Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài
" Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động ở công
ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm "
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
Khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
22
Khoá luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Lao động là một trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và có ý
nghĩa quyết định trong mọi hoạt động của doanh nghiệp với việc sáng tạo và sử
dụng các yếu tố khác của quá trình sản xuất. Lao động có vai trò quyết định đối
với việc nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh và
thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Sử dụng có hiệu quả lực lượng lao
động, khai thác tối đa tiềm năng lao động của mỗi người là một yêu cầu đối với
công tác quản trị lao động. Theo đó, các nhà quản trị lao động có thể khai thác
tối đa tiềm năng lao động của mỗi người để phục vụ lợi ích của bản thân họ cũng
như cho doanh nghiệp và xã hội. Vì vậy, em chọn vấn đề: “ Nâng cao hiệu quả
sử dụng lao động ở công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm ” làm đề tài
khoá luận tốt nghiệp của mình.
Khoá luận gồm 3 phần:
PHẦN 1: GIỚI THIỆU CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ
MAI LÂM.
PHẦN 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA CÔNG
TY TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ MAI LÂM.
PHẦN 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
CỦA CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ MAI LÂM.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
33
- Ông Quy : 70% vốn điều lệ.
- Ông Quế : 30% vốn điều lệ.
Lĩnh vực kinh doanh của công ty là:
- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, công
trình điện và trạm điện đến 35 KV.
- Sản xuất, buôn bán máy móc, thiết bị, vật tư, vật liệu ngành xây dựng, đồ
trang trí nội thất, ngoại thất.
- Sản xuất, buôn bán, sửa chữa, bảo hành ắc quy, đồ điện, điện tử, điện lạnh,
phụ tùng, linh kiện xe máy, ô tô.
- Nuôi trồng, chế biến và buôn bán nông, lâm, thuỷ sản, hải sản.
- Vận tải hàng hoá, vận chuyển hành khách, cho thuê xe.
- Lữ hành nội địa, lữ hành quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách du lịch.
- Kinh doanh nhà nghỉ, nhà hàng ăn uống.
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá.
Sản phẩm chính của công ty: Là các loại Gioăng nẹp cửa kính, khung nhôm
và đệm nắp chai nước ngọt, nước mắm… Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ
Mai Lâm tuy thành lập chưa được bao lâu nhưng đã nhanh chóng tìm được chỗ
đứng của mình trên thị trường sản xuất nhựa PVC, nhựa cao su qua các mặt hàng
chất lượng cao của mình. Để tiện cho khách hàng biết đến công ty một cách
chính xác thì công ty đã đăng ký sản phẩm sản xuất của mình trên trang web:
quangcaosanpham.com.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
55
Khoá luận tốt nghiệp
Qua trang này khách hàng có thể biết được công ty có thể đáp ứng được
yêu cầu của mình không và cũng từ đây tiếng tăm về công ty bay xa hơn.
1.2. Các đặc điểm cơ bản của công ty.
1.2.1. Đặc điểm về sản phẩm và thị trường:
Là công ty TNHH hai thành viên nhưng thực chất công ty TNHH sản xuất
và dịch vụ Mai Lâm thuộc hình thức công ty tư nhân. Là doanh nghiệp có quy
Thị trường kinh doanh tất cả các loại hàng hoá đang bước vào giai đoạn tự
do mở cửa, hàng ngoại lẫn hàng nội đều có thể đáp ứng cùng loại nhu cầu của
khách hàng. Vì vậy, nếu hàng hóa trong nước không đủ sức cạnh tranh thì sự
chiếm lĩnh thị trường của hàng ngoại là không thể tránh khỏi. Ra đời trong giai
đoạn này, công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm phải đối mặt với hai loại
thử thách: một với các doanh nghiệp trong ngành và một với hàng ngoại nhập.
