TIỂU LUẬN: NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG TRƯỚC YÊU CẦU CỦA
SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
ở chỗ, trong nhiều năm, chúng ta đã coi nhẹ và có khuyết điểm trong công tác xây
dựng Đảng"(2). Vì vậy, Đại hội VI đã coi nhiệm vụ "phải xây dựng Đảng ngang tầm
nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng
xã hội chủ nghĩa" là một trong bốn bài học chủ yếu.
Kể từ sau Đại hội VI đến nay, Đảng ta đó tập trung xây dựng Đảng trên cả phương
diện tư tưởng, lý luận lẫn tổ chức. Từ thực tiễn của quá trình lãnh đạo cách mạng,
đặc biệt là của công cuộc đổi mới, Đảng ta ngày càng nhận thức một cách sâu sắc vai
trò lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khi tổng kết quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã
nêu ra những bài học cơ bản, trong đó có bài học vềsự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thực ra, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng nói chung, đối với
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói riêng không phải đến Đại hội VI mới được
đề cập đến mà trái lại, đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin và Hồ
Chí Minh nhắc đến từ lâu, đồng thời được thực tiễn cách mạng thế giới và Việt Nam
chứng minh một cách hết sức hùng hồn.
Lúc sinh thời, C.Mác, Ph.Ăngghen và đặc biệt là V.I.Lênin thường xuyên khẳng định
rằng, trong cuộc đấu tranh giành chính quyền và lãnh đạo nhân dân lao động xây
dựng xã hội mới, giai cấp công nhân không có vũ khí nào quan trọng hơn là tổ chức.
Hình thức tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản. Theo các ông,
nếu không có một Đảng vô sản cách mạng có thể đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn,
biết tập hợp quần chúng thì giai cấp công nhân không thể tiến hành cuộc đấu tranh giai
cấp có ý thức và không thể trở thành giai cấp lãnh đạo quần chúng lao động bị áp bức,
bóc lột lật đổ giai cấp tư sản, cải tạo xã hội theo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Nhờ tiếp thu lý luận Mác - Lênin, ngay từ khi vận động thành lập Đảng, Hồ Chí
Minh đã nhận thấy sự cần thiết phải có Đảng cách mạng và khẳng định Đảng có
vững thì cách mạng mới thành công. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người
khẳng định rằng, muốn làm cách mạng “trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong
thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản
sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội?
Cương lĩnh năm 1991 đã khẳng định: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến
lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác, bằng công tác tuyên
truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của
đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào
hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm
thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên
hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ
của Hiến pháp và pháp luật”(5).
Như vậy, Cương lĩnh năm 1991 đã cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng và
hoàn toàn nhất quán với điều 4 Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Theo đó, phương thức lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở những điểm chủ yếu
sau:
Thứ nhất, Đảng lãnh đạo xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược và bằng các định hướng
về chính sách và chủ trương công tác.
Thứ hai, Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên; bằng cách giới
thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ
quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể.
Thứ ba, Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, bằng tổ
chức kiểm tra.
Thực ra, phương thức lãnh đạo của Đảng đã được trình bày trên đây là kết quả đúc
rút kinh nghiệm hơn nửa thế kỷ lãnh đạo cách mạng của Đảng cả khi Đảng chưa
giành được chính quyền lẫn khi Đảng có chính quyền nhà nước trong tay, cả khi
Đảng lãnh đạo chiến tranh giải phóng dân tộc lẫn lãnh đạo toàn xã hội trong điều
kiện hòa bình đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sự lãnh đạo của Đảng, như chúng ta đều biết, trước hết được thực hiện thông qua
cương lĩnh, chiến lược và bằng các định hướng về đường lối, chủ trương của Đảng,
cũng như thông qua hoạt động chỉ đạo việc thực hiện đường lối, chủ trương đó.
tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội cho
rằng, trong mười năm đó, Đảng ta đã phạm phải nhiều sai lầm trong việc xác định
mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và
quản lý kinh tế(6). Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng, kéo dài về
chủ trương và chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. Đại
hội VI của Đảng đã chỉ rõ: "Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy,
đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy
nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh
hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối
và nguyên tắc của Đảng". "Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế - xã
hội bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác
lãnh đạo của Đảng", do "sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các qui luật
đang hoạt động trong thời kỳ quá độ"(7).
Nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới,
chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Sự lãnh đạo đúng
đắn của Đảng được thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, trong hơn 20 năm qua, Đảng đã đề ra được đường lối đúng đắn, phù hợp với
điều kiện thực tế của nước ta. Đường lối đó từng bước đang được bổ sung, hoàn thiện.
Đường lối đúng đắn là một trong những yếu tố hết sức quan trọng dẫn tới sự thành
công của cách mạng. Thực tế lịch sử của những năm trước và sau đổi mới đã chứng
minh rằng, nếu thiếu đường lối đúng đắn của Đảng lãnh đạo, cách mạng có thể bị
mất phương hướng, thậm chí bị chệch hướng, nhưng đồng thời, nếu thiếu sự linh
hoạt về chính trị, sự nghiệp cách mạng có thể bị mất thời cơ, vận hội hoặc lún sâu
vào nguy cơ. Do ý thức được điều đó, ngay từ sau Đại hội VI, Đảng ta đã tập trung
vào việc hoàn chỉnh đường lối đổi mới, hoạch định những chủ trương, chính sách lớn
nhằm cụ thể hoá đường lối trên từng lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của đất
nước. Có thể nói, đường lối đổi mới là kết quả của sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh lịch sử - cụ thể và điều kiện mới của
nước ta. Đường lối đó phù hợp với mục tiêu và định hướng xã hội chủ nghĩa, xác
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác cán bộ. Người
khẳng định rằng, "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "muôn việc thành công hay
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém". Người thường xuyên căn dặn: Đảng phải coi công
tác huấn luyện, giáo dục, đào tạo là công việc đầu tiên của Đảng. Người viết: "Đảng
phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quí báu. Phải
trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi người có ích cho công việc chung của chúng
ta"(9).
Thực hiện lời căn dặn đó, trong những năm qua, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng công
tác đào tạo, bồi dưỡng và tuyển chọn cán bộ. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc,
Đảng ta đã đào tạo được đội ngũ cán bộ tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách
mạng, hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, sẵn sàng hy sinh vì sự tồn vong
của dân tộc. Đó là một trong những yếu tố quyết định dẫn tới thắng lợi của hai cuộc
kháng chiến vĩ đại.
Tuy nhiên, từ khi đất nước ta hoàn toàn được giải phóng đến nay, do những điều kiện
khách quan có nhiều thay đổi, một bộ phận cán bộ, đảng viên không còn đáp ứng
được những yêu cầu của công cuộc đổi mới. Thêm vào đó, do sự thay đổi cơ chế,
không ít đảng viên đã bị thoái hoá, biến chất trong điều kiện cơ chế thị trường.
