Nghiên cứu triết học
Đề tài: " NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH
ĐẠO CỦA ĐẢNG TRƯỚC YÊU CẦU CỦA
SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC "
NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRƯỚC YÊU CẦU
CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC PHẠM VĂN ĐỨC (*)
Trong bài viết này, tác giả đã luận giải để góp phần làm rõ tầm quan trọng cũng
như tính cấp thiết của nhiệm vụ nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng nhằm
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Theo tác giả, để nâng cao
năng lực lãnh đạo của Đảng, cần chú ý một số yêu cầu sau: 1/Đảng phải xây
dựng được đường lối lãnh đạo đúng đắn, phù hợp; 2/ Thường xuyên chăm lo
công tác xây dựng và bồi dưỡng cán bộ; 3/ Coi trọng những nguyên tắc tổ chức
và phương thức hoạt động của Đảng; 4/ Chú ý tổng kết kinh nghiệm và vận
dụng kinh nghiệm đó để lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi
mới. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị, như xây dựng Cương lĩnh
mới trên cơ sở kế thừa và phát triển Cương lĩnh năm 1991, xây dựng Chiến lược
phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020, tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, phát
Thực ra, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng nói chung, đối
với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói riêng không phải đến Đại hội VI
mới được đề cập đến mà trái lại, đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác –
Lênin và Hồ Chí Minh nhắc đến từ lâu, đồng thời được thực tiễn cách mạng thế
giới và Việt Nam chứng minh một cách hết sức hùng hồn.
Lúc sinh thời, C.Mác, Ph.Ăngghen và đặc biệt là V.I.Lênin thường xuyên khẳng
định rằng, trong cuộc đấu tranh giành chính quyền và lãnh đạo nhân dân lao
động xây dựng xã hội mới, giai cấp công nhân không có vũ khí nào quan trọng
hơn là tổ chức. Hình thức tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân là Đảng Cộng
sản. Theo các ông, nếu không có một Đảng vô sản cách mạng có thể đề ra đường
lối, chủ trương đúng đắn, biết tập hợp quần chúng thì giai cấp công nhân không thể
tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp có ý thức và không thể trở thành giai cấp lãnh đạo
quần chúng lao động bị áp bức, bóc lột lật đổ giai cấp tư sản, cải tạo xã hội theo chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Nhờ tiếp thu lý luận Mác - Lênin, ngay từ khi vận động thành lập Đảng, Hồ Chí
Minh đã nhận thấy sự cần thiết phải có Đảng cách mạng và khẳng định Đảng có
vững thì cách mạng mới thành công. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người
khẳng định rằng, muốn làm cách mạng “trước hết phải có Đảng cách mệnh, để
trong thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và
vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như
người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(3).
Tiếp thu quan điểm đó, ngay từ khi mới thành lập, trong Cương lĩnh đầu tiên của
mình, Đảng ta đã chỉ rõ: "Điều cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng là cần
phải có một Đảng cộng sản có một đường lối chính trị đúng đắn, có kỷ luật tập
trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải trong chiến tranh mà trưởng
thành"(4).
Khi nói đến sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của
cách mạng thì điều đó có nghĩa là thành công hay thất bại của cách mạng phụ
thuộc vào sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn hay sai lầm của Đảng. Điều 4 Hiến
pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Đảng Cộng sản
khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật”(5).
Như vậy, Cương lĩnh năm 1991 đã cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng
và hoàn toàn nhất quán với điều 4 Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Theo đó, phương thức lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở những
điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, Đảng lãnh đạo xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược và bằng các định
hướng về chính sách và chủ trương công tác.
Thứ hai, Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên; bằng cách
giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động
trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể.
Thứ ba, Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, bằng
tổ chức kiểm tra.
Thực ra, phương thức lãnh đạo của Đảng đã được trình bày trên đây là kết quả
đúc rút kinh nghiệm hơn nửa thế kỷ lãnh đạo cách mạng của Đảng cả khi Đảng
chưa giành được chính quyền lẫn khi Đảng có chính quyền nhà nước trong tay,
cả khi Đảng lãnh đạo chiến tranh giải phóng dân tộc lẫn lãnh đạo toàn xã hội
trong điều kiện hòa bình đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sự lãnh đạo của Đảng, như chúng ta đều biết, trước hết được thực hiện thông
qua cương lĩnh, chiến lược và bằng các định hướng về đường lối, chủ trương của
Đảng, cũng như thông qua hoạt động chỉ đạo việc thực hiện đường lối, chủ
trương đó.
