1
Cung và cân đối lúa gạo cho đồng bằng sông Hồng trong dài hạn
dưới tác động của công nghiệp hóa và nước biển dâng
PGS.TS. Nguyễn Văn Song và CN. Đỗ Thị Diệp
TÓM TẮT
Đất lúa vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đang giảm đi trong những năm gần
đây; đặc biệt là diện tích đất lúa giảm do nước biển dâng (bị nhiễm mặn), do việc
chuyển đổi đất lúa sang mục đích phi nông nghiệp. Sử dụng mô hình phân tích hệ
thống, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra xu hướng biến động của các nguồn lực hiện tại và
cân đối lúa gạo cho ĐBSH đến năm 2030. Nếu không có các giả định về sự thay đổi
của các yếu tố trong mô hình thì đất lúa của ĐBSH sẽ giảm từ 634.600ha năm 2010
xuống còn 510.920ha năm 2030. Theo các kịch bản phát thải CO
2
ở mức thấp, trung
bình, cao thì cân đối lúa gạo và an ninh lương thực ở ĐBSH sẽ ổn định tương ứng ở
năm 2028, 2027, và 2025.
Trong điều kiện tác động đồng thời của các yếu tố đến sản xuất lúa gạo như
diện tích đất lúa giảm đến năm 2030 do ảnh hưởng của nước biển dâng (theo các kịch
bản thấp, trung bình, cao) và các yếu tố làm tăng sản lượng lúa, cân đối lúa gạo và an
ninh lương thực của ĐBSH sẽ giữ vững ở năm 2037, 2035, và 2034 theo các kịch bản
phát thải ở mức thấp, trung bình, cao.
Do đó, để đảm bảo an ninh lúa gạo trong điều kiện bình quân thóc gạo/đầu
người, cung lúa gạo ngày càng giảm, chính quyền ở cấp trung ương và địa phương, các
nhà hoạch định chính sách, các nhà lập kế hoạch và người dân phải có các giải pháp
đồng bộ để giảm bớt và thích ứng với các sự thay đổi trên.
Từ khóa: dân số, đất lúa, công nghiệp hóa, biến đổi khí hậu, cung lúa gạo. 2
1. GIỚI THIỆU
0
2
4
6
8
10
12
14
16
Egypt Vietnam Sur i name Bahamas Argentina Jamaica Mexico Myanmar Dominican
Rep
Guyana
Global result s of Sea level rise on agriculture ext ent
Ảnh hưởng của nước biển dâng đến nông nghiệp của các nước trên thế giới
3
Hình 1: Ảnh hưởng của nước biển dâng đến nông nghiệp của các nước trên thế giới
quan tâm hàng đầu của thế giới, đã có nhiều nghiên cứu và sản xuất lúa gạo, an ninh
lúa gạo và tăng trưởng dân số. Theo báo cáo của FAO, thế giới đã đạt kỉ lục 628 triệu
tấn gạo năm 2005 nhờ giá gạo tăng năm 2004 dẫn đến sự mở rộng diện tích sản xuất
lúa gạo. Châu Á là nơi sản xuất và tiêu thụ khoảng 90% lúa gạo của thế giới. Tổ chức
dân số thế giới trong báo cáo hội thảo (ngày 21 tháng 6 năm 2008) đã chỉ ra rằng, dân
số thế giới hiện ước đạt 6.704,8 triệu người với tốc độ gia tăng rất khó kiểm soát. Cũng
theo dự báo của tổ chức này, đến năm 2042 dân số sẽ đạt mốc 9 tỉ người. Nếu không
có chiến lược hành động cụ thể thì khủng hoảng về lương thực và nước sạch sẽ dẫn
đến xung đột tôn giáo.
Trong nghiên cứu “chính sách lúa gạo của Việt Nam: những cải cách gần đây
và cơ hội trong tương lai” của Chantal Pohl Nielsen trên tạp chí kinh tế châu Á năm
2003 chỉ ra rằng, hạn ngạch xuất khẩu gạo được xem như là công cụ chính sách hạn
chế sản xuất lúa gạo và xuất khẩu gạo của Việt Nam dưới mức tiềm năng.
