những đòi hỏi này ngay lập tức. BoT đã tuyên bố
các giải pháp để đảm bảo chất lượng của việc tăng vốn (đó là việc giới hạn phát hành vốn chủ sở
hữu với trái phiếu đi kèm)
Thành lập FIFD
Nhằm chống đỡ với sự yếu kém của ngành ngân hàng trong những, dưới sự hỗ trợ IMF, Chính
phủ Thái Lan đã áp dụng một số biện pháp cải cách để xây dựng một hệ thống khung mẫu chính
thức vào năm 2000, bao gồm việc thành lập FIFD, một thể nhân độc lập với Ngân hàng Trung
ương với nhiệm vụ tái cấu trúc, phát triển và cung cấp hỗ trợ tài chính (hỗ trợ thanh khoản) cho
các định chế tài chính.
15
Tất cả ba nền kinh tế có kế hoạch thực hiện hỗ trợ tái cấu trúc vốn của hệ thống ngân
hàng. Tái cấu trúc vốn ở Thái Lan đang diễn ra dưới sự bảo trợ của Quỹ phát triển các tổ chức
tài chính (FIDF). FIDF được thành lập vào năm 1985 để cung cấp hỗ trợ tài chính cho các ngân
hàng gặp khó khăn, chấp nhận một phạm vi rộng hơn của tài sản thế chấp hơn mức cho phép
theo cơ sở cho vay sau cùng của BoT. Nó được cung cấp nhân viên bởi BoT, cũng chính BoT
cung cấp vốn ban đầu cho nó, và được tài trợ một phần bằng tiền thuế thu về tổ chức tài chính là
0,4 % tiền gửi. (Trong thời gian nó sẽ được thay thế bằng một cơ quan bảo hiểm tiền gửi mới.)
Chính phủ ban hành 500 tỷ THB trái phiếu để trang trải nợ của FIDF. Lãi suất trên trái phiếu
được đáp ứng từ ngân sách với khấu hao từ lợi nhuận BoT trong tương lai. Các FIDF đã tiếp
quản một số ngân hàng undercapitalised bằng cách chuyển đổi các khoản vay của mình cho
ngân hàng này.
Và cuối cùng, chiến lược cũng chỉ rõ, không có ngân hàng sẽ bị đóng cửa và người gửi
tiền cũng như vay tiền sẽ được bảo đảm hoàn toàn bởi Chính phủ.
Ban đầu, Ngân hàng Trung ương Thái Lan không muốn can thiệp vào các ngân hàng vì lo sợ
rằng, điều này sẽ dẫn đến tình trạng tháo chạy trong cả hệ thống ngân hàng và làm trầm trọng
thêm cuộc khủng hoảng. Với bản sửa đổi năm 1997 của Luật Các ngân hàng thương mại, Ngân
hàng Trung ương được giao các quyền hạn cụ thể để giảm vốn và thay đổi bộ máy quản lý của
các ngân hàng thương mại yếu kém.
Dựa trên những quyền hạn tăng thêm đó, Ngân hàng Trung ương đã can thiệp vào các ngân hàng
và công ty tài chính đang gặp vấn đề, từ đó, Chính phủ đã trở thành chủ sở hữu của 6 ngân hàng
và 9 công ty tài chính, chiếm tới gần 1/3 nguồn vốn huy động của toàn hệ thống.
Chính phủ cũng thuê một chuyên gia tài chính để hỗ trợ quá trình xây dựng chiến lược, chuyên
gia này đã đề xuất nội dung để các ngân hàng trong nước và quốc tế có thể mua lại các ngân
hàng kể trên.
Tuy nhiên, trong năm 1998, nợ xấu của nhóm 3 ngân hàng hoạt động yếu kém trong
nhóm 6 ngân hàng mà Chính phủ sở hữu lên tới 70 - 85% ở mỗi ngân hàng với nhiều vấn đề nổi
cộm, đặt ra yêu cầu đối với Chính phủ đối với việc đưa ra một kế hoạch hoàn chỉnh để giải quyết
các vấn đề còn tồn tại của thị trường tài chính. Các biện pháp chính được Chính phủ đưa ra bao
gồm: cải thiện khuôn khổ pháp lý bảo đảm an toàn hoạt động ngành tài chính ngân hàng và tiến
hành các bước tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.
17
2.1.4 Kết quả đạt được
Hệ thống ngân hàng của Thái Lan đã được tái cấu trúc mặc dù chỉ có hai ngân hàng
thương mại đóng cửa, sáp nhập. 56 công ty tài chính bị đóng cửa, 13 công ty khác và 5 ngân
hàng được sáp nhập.