Trước tình hình đó, Đại hội lần thứ IX và Đại hội lần thứ X của Đảng đã nêu lên sự
cần thiết phải có cơ chế và chính sách phát hiện, đào tạo, tuyển chọn và bố trí cán bộ;
đồng thời thực hiện tốt khâu quy hoạch và chính sách cán bộ, trọng dụng những
người có đức, có tài. Đó là việc làm vừa dân chủ, công bằng, vừa là yêu cầu đối với
sự lãnh đạo của Đảng và có ảnh hưởng quyết định đến sự sống còn của Đảng. Bởi lẽ,
nếu Đảng không tinh tường phát hiện ra những người có khả năng để bồi dưỡng
thành các cán bộ lãnh đạo, quản lý, nếu không sử dụng cán bộ đúng lúc, đúng sở
trường thì sẽ thiệt hại cho Đảng, cho tổ chức. Trái lại, nếu không có cơ chế tuyển
chọn khách quan, công khai, công tâm thì những người tốt, có năng lực có thể bị loại,
còn những kẻ cơ hội, kém phẩm chất, năng lực yếu có thể chui sâu vào bộ máy lãnh
đạo của Đảng. Kết quả là bộ máy lãnh đạo của Đảng sẽ bị suy yếu và mất sức chiến
đấu. Do đó, công tác tuyển chọn cán bộ phải căn cứ vào nhu cầu về cán bộ, phải dựa
điểm trong công tác tổ chức, lãnh đạo. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung
ương khoá VII đã nhận định: "Tổ chức và kỷ luật của Đảng lỏng lẻo. Hệ thống tổ
chức có khâu trì trệ ách tắc, chưa bảo đảm được sự lãnh đạo thông suốt trên tất cả
các lĩnh vực. Một số tổ chức cơ sở Đảng rệu rã, tê liệt, không giữ được vai trò lãnh
đạo"(13). Trước tình hình đó, Hội nghị đã nêu lên sự cần thiết phải chính đốn Đảng
về tổ chức và khẳng định lại những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Đó là:
"Thực hiện nghiêm ngặt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, trước hết là
nguyên tắc tập trung dân chủ, ngăn chặn và khắc phục tệ vô tổ chức, vô kỷ luật, độc
đoán, chuyên quyền trong Đảng. Tiếp tục mở rộng dân chủ trong Đảng, phát huy
tính tích cực, hoặc chủ động của đảng viên và các tổ chức đảng, đồng thời thực hiện
đúng nguyên tắc: thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, cấp dưới phục
tùng cấp trên, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội toàn quốc và Ban Chấp
hành Trung ương. Trong các cơ quan lãnh đạo, ngoài những nguyên tắc đó còn phải
quán triệt nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách"(14).
Thực hiện chủ trương của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VII
và nhân kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ niệm 70
năm thành lập Đảng, Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII đã thông qua Nghị quyết Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công
tác xây dựng Đảng hiện nay. Hội nghị một lần nữa khẳng định rằng, sự lãnh đạo đúng
đắn và sáng suốt của Đảng trong suốt bảy thập kỷ qua là nhân tố quyết định mọi thắng
lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, Đảng
cần có những biện pháp kiên quyết để sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục củng cố,
chỉnh đốn làm cho Đảng ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị, tư
tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ. Hội nghị cũng đã đề ra một số nhiệm vụ
cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, như tăng cường sự thống
nhất về nhận thức; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận; đổi
mới công tác giáo dục trong Đảng và trong xã hội về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tăng
chiến đấu và vai trò lãnh đạo của mình. Tất nhiên, việc tổng kết, đúc rút những bài
học không phải là công việc đơn giản; trái lại, nó đòi hỏi trình độ trí tuệ cao về lý luận
và khả năng tổng kết thực tiễn. Công tác tổng kết thực tiễn càng khoa học, đúng đắn
bao nhiêu thì sự lãnh đạo của Đảng càng có hiệu quả thiết thực bấy nhiêu. Tuy nhiên,
vấn đề không chỉ là ở chỗ tổng kết, đúc rút những bài học, mặc dù, như trên đã trình
bày, đó là việc làm hết sức cần thiết, mà ở chỗ làm thế nào sửa chữa được những thiếu
sót và yếu kém đã nhận ra. Nói cách khác, điều quan trọng chính là làm thế nào để
đưa những bài học đã được các đại hội Đảng rút ra vào thực tế cuộc sống. Đây chính
là vấn đề đáng quan tâm trong thời gian tới.
Đánh giá một cách tổng quát công tác đổi mới, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua,
Đại hội XI đã chỉ rõ: trong quá trình lãnh đạo toàn diện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã
kiên trì và nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ then chốt về xây dựng Đảng trên cả ba mặt
chính trị, tư tưởng và tổ chức. Các chủ trương, giải pháp về chỉnh đốn Đảng đã kịp
thời giải quyết những vấn đề đặt ra trong công tác xây dựng nội bộ Đảng và nâng cao
vai trò lãnh đạo của Đảng, đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng chung của toàn Đảng,
toàn dân. Những chủ trương và biện pháp mà Đảng đã đề ra vừa mang tính thiết thực,
vừa toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, nên đã tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong các
mặt của công tác xây dựng Đảng.