Jonathan Haughton, 2004, Viện chính sách công, Boston, USA, trong nghiên
cứu “ảnh hưởng và tác động của chính sách lúa gạo đến lương thực và phân phối thu
nhập ở Việt Nam” đã chỉ rõ, 10% thuế xuất khẩu đánh vào lúa gạo sẽ làm giảm sản
xuất, khuyến khích tiêu dùng và giảm xuất khẩu tới 25%. Thuế xuất khẩu do đó cũng
ảnh hưởng tới các hộ khá giả và các hộ ở những khu hẻo lánh, biệt lập, phải mua lúa
gạo và lương thực từ bên ngoài. Các hộ nghèo sẽ được lợi từ chính sách này, tuy nhiên
họ cũng là đối tượng phải gánh chịu những ảnh hưởng tiêu cực này.
Công nghiệp hóa và biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng
và mạnh mẽ trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam dưới các cấp độ ảnh hưởng khác
5
nhau, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Sự gia tăng tốc độ công nghiệp hóa và biến
đổi khí hậu làm giảm diện tích đất nông nghiệp, nhất là khu vực đất lúa phì nhiêu màu
mỡ. Bên cạnh đó, sự giảm sút năng suất và sản lượng lúa sẽ đe dọa an ninh lương thực
quốc gia trong tương lai. Tiến sĩ Trần Thanh Lâm (2009) – giám độc viện tài nguyên
nước và môi trường Nam Á trong nghiên cứu “tác động của biến đổi khí hậu đến tăng
trưởng kinh tế: dự báo và giải pháp” đã chỉ ra rằng: biến đổi khí hậu là mối đe dọa rất
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã mất khoảng 0,4% diện tích đất canh tác, đặc
biệt đất lúa mất với tỷ lệ cao hơn khoảng 1%. Tuy nhiên, với tốc độ công nghiệp hóa
tăng nhanh như hiện nay thì tốc độ mất đất nông nghiệp sẽ không dừng lại ở con số trên.
Kết quả nghiên cứu và dự báo của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
của Liên hợp Quốc (IPPC) và ngân hàng thế giới đã chỉ ra rằng, Việt Nam sẽ là một
trong năm nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Trong 100 năm tới,
nước biến sẽ dâng cao 1m, nhiệt độ tăng 2
0
C. Theo đó, đồng bằng sông Cửu Long có
từ 1,5 đến 2 triệu ha và đồng bằng sông Hồng có từ 0,3 đến 0,5 triệu ha đất nông
nghiệp, trong đó phần lớn là đất lúa sẽ bị ngập hoặc mặn hóa không thể canh tác được.
Biến đổi khí hậu cũng làm gia tăng các thảm họa tự nhiên và giảm năng suất cây trồng
vật nuôi. Cũng theo kết quả nghiên cứu của tổ chức này, nếu nhiệt độ tăng thêm 1
0
C
thì năng suất lúa sẽ giảm 10%, năng suất ngô giảm từ 15 đến 20%, nhu cầu nước sạch
sẽ tăng thêm 10%. Điều này sẽ ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo, đồng thời tạo ra nhiều
khó khăn và thách thức cho vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, lương thực
cho nội tiêu và xuất khẩu trong dài hạn. Trong tương lai, biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng
đến diện tích canh tác lúa nếu như không có biện pháp hành động ngay từ bây giờ.
Mô hình phân tích hệ thống đã được TS. Nguyễn Văn Song sử dụng trong
nghiên cứu “dự báo sự thay đổi của dân số, lao động và diện tích đất canh tác lúa ở
tỉnh Hải Dương đến năm 2020”.
1.3 Mô tả đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Đồng bằng sông Hồng là vùng kinh tế trọng điểm của khu vực phía Bắc Việt
Nam. Trong những năm gần đây, vùng đã tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa
nông nghiệp và phát triển nông thôn với tốc độ khá cao. Trong quá trình đó, diện tích
đất nông nghiệp của vùng đang dần bị giảm xuống, kết hợp với hiện tượng nước biển
dâng đang và sẽ gây ra những sự thay đổi đáng kể trong sản xuất lương thực của vùng.
Một trong những lợi thế của ĐBSH là khí hậu với mùa đông lạnh, đất đai màu
mỡ (80% đất phù sa), hệ thống thủy lợi vào loại tốt nhất (80% diện tích tưới tiêu chủ
8
động, trong đó 60% diện tích có nước tưới phù sa), trình độ áp dụng khoa học công
nghệ trong sản xuất nông nghiệp cao nhất cả nước (tập trung 80% các viện nghiên cứu,
thị trường thuận lợi: gần Trung Quốc, Đông Bắc Á). ĐBSH là tam giác phát triển với
tốc độ đô thị hóa nhanh, do đó có điều kiện tốt để đẩy mạnh phát triển hàng hóa và
dịch vụ sản xuất nông nghiệp cho người dân.