Tuy nhiên từ khi thành lập đến nay công ty luôn luôn nhận được rất nhiều đơn
đặt hàng. Đây là bằng chứng chứng tỏ rằng công ty đã vượt qua được các rào cản
đó. Vì sao? Ta biết rằng hàng ngoại nhập tuy có nhiều ưu thế hơn hàng nội
nhưng nó lại có một nhược điểm lớn về giá cả. Người dân nước ta tuy có tâm lý
thích dùng hàng ngoại nhưng đứng trước sự so sánh giá cả thì họ sẽ chọn hàng
nội rẻ hơn với chất lượng chấp nhận được. Mặt khác, công ty có ưu thế về
nguyên vật liệu và máy móc thiết bị đã làm cho hàng của công ty có thể cạnh
tranh được với hàng ngoài. Công ty sử dụng nguyên liệu là các loại nhựa phế
liệu, ống cao su… những nguyên liệu này tương đối dễ tìm và rất rẻ. Máy móc
thiết bị của công ty cũng tương đối hiện đại.Cùng với đội ngũ lao động lành nghề
đã biến những đồ phế thải thành những sản phẩm hoàn chỉnh về chất lượng có
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
77
Khoá luận tốt nghiệp
thể đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Do đó, với ưu thế giá cả sản phẩm của công ty đã cạnh tranh được với hàng
ngoại và với chất lượng cao hàng của công ty cũng không thua kém gì của đối
thủ cạnh tranh trong nước.
Như vậy, với đặc điểm về sản phẩm và thị trường như trên, công ty
TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm có nhiều thuận lợi và cũng gặp một số khó
khăn trong sản xuất, kinh doanh. Thuận lợi với công ty ở chỗ sản phẩm của công
ty đã chiếm được lòng tin từ phía khách hàng và công ty cũng đang trên đà phát
triển mạnh. Khó khăn ở chỗ công ty phải đối mặt với nhiều cạnh tranh trên thị
trường, đặc biệt là cạnh tranh với các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao. Với
Phòng vật tư
Tổ máy Tổ đóng gói
sản phẩm
Tổ phế
99
Khoá luận tốt nghiệp
Phó giám đốc kỹ thuật: Là người chịu trách nhiệm về kỹ thuật trong công ty.
Toàn bộ các ý tưởng kỹ thuật và triển khai công việc sản xuất mới trong công ty
đều do phó giám đốc kỹ thuật đảm nhận. Do đặc thù sản xuất của công ty là sản
xuất theo đơn đặt hàng nên công việc chỉ đạo công nhân thay máy móc thích
hợp, mẫu mã, chủng loại, kích cỡ… đều do phó giám đốc kỹ thuật điều hành và
chịu trách nhiệm. Phó giám đốc kỹ thuật còn phối hợp với xưởng trưởng nghiên
cứu, thực hiện các vấn đề khó khăn về kỹ thuật trong sản xuất. Ngoài ra ông ta
còn kết hợp với giám đốc soạn thảo các hợp đồng, công văn, dự toán, các tài liệu
liên quan đến công việc máy móc…
- Phòng tài vụ: Gồm có 2 kế toán: Một kế toán văn phòng và một kế toán kho.
Kế toán văn phòng chịu trách nhiệm về toàn bộ sổ sách, chứng từ, kế toán của
công ty.Kế toán kho chịu trách nhiệm về tất cả các công việc liên quan đến xuất
nhập kho . Ngoài công việc liên quan đến sổ sách thì kế toán văn phòng còn làm
nhiều việc khác của thư ký văn phòng như: đánh máy, gửi công văn, giấy tờ,
soạn thảo văn bản… Công ty chưa có kế toán xưởng nên các công việc kế toán ở
xưởng cũng được kế toán kho kiêm nhiệm. Như vậy, kế toán của doanh nghiệp
làm cả việc chuyên môn: ghi chép sổ sách, vào sổ, thống kê, tính toán và nộp
thuế… và còn làm cả việc của nhân viên văn phòng: đánh máy, soạn thảo văn
bản, gửi giấy tờ…
- Phòng vật tư: Gồm có 2 người: 1 trưởng phòng và 1nhân viên.