Thực tiễn hơn 80 năm hoạt động của Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ
nghĩa trước đây chỉ ra rằng, sự nghiệp giải phóng đất nước và xây dựng chủ
nghĩa xã hội chỉ có thể giành được thắng lợi khi và chỉ khi Đảng đề ra được
cương lĩnh, chiến lược, đường lối và chủ trương đúng đắn; còn khi Đảng phạm
phải sai lầm về cương lĩnh, chiến lược, về đường lối và chủ trương thì cũng là
lúc sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội gặp
phải khó khăn, chịu thất bại hoặc thậm chí bị đổ vỡ.
Thực tiễn hơn nửa thế kỷ lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập và xây
dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã chứng minh vai trò
đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng
trong quản lý kinh tế, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc
của Đảng". "Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế - xã hội bắt
nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác lãnh
đạo của Đảng", do "sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các qui luật
đang hoạt động trong thời kỳ quá độ"(7).
Nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi
mới, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng được thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, trong hơn 20 năm qua, Đảng đã đề ra được đường lối đúng đắn, phù hợp
với điều kiện thực tế của nước ta. Đường lối đó từng bước đang được bổ sung, hoàn
thiện.
Đường lối đúng đắn là một trong những yếu tố hết sức quan trọng dẫn tới sự
thành công của cách mạng. Thực tế lịch sử của những năm trước và sau đổi mới
đã chứng minh rằng, nếu thiếu đường lối đúng đắn của Đảng lãnh đạo, cách
mạng có thể bị mất phương hướng, thậm chí bị chệch hướng, nhưng đồng thời,
nếu thiếu sự linh hoạt về chính trị, sự nghiệp cách mạng có thể bị mất thời cơ,
vận hội hoặc lún sâu vào nguy cơ. Do ý thức được điều đó, ngay từ sau Đại hội
VI, Đảng ta đã tập trung vào việc hoàn chỉnh đường lối đổi mới, hoạch định
những chủ trương, chính sách lớn nhằm cụ thể hoá đường lối trên từng lĩnh vực
hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước. Có thể nói, đường lối đổi mới là kết quả
của sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào
hoàn cảnh lịch sử - cụ thể và điều kiện mới của nước ta. Đường lối đó phù hợp
với mục tiêu và định hướng xã hội chủ nghĩa, xác định rõ những nguyên tắc chỉ
đạo đổi mới, cũng như những hình thức và bước đi phù hợp. Ngay từ Đại hội VI,
Đảng ta đã nhận thấy sự cần thiết phải đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy
kinh tế; mà muốn đổi mới tư duy lý luận thì phải nắm vững, tôn trọng các qui
luật khách quan. Đó cũng chính là một trong bốn bài học đã được Đại hội VI của
Đảng tổng kết.
Kể từ sau Đại hội VI, Đảng ta đặc biệt chú ý công tác lý luận của Đảng. Đảng ta
chung của chúng ta"(9).
Thực hiện lời căn dặn đó, trong những năm qua, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng
công tác đào tạo, bồi dưỡng và tuyển chọn cán bộ. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ
quốc, Đảng ta đã đào tạo được đội ngũ cán bộ tuyệt đối trung thành với lý tưởng
cách mạng, hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, sẵn sàng hy sinh vì sự
tồn vong của dân tộc. Đó là một trong những yếu tố quyết định dẫn tới thắng lợi
của hai cuộc kháng chiến vĩ đại.
Tuy nhiên, từ khi đất nước ta hoàn toàn được giải phóng đến nay, do những điều
kiện khách quan có nhiều thay đổi, một bộ phận cán bộ, đảng viên không còn
đáp ứng được những yêu cầu của công cuộc đổi mới. Thêm vào đó, do sự thay
đổi cơ chế, không ít đảng viên đã bị thoái hoá, biến chất trong điều kiện cơ chế
thị trường.