Tuy nhiên, như Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng đã nhận định, "…Nhìn
chung, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các
cơ quan, tổ chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đặt ra. Tình trạng suy thoái về tư
tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ
nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán
bộ công chức còn diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở đảng bị tê liệt, thiếu sức
chiến đấu và không đủ năng lực lãnh đạo và chỉ đạo giải quyết những vấn đề phức tạp
nảy sinh. Công tác tư tưởng còn nhiều bất cập và thiếu tính thuyết phục, tính chiến
đấu. Công tác lý luận chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề quan trọng trong công
cuộc đổi mới. Công tác tổ chức và cán bộ còn bộc lộ nhiều mặt yếu kém. Chất lượng
và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao”(15).
và chủ trương công tác đúng đắn. Đảng cần làm tốt công tác tuyên truyền, thuyết
phục, vận động, tổ chức kiểm tra và các đảng viên phải gương mẫu trong việc chấp
hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đảng phải giới thiệu được những
đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh
đạo chính quyền và các đoàn thể. Làm tốt những nội dung đó sẽ góp phần quan trọng
vào nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo của Đảng.
Tất nhiên, trong điều kiện lịch sử mới, những nội dung trong phương thức lãnh đạo
cũng cần được đổi mới. Chẳng hạn, Đảng cần có một cương lĩnh mới nhằm bổ sung,
hoàn thiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội đã được Đại hội VII thông qua năm 1991. Trên thực tế, từ thực tiễn phong phú và
những thành tựu đạt được qua gần 20 năm thực hiện Cương lĩnh, Đảng ta đã bổ sung,
hoàn chỉnh nhiều luận điểm của Cương lĩnh, đồng thời đề xuất thêm hàng loạt luận
điểm mới, làm cho nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ngày càng trở nên rõ ràng hơn.
Tuy nhiên, trong chặng đường mới của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, do
những biến đổi to lớn cả ở trong và ngoài nước hiện nay cũng như trong những thập
niên tới, hàng loạt vấn đề mới đã và đang tiếp tục nảy sinh đòi hỏi phải được nghiên
cứu, giải đáp để phục vụ cho sự phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam. Do vậy,
việc xây dựng một Cương lĩnh phát triển đất nước trong giai đoạn mới trên cơ sở kế
thừa và phát triển Cương lĩnh năm 1991 là hết sức cần thiết.
Tương tự như vậy, hiện nay, đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới
với nhiệm vụ cơ bản là nhanh chóng đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng một nước
kém phát triển, có thu nhập thấp, trong điều kiện nền kinh tế đã hội nhập sâu và gắn
kết chặt chẽ với nền kinh tế thế giới và khu vực. Trong giai đoạn mới đó, đất nước
phát triển với thế và lực mới, trong bối cảnh mới, cơ hội nhiều hơn nhưng thách thức
và khó khăn cũng tăng lên gấp bội. Vì vậy, Đảng cần có Chiến lược phát triển kinh
tế – xã hội 2011 – 2020 nhằm định hướng cho sự phát triển của đất nước.
Cùng với việc xây dựng Cương lĩnh và Chiến lược, công tác cán bộ có vai trò cực kỳ
quan trọng. Khi đã có Cương lĩnh và Chiến lược đúng đắn thì sự thành công của việc
phương tiện hữu hiệu để Đảng thực hiện việc giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ
năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong cơ quan lãnh đạo chính quyền và đoàn thể.
Sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo đã tiến hành được hơn hai thập kỷ. Những thành
tựu mà chúng ta thu được là có ý nghĩa lịch sử và vô cùng đáng phấn khởi. Chúng ta
đã bước sang thế kỷ mới với những cơ hội và thách thức mới. Những cơ hội và thách
thức ấy sẽ tạo cho chúng ta những động lực mới trên con đường xây dựng một đất
nước "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Đó là một khả
năng hoàn toàn thực tế. Nhưng khả năng đó có biến thành hiện thực hay không thì
điều đó lại hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo của Đảng.