Phòng có nhiệm vụ đảm bảo toàn bộ vật tư cho hoạt động sản xuất của công
ty. Do công ty sản xuất theo đơn đặt hàng nên cán bộ phụ trách vật tư thường
xuyên phải đi lại rất nhiều để đảm bảo cung cấp đủ vật liệu cho sản xuất.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
được xay và các chất cần thiết khác vào máy trộn cho thật đều. Sản phẩm của
công ty có hai loại màu là đen và trắng nên khâu trộn là khâu quyết định màu
cho sản phẩm. Nếu muốn sản phẩm có màu trắng thì lúc trộn phải cho chất gì,
nếu muốn cho sản phẩm có màu đen thì cho chất gì với các tỉ lệ như thế nào là
do người đứng máy trộn đảm nhận và chịu trách nhiệm.
Người đứng máy phá cho ăn bột: bột sau khi được trộn với các chất cần thiết
khác sẽ được dẫn vào máy này. Tại đây, bột được máy phá các liên kết giữa các
phần tử làm cho tất cả tạo thành một thứ chất đồng nhất. Hỗn hợp bột sau công
đoạn này được đưa sang máy lọc cho chín nhựa.
Người đứng máy lọc cho chín nhựa: Máy này có tác dụng làm cho hỗn hợp
bột thành nhựa chín dưới tác dụng nhiệt. Người đứng máy này cho bột vào máy
và sau đó vận hành máy cho nó nấu chín bột. Và cuối công đoạn này, người đó
phải mang bột nhựa chín sang máy ra Gioăng.
Người đứng máy ra Gioăng: Máy này sẽ biến nhựa chín thành các sợi
Gioăng dài. Mỗi máy có một đầu ra Gioăng và đầu này có nhiều kích cỡ để có
thể phù hợp với yêu cầu từng loại Gioăng.
Hai người cắt và cân Gioăng: Sau khi cho máy chạy ra Gioăng, hai người
này có nhiệm vụ cắt những sợi Gioăng dài thành các bó theo đúng quy định
(0.5 kg). Sau đó mang các bó này sang bộ phận đóng gói.
Tổ đóng gói sản phẩm: Gồm có 15 người trong đó có một người chuyên chịu
trách nhiệm giao hàng. Những người trong tổ này có nhiệm vụ quấn những bó
Gioăng đã cắt thành từng bó gọn gàng và đóng vào bao bì theo từng đơn hàng
của khách. Ở đây, từng loại kích cỡ Gioăng được phân biệt qua các loại dây
buộc. Cụ thể như: Gioăng 3 thì buộc màu xanh ở hai đầu bó còn giữa thì buộc
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
1212
Khoá luận tốt nghiệp
màu vàng, Gioăng 5 thì buộc dây trắng hai đầu, giữa buộc màu đỏ… Như thế thì
khi đóng gói sản phẩm sẽ dễ phân biệt tránh được sự nhầm lẫn và tránh lãng phí
thời gian trong việc tìm kiếm. Người chuyên giao hàng thuộc bộ phận này nhưng
cùng một loại nguyên liệu và cùng một quy trình công nghệ. Chỉ đến lúc cho ra
sản phẩm thì máy mới được thay đổi đầu ra cho phù hợp với yêu cầu đơn hàng.
Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm có một số máy móc thiết bị theo
bảng sau:
Bảng 1.2: Các loại máy móc, thiết bị của công ty.
TT Tên máy TT Tên máy
1 Máy rửa 6 Máy ra Gioăng
2 Máy xay 7 Máy cắt hạt
3 Máy trộn 8 Máy đùn hạt
4 Máy phá cho ăn bột 9 Máy cán
5 Máy lọc
(Nguồn: phòng vật tư công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Công ty đã đầu tư rất nhiều máy móc có giá trị lớn trong những ngày đầu thành
lập công ty. Nhưng do công ty mua máy móc thiết bị thanh lý của công ty khác
đã sử dụng trong thời gian khá lâu nên máy móc đã cũ kỹ. Điều này ảnh hưởng
đến năng suất của máy và năng suất của người lao động trong công ty. Thậm chí
nhiều khi công ty phải nghỉ chờ sửa máy trong trường hợp máy hỏng. Khi đó sẽ
gây ra lãng phí thời gian, chi phí của công ty. Do đó trong thời gian tới công ty
cần phải đầu tư mua những dây chuyền máy móc, thiết bị hiện đại, tiên tiến hơn.