Trước tình hình đó, Đại hội lần thứ IX và Đại hội lần thứ X của Đảng đã nêu lên
sự cần thiết phải có cơ chế và chính sách phát hiện, đào tạo, tuyển chọn và bố trí
cán bộ; đồng thời thực hiện tốt khâu quy hoạch và chính sách cán bộ, trọng dụng
những người có đức, có tài. Đó là việc làm vừa dân chủ, công bằng, vừa là yêu
cầu đối với sự lãnh đạo của Đảng và có ảnh hưởng quyết định đến sự sống còn
của Đảng. Bởi lẽ, nếu Đảng không tinh tường phát hiện ra những người có khả
năng để bồi dưỡng thành các cán bộ lãnh đạo, quản lý, nếu không sử dụng cán
bộ đúng lúc, đúng sở trường thì sẽ thiệt hại cho Đảng, cho tổ chức. Trái lại, nếu
không có cơ chế tuyển chọn khách quan, công khai, công tâm thì những người
tốt, có năng lực có thể bị loại, còn những kẻ cơ hội, kém phẩm chất, năng lực
yếu có thể chui sâu vào bộ máy lãnh đạo của Đảng. Kết quả là bộ máy lãnh đạo
của Đảng sẽ bị suy yếu và mất sức chiến đấu. Do đó, công tác tuyển chọn cán bộ
phải căn cứ vào nhu cầu về cán bộ, phải dựa trên sự đánh giá chính xác cán bộ,
đồng thời thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quy hoạch và nâng
cao chất lượng cán bộ. Đại hội IX và Đại hội X còn chỉ ra rằng, đánh giá và
tuyển chọn cán bộ phải trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự
tín nhiệm của đảng viên, nhân dân làm thước đo chủ yếu.
Thứ ba, Đảng ta luôn coi trọng việc nâng cao sức chiến đấu dựa trên cơ sở củng
nêu lên sự cần thiết phải chính đốn Đảng về tổ chức và khẳng định lại những
nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Đó là: "Thực hiện nghiêm ngặt các
nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân
chủ, ngăn chặn và khắc phục tệ vô tổ chức, vô kỷ luật, độc đoán, chuyên quyền
trong Đảng. Tiếp tục mở rộng dân chủ trong Đảng, phát huy tính tích cực, hoặc
chủ động của đảng viên và các tổ chức đảng, đồng thời thực hiện đúng nguyên
tắc: thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, cấp dưới phục tùng cấp
trên, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội toàn quốc và Ban Chấp
hành Trung ương. Trong các cơ quan lãnh đạo, ngoài những nguyên tắc đó còn
phải quán triệt nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách"(14).
NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRƯỚC YÊU CẦU
CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
Tiếp theo
Thực hiện chủ trương của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương
khoá VII và nhân kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng, Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã thông qua Nghị quyết Về một số
vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Hội
nghị một lần nữa khẳng định rằng, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của
Đảng trong suốt bảy thập kỷ qua là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của
cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới,
Đảng cần có những biện pháp kiên quyết để sửa chữa các khuyết điểm, tiếp
tục củng cố, chỉnh đốn làm cho Đảng ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc
biệt là về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ. Hội nghị
cũng đã đề ra một số nhiệm vụ cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng
Đảng hiện nay, như tăng cường sự thống nhất về nhận thức; đẩy mạnh công
tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận; đổi mới công tác giáo dục trong
hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Xây dựng Đảng
trong sạch vững mạnh là khâu then chốt, là nhân tố quyết định thắng
lợi của sự nghiệp đổi mới
Những bài học mà các Đại hội đã nêu ra là hết sức cần thiết. Chính những
bài học ấy đã giúp Đảng ta tránh được những sai lầm, vấp váp, đồng thời
nâng cao được sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của mình. Tất nhiên, việc
tổng kết, đúc rút những bài học không phải là công việc đơn giản; trái lại, nó
đòi hỏi trình độ trí tuệ cao về lý luận và khả năng tổng kết thực tiễn. Công
tác tổng kết thực tiễn càng khoa học, đúng đắn bao nhiêu thì sự lãnh đạo của
Đảng càng có hiệu quả thiết thực bấy nhiêu. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là
ở chỗ tổng kết, đúc rút những bài học, mặc dù, như trên đã trình bày, đó là
việc làm hết sức cần thiết, mà ở chỗ làm thế nào sửa chữa được những thiếu
sót và yếu kém đã nhận ra. Nói cách khác, điều quan trọng chính là làm thế
nào để đưa những bài học đã được các đại hội Đảng rút ra vào thực tế cuộc
sống. Đây chính là vấn đề đáng quan tâm trong thời gian tới.
Đánh giá một cách tổng quát công tác đổi mới, chỉnh đốn Đảng trong thời
gian qua, Đại hội XI đã chỉ rõ: trong quá trình lãnh đạo toàn diện công cuộc
đổi mới, Đảng ta đã kiên trì và nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ then chốt về
xây dựng Đảng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức. Các chủ
trương, giải pháp về chỉnh đốn Đảng đã kịp thời giải quyết những vấn đề đặt
ra trong công tác xây dựng nội bộ Đảng và nâng cao vai trò lãnh đạo của
Đảng, đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng chung của toàn Đảng, toàn dân.