Các ngân hàng còn lại đều đã tăng được đủ số vốn quy định sau 12 tháng, tuy nhiên, quá trình
tăng vốn vẫn tiếp tục sau đó để đạt được tiêu chuẩn về phân loại nợ và trích lập dự phòng theo
chuẩn quốc tế vào năm 2000.
Các ngân hàng quốc doanh sau đó được cổ phần hóa với sự hỗ trợ của các ngân hàng đầu tư của
Bảo vệ hoạt động ngân hàng và người gửi tiền
Cam kết chung đảm bảo hoạt động gửi tiền của các ngân hàng đều đã được tuyên bố ở cả
3 quốc gia; tháng 8/1997 tại Thái Lan, cuối 1997 tại Malaysia và tháng 1/1998 tại Indonesia. Bảo
hiểm tiền gửi đã được phát triển.
Nhu cầu cho điều này, mặc cho vấn đề về rủi ro đạo đức, đã được thể hiện thông qua phản ứng về
việc đóng cửa các ngân hàng ở Indonesia. Dưới điều khoản của chương trình của IMF, Indonesia
đã đóng của 16 ngân hàng thương mại vào tháng 11/1997. Sau tuyên bố chính thức rằng các
khoản tiền gửi hơn 20 triệu rupiad (tương đương 5000$US) không được bảo hiểm. Theo đó là sự
19
tuôn chảy dòng vốn tại các ngân hàng tư nhân. Một số chảy sáng nước ngoài hoặc vào ngân hàng
thuộc sở hữu nhà nước nhưng một số quỹ được giữ ngoài hệ thống ngân hàng dưới các dạng như
tiền mặt hoặc gửi sang nước ngoài.
Không chỉ người gửi tiền trong nước mất niềm tin. Các ngân hàng nước ngoài cắt giảm
cho vay và e ngại cung cấp tín dụng hoặc chấp nhận L/C được thực hiện bởi các ngân hàng trong
khu vực. Điều này dẫn đến thiếu tài trợ thương mại ngăn cản nhà xuất khẩu hưởng ưu thế của
việc mất giá tiền tệ trong nước.
Với lí do này sự đảm bảo của chính quyền Indonesia áp dụng không chỉ với người gửi tiền trong
nước mà còn cả người cho vay bằng đồng rupiah và cả ngoại tệ và bao gồm luôn cả các hoạt
động ngoại bảng. Trong tháng 1/1999, NHTW Indonesia (Bank Indonesia) tuyên bố họ hoàn trả
hầu hết các khoản nợ thương mại của ngân hàng địa phương đối với ngân hàng nước ngoài. Mặc
dù các khuyến cáo trên được ngầm hiểu với các ngân hàng nước ngoài, nhưng không thể chắc
chắn là các ngân hàng nước ngoài sẽ sẵng sàng hơn trong việc cấp cấp các khoản cho vay mới
đối với các tổ chức tại Indonesia.
Thay đổi về mặt chính sách
Các thay đổi đối với các quy định và hoạt động giám sát có 2 dạng. Một dạng là nhượng
bộ tạm thời nhằm mục đích giúp các ngân hàng thoát khỏi vấn đề hiện tại. Dạng còn lại là thắt
chặc các yêu cầu để tránh các ngân hàng dính vào các vấn đề trầm trọng hơn trong tương lai.
Malaysia đã thực hiện nhiều hơn ở dạng đầu trong khi Thái Lan và Indonesia tập trung vào dạng
sau.
đã mua.
Danaharta có hội đồng gồm 9 người được chỉ định bởi bộ tài chính. Hầu hết đến từ dến từ
các thành phần tư nhân (gồm 2 đến đến cộng đồng quốc tế) nhưng 2 đại diện chính phủ. Giám
đốc quản lí, là cựu nhà ngân hàng đầu tư, là thành viên không biểu quyết của hội đồng. Hiến
pháp thành lập Danaharta cho nó 2 quyền lực đặc biệt. Thứ nhất, nó có thẻ mua tài sản thông qua
quyền được hưởng hoàn toàn các giá trị do luật định. Nếu Danaharta muốn mua NPL từ một ngân
hàng nào đó, nó trước tiên phải đồng ý điều khoản và điều kiện (bao gồm giá) với ngân hàng đó.