Bảng 1.3: Máy móc, thiết bị trong năm đầu thành lập công ty.
TT Tên máy Đơn giá Số lượng (chiếc) Thành tiền (đồng)
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
1414
Khoá luận tốt nghiệp
(đồng)
1 Máy rửa 1 000 000 1 1 000 000
2 Máy băm 1200 000 1 1 200 000
3 Máy trộn 1500 000 1 1 500 000
4 Máy cắt hạt 2 000 000 1 2 000 000
5 Máy đùn hạt 2500 000 3 7 500 000
ty. Dưới đây là bảng phân loại lao động theo trình độ học vấn của lao động trong
công ty:
Bảng 1.5: Trình độ học vấn của lao động trong công ty.
Trình độ học vấn Số lượng Tỷ trọng
Đại học 02 6.45%
Cao đẳng 04 12.9%
Trung cấp 09 29.03%
Phổ thông 16 51.65%
Tổng số lao động 31 100%
(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Ta có thể biểu diễn trình độ học vấn của lao động công ty qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Trình độ học vấn của lao động trong công ty.
Công ty có nhân viên học vấn cao làm các công việc văn phòng, còn các lao
động có trình độ thấp hơn làm công việc sản xuất trực tiếp tại xưởng. Việc phân
công lao động này rất hợp lý vì sẽ sử dụng hết khả năng và năng lực của người
lao động.
Trên đây, ta thấy lao động của công ty có đặc điểm :họ là những người trẻ tuổi,
họ có khả năng học hỏi kinh nghiệm làm việc… Đây là đặc điểm mang lại lợi thế
cho công ty. Tuy nhiên công ty cũng gặp khó khăn trong việc tìm cách sử dụng
lao động sao cho ngày càng có hiệu quả hơn.
Đặc điểm về lao động sẽ được nghiên cứu kỹ hơn ở phần sau.
1.2.5. Đặc điểm về nguyên vật liệu.
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
1616
Khoá luận tốt nghiệp
Cũng như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác, để sản xuất sản phẩm với
các chủng loại đa dạng thì tương ứng với nó phải có một số lượng lớn các chi
tiết, bộ phận và nguyên vật liệu đa dạng. Hơn nữa, thị trường nguyên vật liệu lại
thường xuyên thay đổi về giá cả và chủng loại. Vì vậy, trong tổng số danh mục
các loại vật tư, nguyên liệu mà công ty phải thường xuyên cập nhật. Với đặc
TT Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007
Năm 2008
(Tạm tính)
1 Doanh thu phát sinh
trong kỳ
1 029 840 1 440 420 2 379 096
2 Chi phí phát sinh 931 620 1 174 224 1 627 344
3 Lợi nhuận trước thuế 98 220 266 196 751 753
4 Thu nhập chịu thuế 98 220 266 196 751 753
5 Thuế thu nhập 28% 28% 28%
6 Thuế phải nộp 27 502 74 535 210 492
7 Lợi nhuận sau thuế 70 718 191 661 541 264
(Nguồn: Phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Nhìn vào bảng kết quả kinh doanh của công ty trong 3 năm qua 2006- 2008
chúng ta thấy rằng công ty kinh doanh rất hiệu quả và có lãi tăng lên rất nhiều
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
1818
Khoá luận tốt nghiệp
qua các năm. Cụ thể, năm 2006 khi mới thành lập và đi vào hoạt động, công ty
mới đạt được 70 718 000 đồng tiền lãi và nộp cho ngân sách nhà nước số tiền là
27 502 000 đồng. Nhưng một năm sau 2007 thì lợi nhuận công ty đã tăng lên gấp
hơn 2.5 lần, đạt tới 191 661 000 đồng. Đây là một kết quả thật đáng vui mừng
cho công ty. Đặc biệt, ước tính đến hết năm 2008 công ty sẽ tạo ra số lợi nhuận
gấp 2.8 lần năm 2007 và gấp 7.6 lần năm 2006. Như vậy, công ty TNHH sản
xuất và dịch vụ Mai Lâm đã chứng tỏ cho mọi người thấy công ty đang làm ăn
rất hiệu quả và đóng góp số tiền thuế không nhỏ cho ngân sách nhà nước.