(*) Phó giáo sư, Tiến sĩ, Viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam,
Tổng biên tập Tạp chí Triết học.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 72.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb Sự
thật, Hà Nội, 1987, tr.123.
(3) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.2. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 267, 268.
(4) Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương. Văn kiện Đảng 1930-1945, t.1. Nxb Sự
thật, Hà Nội, 1977, tr.74.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 21.
(6) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI.
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.19.
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr. 26-27.
(8) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX.
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 82.
(9) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.5. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.273.
(10)Hồ Chí Minh. Sđd.,t.7,tr.335.
(11) Hồ Chí Minh. Sđd., t.12, tr. 510.
quá trình chính trị, xã hội trên tất cả các khâu, từ hoạch định đường lối đến triển khai
tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra và tổng kết thực tiễn… là vấn đề đặc biệt quan
trọng. Điều đó càng thể hiện rõ khi đổi mới là sự nghiệp mới mẻ, nhiều vấn đề nảy
sinh cần có nhận thức mới, giải pháp mới về nguyên tắc, khi những khó khăn xuất
hiện trên con đường tiến tới mục tiêu là khó lường hết được. Chính trong quá trình
ấy, việc dựa vào dân, phát huy tính sáng tạo của nhân dân… là chìa khoá của thành
công. Vì vậy, Văn kiện Đại hội VI của Đảng đã chỉ rõ rằng, trong toàn bộ hoạt động
của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy
quyền làm chủ của nhân dân lao động”(2). Quan điểm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh
giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” và “lấy dân làm gốc” của Đại hội VI đã tạo nên một
động lực mới, một phong trào cách mạng mới cho đất nước.
Trong công cuộc đổi mới, các văn kiện của Đảng đã định ra các phương thức: “Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra”(3). Về lý luận, như vậy là dân chủ. Nhưng trong đời sống xã hội, để thực
sự có dân chủ và triển khai được quyền làm chủ của nhân dân, chúng ta phải xây
dựng Hiến pháp, pháp luật, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa và giáo dục nhân
dân biết thực hiện quyền làm chủ. Hiến pháp, luật pháp dân chủ là một công cụ nhằm
khẳng định, bảo vệ chế độ dân chủ. Hướng dẫn, tổ chức đời sống dân chủ và giáo
dục nhân dân thực hiện quyền làm chủ có vai trò quan trọng trong tổ chức thực tiễn
và phát triển dân chủ. Nhưng yếu tố quan trọng để thực hành dân chủ, tạo điều kiện
thực tế để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là đổi mới hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị là khái niệm được Hội nghị Trung ương 6 khoá VI của Đảng
(3/1989) đưa ra để thay cho khái niệm chuyên chính vô sản đã được dùng phổ biến
trong thời kỳ trước đổi mới. Hệ thống chính trị của xã hội ta là hệ thống các tổ chức
chính trị – xã hội trụ cột của nền chính trị xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thông
qua hệ thống chính trị, nhân dân lao động thực thi quyền lực của mình trong xã hội.
Mục tiêu tổng quát của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị
nước ta là “nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”(4).