* Khó khăn
Khó khăn và thách thức đặt ra cho ĐBSH là diện tích đất trung bình trên đầu
người thấp nhất cả nước (540 m
2
/người), tình trạng dư thừa lao động, tỷ lệ thiếu việc
làm hơn 10%/năm, quỹ đất cho sản xuất nông nghiệp tiếp tục giảm đi nhanh chóng
(bao gồm cả đất tốt và không tốt), môi trường bị ô nhiễm do phát tiển công nghiệp và
đô thị, thu nhập bình quân của người dân thấp…dẫn đến hạn chế khả năng đầu tư cho
phát triển sản xuất.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
2.2.2 Chọn điểm nghiên cứu
Đồng bằng sông Hồng là vùng kinh tế trọng điểm của phía Bắc Việt Nam.
ĐBSH cung cấp khoảng 20% (tương ứng 6 triệu tấn gạo) mỗi năm cho cả nước. Tuy
nhiên, ĐBSH cũng là vùng chịu ảnh hưởng thứ hai bởi hiện tượng nước biển dâng.
Hơn nữa, trong những năm gần đây, vùng đã tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn với tốc độ cao. Trong quá trình đó, đất nông nghiệp của vùng
bị giảm dần cùng với nước biến dâng đã dẫn đến nhiều thay đổi trong sản xuất lương
thực. Do đó, để ổn định tình hình sản xuất lúa gạo trong điều kiện tiến hành thành
công nghiệp hóa thành công là điều không dễ dàng. Vì những lý do trên, ĐBSH được
chọn làm điểm nghiên cứu của đề tài.
2.2 Phương pháp phân tích
2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu kinh tế
xã hội thông qua mô tả các số liệu thu thập được. Phương pháp này được sử dụng để
phân tích tình hình kinh tế xã hội của vùng, thực trạng sử dụng các nguồn lực như
đất
canh tác lúa, dân số - lao động, sản lượng lúa qua các năm
.10
* Dùng phương pháp chỉ số để phân tích biến động của từng nhân tố xác định
mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành nhân tố và tổng thể. Cụ thể trong đề tài
này chúng tôi sử dụng hệ thống chỉ số để xem xét và phân tích mức độ ảnh hưởng của
các yếu tố tới sản lượng lúa của vùng.
* Dãy số thời gian: Giúp dự báo, dự đoán sự phát triển của hiện tượng trong
tương lai:
- Dự báo theo lượng tăng lên bình quân
Y
k
= y
0
+ k.d
Trong đó: y
k
: Là mức độ kì thứ k kể từ kì gốc
Y
0
: Là mức độ kì gốc
gia tăng dân số của ĐBSH trong dài hạn. Trong nghiên cứu này, mô hình phân tích hệ
thống được sử dụng để liên kết các biến trong dự báo ảnh hưởng của biến đổi khí hậu,
ảnh hưởng của nước biển dâng, sự phát triển công nghiệp hóa và đô thị hóa đến cung
lúa gạo, cân đối lúa gạo trong một chuỗi thời gian. Nghiên cứu sẽ sử dụng các kịch bản
biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam của Bộ Tài nguyên môi trường và
Bộ Nông nghiệp &PTNT để dự báo diện tích đất nông nghiệp bị mất (do nước biển
dâng, hạn hán và ngập lụt), sản lượng thóc gạo giảm sút và các yếu tố khác trong dài
hạn cho ĐBSH.
11
Mô hình phân tích hệ thống là loại mô hình dùng để mô tả và phân tích sự vận
động của một chuỗi sự vật hiện tượng kinh tế - xã hội trong một khoảng thời gian dài.
Chuỗi sự vật hiện tượng trong mô hình có mối quan hệ hữu cơ và ảnh hưởng lẫn nhau
tạo nên một sự tương tác thay đổi có tính chất hệ thống động. Sự phân tích kết quả của
mô hình được gọi là phân tích hệ thống.
Nguồn lực được sử dụng trong phát triển kinh tế - xã hội hết sức đa dạng và
phong phú như đất đai, dân số - lao động, lương thực, tài nguyên thiên nhiên Sự gia
tăng dân số làm diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu người giảm, hay tốc độ
đô thị hoá nhanh sẽ làm giảm diện tích đất canh tác, do đó làm giảm sản lượng lúa Có
thể nói, sự thay đổi của nguồn lực này sẽ có tác động dây chuyền tới các nguồn lực
khác, những nguồn lực đó có mối quan hệ với nhau trong một hệ thống phức tạp.