Những chủ trương và biện pháp mà Đảng đã đề ra vừa mang tính thiết thực,
vừa toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, nên đã tạo ra sự chuyển biến rõ rệt
trong các mặt của công tác xây dựng Đảng.
Tuy nhiên, như Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng đã nhận định,
"…Nhìn chung, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và
phê bình trong các cơ quan, tổ chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đặt ra.
Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống,
bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham
hội nhập một cách toàn diện của Việt Nam vào khu vực và thế giới, sự đổi
mới và phát triển kinh tế của Việt Nam trong hơn 20 năm qua, phương thức
lãnh đạo của Đảng đã được trình bày trong Cương lĩnh năm 1991 có còn
phù hợp hay không? Ngoài những nội dung của phương thức lãnh đạo đó
mà chúng tôi đã trình bày và phân tích ở trên cần tính đến yếu tố nào?
Chúng tôi cho rằng, phương thức lãnh đạo của Đảng như đã trình bày trong
Cương lĩnh năm 1991 hiện nay vẫn còn có giá trị. Điều đó có nghĩa là, để
lãnh đạo xã hội trong điều kiện mới hiện nay, Đảng cần có cương lĩnh, chiến
lược và các định hướng và chủ trương công tác đúng đắn. Đảng cần làm tốt
công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và các đảng
viên phải gương mẫu trong việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng. Đảng phải giới thiệu được những đảng viên ưu tú có đủ năng
lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và
các đoàn thể. Làm tốt những nội dung đó sẽ góp phần quan trọng vào nâng
cao hiệu quả công tác lãnh đạo của Đảng.
Tất nhiên, trong điều kiện lịch sử mới, những nội dung trong phương thức
lãnh đạo cũng cần được đổi mới. Chẳng hạn, Đảng cần có một cương lĩnh
mới nhằm bổ sung, hoàn thiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được Đại hội VII thông qua năm 1991. Trên
thực tế, từ thực tiễn phong phú và những thành tựu đạt được qua gần 20
năm thực hiện Cương lĩnh, Đảng ta đã bổ sung, hoàn chỉnh nhiều luận điểm
của Cương lĩnh, đồng thời đề xuất thêm hàng loạt luận điểm mới, làm cho
nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ngày càng trở nên rõ ràng hơn.
Tuy nhiên, trong chặng đường mới của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội, do những biến đổi to lớn cả ở trong và ngoài nước hiện nay cũng như
trong những thập niên tới, hàng loạt vấn đề mới đã và đang tiếp tục nảy sinh
đòi hỏi phải được nghiên cứu, giải đáp để phục vụ cho sự phát triển nhanh
và bền vững của Việt Nam. Do vậy, việc xây dựng một Cương lĩnh phát
triển đất nước trong giai đoạn mới trên cơ sở kế thừa và phát triển Cương
Dân chủ là một trong những thành tựu và giá trị của nhân loại; đồng thời
mang tính lịch sử - cụ thể. Một trong những thành tựu của công cuộc đổi
mới về mặt chính trị là dân chủ hóa đời sống xã hội; dân chủ được xem là
mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Phát huy dân chủ là
điều kiện hết sức quan trọng để thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng.
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc của Đảng. Nhưng, để có những
quyết định đúng đắn thì việc phát huy dân chủ là hết sức cần thiết. Dân chủ
trong mối quan hệ với tập trung là điều kiện cần thiết và không thể thiếu
được. Trong mối quan hệ với phương thức lãnh đạo của Đảng, dân chủ vừa
là môi trường, vừa là điều kiện để phát huy khả năng sáng tạo không chỉ của
các đảng viên, mà còn của cả các thành viên trong xã hội trong việc xây
dựng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương
công tác, trong công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm
tra của Đảng. Đồng thời, dân chủ còn là phương tiện hữu hiệu để Đảng thực
hiện việc giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào
hoạt động trong cơ quan lãnh đạo chính quyền và đoàn thể.
Sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo đã tiến hành được hơn hai thập kỷ.
Những thành tựu mà chúng ta thu được là có ý nghĩa lịch sử và vô cùng
đáng phấn khởi. Chúng ta đã bước sang thế kỷ mới với những cơ hội và
thách thức mới. Những cơ hội và thách thức ấy sẽ tạo cho chúng ta những
động lực mới trên con đường xây dựng một đất nước "dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Đó là một khả năng hoàn toàn thực
tế. Nhưng khả năng đó có biến thành hiện thực hay không thì điều đó lại
hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo của Đảng.r
(*) Phó giáo sư, Tiến sĩ, Viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội
Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Triết học.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 72.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