đùn đẩy lẫn nhau, không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Ở đây, Đảng là hạt
nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống; Nhà nước có chức năng thể chế hoá, cụ thể hoá và tổ
chức thực hiện đường lối của Đảng, quản lý toàn diện xã hội; Mặt trận Tổ quốc là
“liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân và cá nhân tiêu biểu của các giai cấp
và tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân
dân” nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, phản biện và giám sát xã hội, góp
phần xây dựng Đảng, Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là đổi mới tổ chức và phương thức hoạt
động của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc. Trong đổi mới phương thức hoạt
động của hệ thống chính trị, vấn đề mấu chốt là đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng. Để lãnh đạo đạt kết quả cao, Đảng không chỉ cần có đường lối đúng đắn mà
còn “phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng… để Đảng thật sự là lực lượng
lãnh đạo ở tầm chiến lược, bao quát toàn diện nhưng không rơi vào bao biện làm
thay Nhà nước, phải làm cho Nhà nước mạnh lên, quản lý có hiệu lực, hiệu quả”,
đồng thời làm cho “Mặt trận Tổ quốc… thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã
hội”(7). Phương thức lãnh đạo phù hợp của Đảng trong tình hình hiện nay, theo
chúng tôi, là:
Trước hết, việc xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách phải xuất phát từ thực tế,
tổng hợp được các ý kiến, kinh nghiệm thực tiễn của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Khi đã có nghị quyết phải tuyên truyền, giải thích, thuyết phục mọi người thông suốt,
ý Đảng trở thành ý dân. Trong quá trình thực hiện, Đảng phải theo dõi xem chủ
trương đề ra có đúng không, cần điều chỉnh như thế nào trước khi nhân ra diện rộng.
Người lãnh đạo, tập thể lãnh đạo tài giỏi mấy cũng không thể nghĩ thay, nghĩ hơn được
toàn thể đảng viên và nhân dân. Do đó “biết lãnh đạo”, “cách lãnh đạo cực kỳ tốt”, theo
Hồ Chí Minh, là dựa vào trí tuệ, kinh nghiệm và sức mạnh của nhân dân.
Thứ hai, phải biết cụ thể hoá, vận dụng sáng tạo Nghị quyết của Đảng vào từng cấp,
từng lĩnh vực. Đảng lãnh đạo Nhà nước trước hết là bằng Cương lĩnh, chiến lược và
các định hướng về chính sách và chủ trương công tác lớn. Tổ chức Đảng ở từng cấp,
từng ngành, từng cơ quan phải nắm vững đường lối, quan điểm chung của Đảng, căn
- Trước hết, phải đổi mới hoạt động của Quốc hội. Quốc hội do cử tri cả nước trực
tiếp bầu bằng phương thức bỏ phiếu kín, nên Quốc hội là cơ quan đại biểu ý chí và
đại biểu quyền lực nhân dân cao nhất, là cơ sở lập pháp. Nhiệm vụ trọng yếu của
Quốc hội là lập pháp, đồng thời là hoạt động giám sát đối với tất cả các tổ chức
quyền lực nhà nước, các hành vi của các tổ chức và cá nhân công dân trong xã hội,
đảm bảo cho sự tôn nghiêm của pháp luật được thực thi, quyền bình đẳng trước pháp
luật của tất cả mọi người được tuân thủ. Đổi mới hệ thống chính trị vừa phải đổi mới
nội dung và phương pháp lãnh đạo của Đảng, vừa phải đổi mới tổ chức và hoạt động
của Nhà nước, trong đó có Quốc hội, đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc… Nhà nước là thành phần cốt yếu của chế độ chính trị và hệ thống chính trị;
Quốc hội là cơ quan cốt yếu của Nhà nước, là thiết chế biểu thị đầy đủ, tập trung,
thống nhất quyền lực và sự uỷ quyền của nhân dân. Thực chất của chế độ dân chủ
là chế độ uỷ quyền của dân cho Nhà nước. Thông qua bầu cử, dân trực tiếp lựa chọn,
bầu cử những đại biểu xứng đáng với sự uỷ quyền của mình ở Quốc hội để lập pháp.