Trong nghiên cứu này, nguồn lực đất canh tác lúa, dân số - lao động, sản lượng lúa sẽ
được đặt trong một hệ thống và sử dụng mô hình phân tích hệ thống để xây dựng và
phân tích hệ thống đó.
Các yếu tố cấu thành nên mô hình kinh tế động được thể hiện như sau:12
Sử dụng mô hình Cobb - Douglas để mô hình hoá các yếu tố ảnh hưởng đến năng
suất lúa. Mô hình Cobb - Douglas là mô hình được sử dụng rộng rãi trong kinh tế học
vi mô và vĩ mô. Ưu thế của mô hình Cobb - Douglas là thiết lập được mối quan hệ
giữa các yếu tố không cùng độ đo lường, các yếu tố không cùng bản chất đều được
đánh giá đồng thời.
Mô hình Cobb - Douglas có dạng tổng quát như sau:
Y= F
[Z]
= a.Z
1
α1
.Z
2
α2
Z
n
αn
.e
[γD]
Y là biến số phụ thuộc, phản ánh yếu tố kết quả của sự tác động
A là hằng số
Z1, Z2 Zn là các biến độc lập phản ánh nguyên nhân
D là biến giả định mang tính định tính, D nhận giá trị bằng 0 hoặc 1
(1, 2 n là các hệ số của biến số Z), (
γ
là hệ số của D)
Sau khi biến đổi sẽ thiết lập được mối quan hệ giữa biến số phụ thuộc và các biến
độc lập thể hiện ở phương trình hồi quy tương quan sau
LnY= α
3
+α
4
LnX
4
+α
5
LnX
5
+α
6
LnX
6
+α
7
LnX
7
Y: Năng suất lúa (tấn/ha)
(i: hệ số của biến số Xi (i=1,7)
X1: lượng bón phân kali (kg/ha)
X2: lượng bón phân lân (kg/ha)
X3: lượng bón đạm (kg/ha)
X4: Thuốc bảo vệ thực vật (kg/ha)
X5: lao động (ngày người/ha)
X6: giống (kg/ha)
X7: lượng phân chuồng (tấn/ha)
X8: Nhiệt độ (
0
C)
2004 7.400 48,0 35.500
2005 7.340 49,5 36.340
2006 7.325 48,9 35.850
2007 7.207 49,9 35.943
2008 7.400 52,3 38.730
2009 7.440 52,3 38.896
2010 7.514 53,2 39.989
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2011
Sản xuất lúa gạo giữ một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, chiếm
gần 50% giá trị sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản) năm 2003.
Giai đoạn 2000-2010, sản lượng tăng trung bình 9,3% mỗi năm. Đó là kết quả của việc
tăng năng suất (11,14%/năm), mặc dù diện tích gieo trồng giảm (1,41%/năm). Sự gia
tăng sản xuất lúa gạo giữa các vùng trong cả nước có sự khác biệt đáng kể. Tỷ lệ gia
tăng sản lượng lớn nhất ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc, và đồng bằng sông Cửu Long.
Năng suất lúa cao nhất ở Đông Bắc, Tây Bắc, và đồng bằng sông Hồng.
Trải qua thời gian, diện tích và năng suất lúa tiếp tục tăng lên đáng kể. Tổng
hiện tích trồng lúa trong cả nước tăng từ 4,74 triệu ha năm 1970 lên 7,66 triệu ha năm
2000, sau đó giảm xuống 7,51 triệu ha năm 2009. Năng suất lúa không ngừng tăng lên,
từ 19,0 tạ/ha (1970) lên 53,2 tạ/ha (2010). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do
quá trình công nghiệp hóa đô thị hóa đã làm diện tích lúa có nguy cơ giảm xuống. Do
16
đó, mặc dù năng suất lúa tăng do áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nhưng sản
lượng lại có dấu hiệu giảm sút.
Giai đoạn 1990 – 2002, diện tích gieo trồng lúa tăng khoảng 24%. Bên cạnh đó,
diện tích canh tác lúa cũng không ngừng tăng lên trong suốt thời kỳ từ 1990 đến 2000
với tốc độ tăng bình quân 2,4%/năm. Tuy nhiên, xu hướng giảm nhẹ bắt đầu xuất hiện
từ những năm 2000 đến năm 2010, bình quân giảm 1,41%/năm. Trong 9 năm, trong
khi diện tích lúa giảm thì sản lượng lúa vẫn tiếp tục tăng lên nhờ áp dụng các biện
pháp tăng năng suất hợp lý.
của sản lượng lúa nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất là do diện tích gieo trồng lúa giảm
bình quân 4,2%/năm.