Sau đây chúng ta đi sâu vào tìm hiểu một bộ phận rất quan trọng trong các bộ
phận cấu thành công ty xem đạt được kết quả kinh doanh tốt như vậy nhưng thực
sự công ty đã quan tâm tới các yếu tố, bộ phận của mình như thế nào. Đó là bộ
phận lao động của công ty- yếu tố quan trọng nhất của mọi tổ chức.
chức mới thực sự là người sử dụng lao động một cách hiệu quả nhất.
Sau đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu các vấn đề trên đối với công ty TNHH sản
xuất và dịch vụ Mai Lâm.
2.1. Phân tích tình hình sử dụng số lượng lao động của công ty TNHH sản
xuất và dịch vụ Mai Lâm trong thời gian qua.
2.1.1. Tình hình biến động về số lượng lao động trong những năm qua.
Sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố nhưng yếu tố quan
trọng và cơ bản nhất vẫn là con người. Con người là tài sản vô giá quyết định
đến sự tồn tại và phát triển của một tổ chức. Nhưng để khai thác, sử dụng có hiệu
quả lao động thì quả không phải dễ dàng mà rất khó khăn, phức tạp. Để có thể sử
dụng có hiệu quả lao động của mình thì trước tiên các tổ chức phải biết được
tổng số lao động của mình là bao nhiêu và tình hình biến động của chúng ra sao.
Trong những năm qua tình hình biến động số lượng lao động của công ty TNHH
sản xuất và dịch vụ Mai Lâm được chỉ ra ở bảng sau:
Bảng 2.1: Tình hình biến động số lượng lao động qua các năm của công ty
TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm.
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Tổng số lao động 15 20 31
Lao động gián tiếp 5 6 7
Lao động trực tiếp 10 14 24
(Nguồn: phòng tài vụ công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai Lâm)
Năm 2006, công ty đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, công ty đã tuyển tổng
cộng là 15 lao động cả trực tiếp và gián tiếp vào làm việc. Trong 15 lao động thì
có 5 lao động làm ở các phòng ban trong công ty: 1kế toán làm phòng tài vụ, 1
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
2121
Khoá luận tốt nghiệp
nhân viên phòng vật tư, 1 giám đốc và 1 phó giám đốc kỹ thuật, 1 xưởng trưởng.
10 lao động còn lại làm trong xưởng sản xuất.
Năm 2007, công ty tuyển thêm 1 nhân viên phòng vật tư, và đồng thời tuyển
Lâm.
Chúng ta tìm hiểu cơ cấu lao động của công ty TNHH sản xuất và dịch vụ Mai
Lâm tháng theo 3 chỉ tiêu là: cơ cấu lao động theo giới tính, cơ cấu lao động theo
độ tuổi và cơ cấu lao động theo tính chất lao động.
Với cơ cấu lao động theo giới tính được thể hiện ở bảng sau:
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
2323
Khoá luận tốt nghiệp
Bảng 2.3: Cơ cấu lao động theo giới tính của công ty TNHH sản xuất và dịch
vụ Mai Lâm.
Đơn vị: Người.
Các bộ phận
Giới tính
Tổng
Nam Nữ
Ban giám đốc 2 0 2
Phòng vật tư 2 0 2
Phòng tài vụ 0 2 2
Xưởng sản xuất
- Tổ phế.
- Tổ máy.
- Tổ đóng gói sản phẩm.
9
1
6
2
16
2
0
14
Số lao động
(người)
Tỉ trọng
(%)
20 – 30
Trong đó:
Kế toán
Công nhân đóng gói sp
Công nhân chọn phế
Công nhân đứng máy
18
2
11
3
2
58.06
6.45
35.48
9.68
6.45
31 – 40
Trong đó:
Xưởng trưởng
Công nhân đứng máy
Cán bộ vật tư
Công nhân đóng gói sp
11
1
4
2