Cũng như vậy, nhân dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu hợp thành cơ quan đại diện
cho quyền lực của mình ở địa phương và cơ sở – các Hội đồng nhân dân. Do yêu cầu
của công cuộc đổi mới đang đi vào chiều sâu và trên quy mô lớn, Quốc hội phải tiếp
tục đổi mới ở hai lĩnh vực quan trọng: đó là tổ chức nên một Quốc hội thực sự dân
chủ, thể hiện đúng đắn tính đại diện, đại biểu cho ý chí và quyền lực của dân, tạo ra
một cơ cấu tổ chức sao cho Quốc hội thực sự có khả năng hoạt động lập pháp và
giám sát, một Quốc hội có thực lực, thực quyền để thực thi dân chủ; đồng thời, đó là
một Quốc hội có nội dung, phương pháp hoạt động một cách dân chủ, chủ động,
sáng tạo, tích cực và năng động, thể hiện rõ sức mạnh của dân chủ trong cuộc đấu
tranh chống lại sự phản dân chủ, như vi phạm quyền dân chủ của dân, tập trung quan
liêu, thói tự do vô chính phủ, dân chủ hình thức… Tiêu điểm của các hoạt động dân
chủ ấy là dân chủ hoạt động lập pháp, tạo ra một hệ thống pháp luật dân chủ, tiến bộ,
kiểm tra và giám sát việc thực thi pháp luật trong tất cả các cơ quan công quyền,
trong các tổ chức và cá nhân công dân, thực hiện chức năng của Quốc hội là quyết
định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước. Để đổi mới hai lĩnh vực trên có
hiệu quả, về nhận thức, phải làm cho tư tưởng nhà nước của dân, do dân, vì dân được
và hiệu lực cao. Hiện nay, bộ máy hành chính của nước ta còn quá cồng kềnh, chồng
chéo về chức năng, nhiệm vụ, hiệu lực và hiệu quả hoạt động còn hạn chế. Về nâng
cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính, cần phải xây dựng một đội ngũ công
chức chuyên nghiệp, giỏi nghiệp vụ, có phẩm chất chính trị và đạo đức, thực sự là
“công bộc”, là đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Hiện nay, nhìn chung, đội ngũ
công chức của nước ta còn yếu về nghiệp vụ, một bộ phận không nhỏ thoái hoá về tư
tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống. Trong bộ máy công quyền còn một số phần tử
cơ hội, biến chất vẫn tồn tại, chưa bị phát hiện và loại bỏ. Để có được một đội ngũ
công chức mạnh, trong sạch, cần phải đổi mới cơ chế phát hiện, tuyển chọn, đề bạt
và đãi ngộ, đồng thời phải tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
- Thứ ba, nâng cao trình độ làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực, từ kinh tế,
chính trị và tư tưởng đến các lĩnh vực khác. Đồng thời, phải đổi mới cơ chế để nhân
dân phát huy quyền làm chủ. Hiện nay, việc thực hiện yêu cầu này còn yếu. Nhiều
người dũng cảm đấu tranh chống các biểu hiện mất dân chủ nhưng lại chưa được bảo
vệ, thậm chí còn bị trù dập, chà đạp. Tình hình này đã làm thui chột tinh thần đấu
tranh của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Trong đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, còn phải đổi mớihoạt
động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị theo hướng đa dạng hoá về
hình thức, về chức năng, nhiệm vụ và nêu cao tính thiết thực và hiệu quả, làm tốt
chức năng phản biện, giám sát xã hội. Mặt trận Tổ quốc là tổ chức rộng rãi, mang
tính đại diện rất lớn, có vai trò đoàn kết toàn dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và
nhân dân. Thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội, Mặt trận Tổ quốc sẽ góp phần
quan trọng hàng đầu trong việc tạo ra sự đồng thuận xã hội. Do đó, cần thúc đẩy việc
hoàn thiện cơ chế quản lý các quá trình này. Điều quan trọng hiện nay là các tổ chức
thành viên Mặt trận Tổ quốc phải tránh đượccăn bệnh nhà nước hoá, hành chính
hoá. Vì muốn phản biện thì phải đứng ở một vị trí khác, ở góc nhìn khác với người
có dự án cần phản biện. Một khi hoạt động của Mặt trận Tổ quốc đã bị nhà nước hoá
và hành chính hoá thì họ chỉ có thể làm được công việc chuyển tải các chủ trương,
chính sách của Nhà nước đến dân chúng, chứ không làm được chức năng tạo ra
(*) Tiến sĩ, Chủ nhiệm Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Vinh, Nghệ An.
(1) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 132 – 133.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb
Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.29.