Sau đó nó phát hành chính chỉ quyền được hưởng mà cái chứng chỉ này sẽ được đăng ký giao
dịch bảo đảm chấp nhận mang đến trách nhiệm đối với tài sản như được nắm giữ bởi ngân hàng
bán. Danaharta có thể sau đó bán khoản cho vay này, đồng thời cũng được hưởng tất cả các
quyền lợi sinh ra mà không cần có sự chấp thuận của người vay.
Thứ hai, nó có khả năng chỉ định quản lí đặc biệt để quản lí công ty bị khủng hoảng, không thể
đáp ứng nghĩa vụ trả nợ, tùy thuộc vào sự chấp thuận của Hội đồng giám sát. Hội đồng này kết
hợp các đại diện đến từ bộ tài chính, NHTW và ủy ban chứng khoán. Trong khi quản lí đặc biệt
21
kiểm soát tài sản công ty thì lệnh hoãn trả nợ trong 12 tháng có hiệu lực. Nếu Danaharta và đa số
chủ nợ có đảm bảo đồng ý thì cái đề án này sẽ được tiến hành.
Có 5 tổ chức quản lí tài sản, cơ sở hạ tầng, công nghiệp, xây dựng và đầu tư chung. Một
vài trong số đó sẽ hoàn thành các dự án trước khi bán. Phương pháp chủ động này đối với quản lí
tài sản đã được so sánh với AMC của Thụy Điển (Securum), tổ chức này có thể tái cấu trúc và
bán tài sản trong 5 năm.
Danaharta ban đầu ước tính nó cần thiết để tăng 25 tỷ MYR cho các hoạt động của mình nhưng
điều này đã được điều chỉnh xuống 15 tỷ MYR. Chính phủ đóng góp 1,5 tỷ MYR trong vốn và
đóng góp hơn nữa là có thể. Gần 5 tỷ MYR đã được tạo ra từ phát hành trái phiếu không trả lãi.
Tham gia cổ phần tư nhân cũng được dự tính.
Tại thời điểm 30/6/1999 Danaharta đã mua 2.000 NPLs có thể chiết khấu tại BNM, trị giá 30 tỷ
MYR từ các ngân hàng, trao đổi chúng cho trái phiếu Chính phủ bảo lãnh không trả lãi kì hạn 5
năm với một tùy chọn để tái đầu tư cho năm năm nữa. Khoảng 1/3 các khoản vay đã mua là các
khoản vay bất động sản. Nói chung, Danaharta ưu tiên hỗ trợ cho vay đối với các lĩnh vực chiến
Sáp nhập và thâu tóm
Sáp nhập ngân hàng tư nhân trong nước đã không thể đóng một vai trò lớn trong việc giải
quyết vấn đề ngân hàng vì hầu hết các ngân hàng đều phải chịu tổn thất trong cuộc khủng hoảng.
Vào tháng 9/1998, chính quyền Indonesia thông báo rằng bốn ngân hàng quốc doanh sẽ được
sáp nhập vào Ngân hàng Mandiri mới. Tài sản xấu của họ sẽ được chuyển giao cho IBRA. Ngân
hàng mới này, tên của nó có nghĩa là "ngân hàng tự lực cánh sinh", sẽ có gần một phần ba tổng
tài sản ngân hàng và sau đó có thể được bán. Hoạt động kho bạc đã được tập trung và một đơn vị
tín dụng tập trung đã được hình thành. Cắt giảm đáng kể nhân viên để giảm chi phí, một kế hoạch
tự nguyện đã gây ra hơn 9.000 nhân viên bị nghỉ việc. Hầu hết các nợ xấu sẽ ở lại với Mandiri.
Các ngân hàng đang được tư vấn bởi một loạt các công ty quốc tế. Theo The Economist (1999),
Deutsche Bank đang giám sát việc tái cơ cấu và cải tổ quy trình tín dụng, McKinsey đang phát
triển một chiến lược ngân hàng bán lẻ, Andersen Consulting tăng cường hệ thống thông tin, Hay
Management chăm lo biên chế và Ogilvy & Mather thiết kế một hình ảnh nhận diện mới. Các
cuộc đàm phán sáp nhập sơ bộ đã được tổ chức giữa năm ngân hàng Indonesia khác.
Các nhà chức trách Malaysia đã công bố kế hoạch cho các ngân hàng của đất nước và
các công ty tài chính được sáp nhập thành sáu nhóm lớn trước tháng 9/1999.