Bảng 2: Thực trạng sản xuất lúa gạo vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 1995-2009
Năm
DTGT
(1000 ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
1995 1238,1 42,1 5207,1
2000 1261,0 53,6 6762,6
2001 1251,3 52,8 6605,3
2002 1245,8 55,8 6951,7
2003 1232,7 54,4 6701,5
2004 1210,0 57,2 6926,1
2005 1186,1 53,9 6398,4
2006 1171,2 57,4 6725,2
2007 1158,1 56,1 6500,7
2008 1153,2 58,9 6790,2
2009 1155,4 58,8 6796,3
2010 1150,1 59,2 6803,4
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2011
Năm 2005, tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của ĐBSH là 962.556 nghìn
ha, đất có khả năng nông nghiệp là 764.024ha, trong đó diện tích đất lúa là 631.416ha,
chiếm tới 82,86% diện tích đất có khả năng nông nghiệp. Tuy nhiên, đất nông nghiệp
bình quân trên lao động nông nghiệp thấp và có xu hướng giảm xuống do chuyển đổi
mục đích sử dụng đất sang phát triển các ngành phi nông nghiệp. Hiện tại đất nông
nghiệp bình quân đầu người chỉ xấp xỉ 500 m
2
độ mở của nền kinh tế đạt hơn 90%, cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại với các ngành
kinh tế chủ đạo có khả năng đổi mới và cạnh tranh cao.
Biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ đến Việt Nam do nước biển dâng. ĐBSH
có vị trí tương đối thấp và sẽ bị ngập hơn 1.700 km
2
(11,2%) vào năm 2100. Các tỉnh
như Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng ở vị trí thấp và nằm dọc bờ biển.
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở ĐBSH diễn ra mạnh mẽ trên quy mô
lớn. Điều này làm cho đất chuyên dùng và đất ở tiếp tục tăng lên. Trên thực tế, xu
hướng chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích công nghiệp trong quá trình công
19
nghiệp hóa ngày càng gia tăng. Xu hướng đó phản ánh sự tiến bộ của nền kinh tế. Trên
bình diện quốc gia, trong vòng 10 năm (1989 – 2000), đất chuyên dùng và đất ở tăng
68.510ha mỗi năm. Theo kế hoạch sử dụng đất đến năm 2012, tổng diện tích các loại
đất này lên tới 2637 nghìn ha, chiếm 8% tổng diện tích tự nhiên của cả nước. Do đó,
đến năm 2012 diện tích đất phi nông nghiệp tăng 67,400ha mỗi năm, trong đó hầu hết
được chuyển từ đất nông nghiệp sang.
Bảng 3: Sự thay đổi đất lúa đến năm 2030 do ảnh hưởng của công nghiệp hóa và
nước biển dâng
Chỉ tiêu ĐVT 2010 2020 2030
- Đất lúa 1000ha 634,60
573,20
510,60
- Diện tích gieo trồng 1000ha 1140,64
1013,91
885,06
- Sản lượng lúa 1000 tấn 6717,0
6404,60
6047,1
Nguồn: Kết quả mô hình
Trên thực tế, điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển của ngành sản
xuất lương thực, dịch vụ là sản xuất lúa. Với khu vực phát triển năng động, tốc độ
công nghiệp hoá diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ như đồng bằng sông Hồng thì sự
giảm sút trong sản lượng lúa như vậy là một xu hướng tất yếu . Nhưng xu hướng này
có ảnh hưởng tới an toàn lương thực cho bản thân khu vực hay không? Điều này cần
kết hợp với các biến động của các nhân tố khác trong mô hình để giải đáp câu hỏi trên.
3.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (nước biển dâng) đến sản lượng và an ninh
lúa gạo
3.3.1
Sự thay đổi đất canh tác và cân đối lúa gạo do ảnh hưởng của nước biển dâng
21
Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ làm cho thiên tai ở nước ta ngày càng gia tăng về
số lượng, cường độ và mức độ ảnh hưởng. Theo “kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển
dâng cho Việt Nam” do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện tháng 06/2009 trong
trường hợp nước biển dâng thêm 1m, ở ĐBSH sẽ có 0,3 đến 0,5 triệu ha đất nông
nghiệp bị ngập trong đó chủ yếu là đất lúa. Và cũng theo tài liệu này, kết quả tính toán
theo các kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao đều cho thấy: đến năm 2030 mực
2010 2020 2028 2030
KBG KB1 (+,-) KBG KB1 (+,-) KBG KB1 (+,-) KBG KB1 (+,-)
-
SL lúa 1000 tấn
6717 6699,7
-17,3
6404,6
6202,3
-202,3
6122,6
5754,3
-368,3
6047,1
5634,5
-412,6
-
Đất lúa 1000ha
634,6 632,3 -2,3 573,2 547,8 -25,4 523,2 479,3
-43,9
-
15
-
PP lúa 1000 tấn
6885,7
6885,3
-
0,4
6757,1
6635,7
-
121,4
6520,6
5754,3
-766,3
6135,1
5634,5
6127,2
-278,7
6159,5
5683,3
-476,2 6047,1
5479,5
-567,6
-
Đất lúa 1000ha
634,6 631,4 -3,2 573,2 538,4 -34,95
529,5 472,6 -56,9 510,6 444,2
-66,4
-
BQ thóc/người
Kg
338,9
337,7
115,9
6757,1
6590,7
-181,8
6552,7
5683,3
-869,4 6135,1
5479,5
-655,6
-
CB lúa 1000 tấn
6653,9
6653,9
-147 3881 3124,6
-1300 1281,8
-569,1
6047,1
5322,7
-724,4
-
Đất lúa 1000ha
634,6
630,6
-4
573,2
529,1
-44,1
535,8
467,6
-68,2
510,6
-26,5
-
PP lúa 1000 tấn
6885,7
6884,9
-0,8
6757,1
6545,6
-211,5
6584,2
5626,9
-957,3
6135,1
5322,7
-812,4
1
Với mức báo động trên thì mục tiêu đặt ra không chỉ riêng cho ĐBSH mà đặt ra
cho cả nước là đảm bảo an ninh lương thực bằng việc duy trì diện tích trồng lúa nước
khoảng 3,8 triệu ha, xây dựng các công trình chống lũ cho hệ thống sông Hồng và sông
Thái Bình, tăng cường các dự án trồng rừng phòng hộ ven đê, ven biển, ưu tiên phát
triển các loại giống lúa chịu úng, hạn.
3.3.2 Cân đối lúa gạo trong điều kiện kết hợp ảnh hưởng của các yếu tố
Để xem xét ảnh hưởng của nước biển dâng trong bối cảnh kết hợp đồng thời tất cả
các yếu tố ảnh hưởng trong mô hình như công nghiệp hóa, sự thay đổi năng suất lúa, và tỉ
lệ gia tăng dân số giảm, nghiên cứu sẽ chia thành ba kịch bản như sau:
* Kịch bản 4
: Diện tích đất lúa giảm khoảng 51000ha năm 2030 do nước biển dâng (theo
mức phát thải thấp). Đồng thời đất lúa cũng giảm do công nghiệp hóa khoảng 4.500
ha/năm; hệ số sử dụng đất lúa tăng từ 1,8 lên 1,9 lần; đầu tư thâm canh tăng năng suất lúa
thông qua tăng đầu tư lao động và phân bón; tỷ lệ gia tăng dân số giảm xuống 0,9%; bình
quân thóc/người/năm giảm từ 270kg xuống 240kg.
* Kịch bản 5
: Diện tích đất lúa giảm khoảng 68000ha năm 2030 do nước biển dâng (theo
mức phát thải trung bình); các yếu tố thay đổi khác như trong kịch bản 4.
* Kịch bản 6
: Diện tích đất lúa giảm khoảng 85000ha năm 2030 do nước biển dâng (theo
mức phát thải cao); các yếu tố thay đổi khác như trong kịch bản 4.
Bảng 8: So sánh kết quả kịch bản gốc và kịch bản 4
Chỉ tiêu
ĐVT
2020 2030 2037
KBG KB4 (+,-) KBG KB4 (+,-) KBG KB4 (+,-)
-
3-58,3
466
,
1388
,
7-77,4
-
PP lúa 1000 tấn 6757,1 6684,1
-73,0
6135,1 6129,5
-5,6
5766,2 5173,6
-592,6
-
CB lúa
1000 tấn 3881,0 7275,7
3394,7
87,,9 3280,7
3192,8
0 10,2