Tiếp quản bởi các ngân hàng nước ngoài trở nên được ưu đãi ở Indonesia và Thái Lan kể từ
khi cuộc khủng hoảng nổ ra. Sửa đổi luật pháp ở Indonesia hiện cho phép sở hữu nước ngoài
chiếm đa số. Một ngân hàng Anh đã nắm quyền kiểm soát của một ngân hàng lớn của
Indonesia. Tuy nhiên, trong khi các ngân hàng nước ngoài hiện nay được phép lấy một phần lớn
23
cổ phần trong các ngân hàng trong nước ở Thái Lan, nó chỉ có thể được nắm giữ trong vòng
mười năm. Điều này dường như đã ngăn cản các ngân hàng nước ngoài mua. Tuy nhiên, ngược
lại, Malaysia vẫn giữ lại 30 % giới hạn về quyền sở hữu nước ngoài của các ngân hàng.
Kế hoạch tái cấu trúc vốn
Tại Malaysia, Danamodal, (đầy đủ, Danamodal Nasional Berhad) được thành lập vào
tháng Tám năm 1998 như là một công ty trách nhiệm hữu hạn, và một công ty con của BNM.
Danamodal đã huy động thêm vốn thông qua phát hành trái phiếu MYR. Khi nó đạt được mục
tiêu của mình, Danamodal sẽ bán cổ phần tại Ngân hàng. Khi chúng được bán hết, giá trị còn lại
1999 ước tính này đã được tăng gấp đôi. Khoảng IDR 230 ngàn tỷ sẽ được yêu cầu cho các ngân
hàng nhà nước, 22nghìn tỷ IDR đã được cung cấp bởi NHTW Indonesia cho các ngân hàng tư
nhân, thêm IDR 130 nghìn tỷ sẽ là cần thiết cho tái cấu trúc vốn họ và 20 nghìn tỷ IDR sẽ là cần
thiết để trả người gửi tiền của các ngân hàng đóng cửa. Các chi phí ước tính đang tiếp tục tăng
tuy nhiên như hầu hết các ngân hàng đang tiếp tục phải trả thêm tiền gửi hơn họ đang kiếm được
các khoản cho vay. Sau kiểm toán của các ngân hàng địa phương (đối với các ngân hàng lớn của
kiểm toán viên quốc tế và cho các ngân hàng nhỏ bởi ngân hàng trung ương), các ngân hàng đã
được phân loại ban đầu thành ba loại:
• sound; 74 ngân hàng có tỷ lệ vốn trên 4 % (khoảng một phần ba trong số các ngân hàng
này có quản lý được coi là "không phù hợp" và được yêu cầu sáp nhập với ngân hàng sound
khác);
• viable, 9 ngân hàng có tỷ lệ vốn giữa -25 và 4 %, sẽ được hưởng hỗ trợ tái cấu trúc vốn;
• unsound, 24 ngân hàng có tỷ lệ vốn dưới -25 %, và 21 ngân hàng trước đây xếp vào loại
B, là loại không được thu hồi và đang được đóng cửa và người gửi tiền đã được chi ra bởi BI.
Theo kế hoạch tám trong số chín ngân hàng phân loại là viable sẽ nhận được vốn từ
chính phủ, một được bầu chọn ở giai đoạn cuối không tham gia chương trình này. Các ngân
hàng đã được yêu cầu trình bày kế hoạch kinh doanh đáng tin cậy để đưa tỷ lệ vốn lên đến 8%
trong vòng ba năm để xem xét các ủy ban bao gồm đại diện của các ngân hàng trung ương, Bộ
Tài chính, IBRA và các quan sát viên độc lập của các cơ quan quốc tế. Cổ đông của họ cũng
được yêu cầu phải bơm ít nhất 20% yêu cầu về vốn của các ngân hàng, trước đầu tháng 6 năm
1999 có 4 ngân hàng đã làm như vậy. Tỷ lệ nợ xấu sẽ được chuyển giao cho đơn vị quản lý tài
sản của IBRA. Chính phủ sẽ nhận được cổ phiếu ưu đãi có quyền biểu quyết hạn chế, mà các
chủ sở hữu ngân hàng ban đầu sẽ có các tùy chọn mua tại một ngày sau đó. Ngoài ra, bảy trong
số các ngân hàng unsound đã được tiếp quản bởi IBRA như mạng lưới chi nhánh rộng lớn của
họ có nghĩa là họ có nguy cơ gián đoạn đáng kể cho hệ thống thanh toán. (Điều này là để bổ
sung tiếp quản thứ tư vào năm 1998.) Một ngân hàng đang được tiếp quản bởi một ngân hàng
25
quốc tế lớn. Mục tiêu cuối cùng là một hệ thống ngân hàng bao gồm 8 -10 ngân hàng vững chắc
với một kết hợp của các ngân hàng tư nhân trong nước, các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng